TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
KHOA GIÁO DỤC THỂ CHẤT – QUỐC PHÒNG
TRẦN VĂN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG BÀI TẬP NHẰM
KHẮC PHỤC SAI LẦM THƯỜNG MẮC TRONG KỸ THUẬT
NHẢY CAO KIỂU NẰM NGHIÊNG CHO NỮ HỌC SINH KHỐI 10
TRƯỜNG THPT TRẦN CAO VÂN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
CHUYÊN NGHÀNH: GIÁO DỤC THỂ CHẤT
Giáo viên hướng dẫn
Th.S Nguyễn Thị Bắc
BÌNH ĐỊNH - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu và kết quả trong khoá luận hoàn toàn là trung thực và chưa có ai từng
công bố trong bất kỳ công trình nào.
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Quang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
6
HLV
Huấn luyện viên
7
ĐC
Đối chứng
8
TN
Thực nghiệm
9
D&ĐT
Giáo dục và đào tạo
DANH MỤC VIẾT TẮT CÁC DƠN VỊ ĐO LƯỜNG
1
%
Phần trăm
Bảng 3.2
Bình Định.
Tiêu chuẩn về thành tích (m) và điểm nhảy theo mức
38
độ thực hiện kỹ thuật cho Nữ học sinh khối 10 –
Bảng 3.3
Trường THPT Trần Cao vân, tỉnh Bình Định.
Kết quả quan sát sư phạm những sai lầm thường mắc
40
khi thực hiện kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ”
cho Nữ học sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao
Bảng 3.4
vân, tỉnh Bình Định.(n=60)
Kết quả phỏng vấn sai lầm thường mắc khi thực hiện
41
kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học
sinh khối 10 – Trường THPT Trần Cao vân, tỉnh Bình
Bảng 3.5
Định.(n=20)
Nguyên nhân dẫn đến những sai lầm cơ bản khi thực
Bảng 3.9
nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ( n=20 ).
Tổng hợp so sánh kết quả trước thực nghiệm của 2
52
Bảng 3.10
nhóm (nA=nB=14).
Tổng hợp so sánh kết quả sau thực nghiệm của hai
54
nhóm (nA=nB=14)
Bảng 3.11
So sánh kết quả kiểm tra của nhóm thực nghiệm (A)
56
Bảng 3.12
trước và sau thực nghiệm (n=14)
So sánh kết quả kiểm tra của nhóm đối chứng (B)
57
Bảng 3.13
58
cao của hai nhóm trước và sau thực nghiệm.
Biểu đồ 4 Biểu đồ biểu diễn thành tích bật cao tại chỗ với
58
Biểu đồ 3
bằng 1 tay của hai nhóm trước và sau thực
nghiệm.
Biểu đồ 5 Biểu đồ biểu diễn thành tích nhảy cao kiểu nằm
59
nghiêng của hai nhóm trước và sau thực nghiệm.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐẶT VẤN ĐÊ................................................................................................1
MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.............................................3
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.....................4
1.1 Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất và thể thao trường
học.............................................................................................................4
1.2 Khái niệm và các quan điểm về giảng dạy, huấn luyện kỹ thuật thể dục thể
thao
2.1.6 Phương pháp toán học thống kê..........................................................30
2.2 Đối tượng và tổ chức nghiên cứu..............................................................32
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu.........................................................................32
2.2.2. Khách thể nghiên cứu.........................................................................32
2.2.3. Kế hoạch nghiên cứu..........................................................................32
2.2.4. Địa điểm nghiên cứu..........................................................................32
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU....................................................33
3.1 Thực trạng việc sử dụng bài tập khắc phục sai lầm thường mắc trong kỹ
thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho nữ học sinh khối 10, trường THPT
Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định.........................................................................33
3.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của trường THPT Trần Cao
Vân, tỉnh Bình Định .......................................................................................33
3.1.2 Thực trạng cở sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy môn học Thể dục
chính khoá ở trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định............................34
3.1.3 Thực trạng đội ngũ giáo viên TDTT của trường THPT Trần Cao Vân,
tỉnh Bình Định.................................................................................................35
3.1.4 Thực trạng về phương pháp và chương trình giảng dạy kỹ thuật nhảy
cao kiểu mằm nghiêng cho nữ học sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân,
tỉnh Bình Định.................................................................................................36
3.1.4.1 Về phương pháp giảng dạy..............................................................36
3.1.4.2 Về chương trình giảng dạy..............................................................37
3.1.5 Thực tiễn sai lầm thường mắc và nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong
học kỹ thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ” cho Nữ học sinh khối 10, trường
THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định..............................................................38
3.1.5.1 Kết quả phương pháp quan sát sư phạm..........................................39
3.1.5.2 Kết quả phương pháp phỏng vấn.....................................................41
3.1.5.3 Những nguyên nhân dẫn đến những sai lầm cơ bản khi thực hiện kỹ
thuật nhảy cao kiểu “ nằm nghiêng ”..............................................................42
sự nghiêp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và khẳng định cần phải có chính sách
chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam nhằm phát triển hài hoà về
thể chất, tinh thần, tư duy trí tuệ và đạo đức con người Việt Nam.
Giáo dục thể chất (GDTC) cho học sinh trung học phổ thông (THPT)
luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và nhà nước, cũng như các
chuyên gia giáo dục, các nhà khoa học. Sự quan tâm này là toàn diện ở nhiều
mặt như: Chủ trương, đường lối, đầu tư cơ sở vật chất, xác định nội dung,
chương trình giảng dạy, nghiên cứu các quy luật và đặc điểm phát triển thể
chất của học sinh, để từ đó xây dựng chương trình, kế hoạch GDTC cho phù
hợp.
Trong chương trình Giáo dục thể chất ở trường THPT thì Điền kinh là
một trong những nội dung chính trong trương trình giáo dục thể chất. Điền
kinh là một trong những môn thể thao cơ bản, nó bao gồm nhiều nội dung
như: Đi bộ thể thao, chạy, nhảy và ném đẩy. Tập luyện điền kinh thường
xuyên sẽ làm cho cơ thể có những biến đổi rõ rệt về hình thái và chức năng
của các bộ phận trên cơ thể. Tập Điền kinh rất đơn giản không đòi hỏi sân bãi
dụng cụ phức tạp, người tập có thể tiến hành tập luyện trên mọi địa hình. Do
Điền kinh đơn giản và dễ tập luyện, lại đạt hiệu quả cao nên thu hút được
nhiều người tham gia tập luyện ở mọi lứa tuổi.
Trong môn Điền kinh, Nhảy cao là một nội dung quan trọng, là một
hoạt động tương đối phức tạp, nó đòi hỏi người tập cần nắm vững các yếu
lĩnh kỹ thuật của động tác ngay từ khi mới học, họ còn phải vừa thực hiện vừa
tư duy động tác đã học sao cho những động tác đó trở thành thuần thục, chính
2
xác và nhịp nhàng. Trong môn nhảy cao, người ta chia làm nhiều kỹ thuật
khác nhau như: Kỹ thuật nhảy cao kiểu “bước qua”, kỹ thuật nhảy cao kiểu
“úp bụng”, kỹ thuật nhảy cao kiểu “nằm nghiêng”, kỹ thuật nhảy cao kiểu
“lưng qua xà”.
nữ học sinh khối 10, Trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định. Nhằm
giúp cho học sinh hoàn thiện kỹ thuật một cách chính xác nhất và nâng cao
thành tích môn nhảy cao, cũng như nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
giáo dục thể chất trong nhà trường.
Nhiệm vụ nghiên cứu.
Để đạt được mục đích trên, đề tài giải quyết hai nhiệm vụ sau:
Nhiệm vụ 1: Đánh giá thực trạng sử dụng bài tập sửa chữa sai lầm
trong giảng dạy kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho nữ học sinh khối 10,
trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định.
Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả bài tập nhằm khắc phục
những sai lầm thường mắc trong kỹ thuật nhảy cao kiểu nằm nghiêng cho nữ
học sinh khối 10, trường THPT Trần Cao Vân, tỉnh Bình Định.
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
1.1. Quan điểm của Đảng và nhà nước về giáo dục thể chất và thể
thao trường học.
Nâng cao thể chất và sức khoẻ cho học sinh, sinh viên là một trong
những mục tiêu chiến lược của Đảng, nhà nước, của ngành Giáo dục và Đào
tạo (GD&ĐT) nước ta từ trước đến nay. Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn
diện ở tất cả các bậc học, nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đất nước, đều nhất thiết phải coi trọng công tác giáo dục thể chất trong
trường học.
Xuất phát từ những cơ sở tư tưởng của học thuyết Mác – Lê Nin về con
người và sự phát triển toàn diện con người, về giáo dục thế hệ trẻ trong chế
độ xã hội chủ nghĩa, Đảng và nhà nước ta đã có những quan điểm đúng đắn
và xuyên suốt về giáo dục và đào tạo nói chung và GDTC trong trường học
nói riêng. Từ nguyên lý GDTC Macxit và tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch
thể dục thể thao ngoại khoá…
Luật giáo dục năm (2005), luật thể dục, thể thao (2006) đều nhấn mạnh
giáo dục con người phát triển toàn diện về trí, đức, thể, mỹ trong đó có vai trò
quan trọng của giáo dục thể chất và thể thao trường học. Theo đó, nhiều chủ
trương, chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo và ngành thể dục thể thao đã ban
hành có liên quan đến phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học. [9]
Gần đây nhất, trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 01 tháng 12 năm
2011 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã nhấn mạnh cần
xây dựng và thực hiện “Đề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao
trường học đến năm 2020”.Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người
Việt Nam giai đoạn 2011-2030, trong đó có “Chương trình phát triển thể lực,
tầm vóc bằng giải pháp tăng cường giáo dục thể chất đối với học sinh từ 03
đến 18 tuổi”. Chương trình chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 20112020, giai đoạn 2 từ 2021-2030. Trong một số nội dung hoạt động của
6
chương trình có hoạt động đổi mới giảng dạy thể dục nội khoá và phát triển
thể dục thể thao ngoại khoá. Về thể dục thể thao ngoại khoá: thực hiện 2 tiết
ngoại khoá/tuần ở tất cả các bậc học, cấp học có hướng dẫn của giáo viên
hoặc hướng dẫn viên, giáo viên kiêm nhiệm.
1.2. Khái niệm và các quan điểm về giảng dạy, huấn luyện kỹ thuật
thể dục thể thao [10].
Bất cứ hoạt động vận động nào cũng có một nhiệm vụ vận động, tức là
một mục đích cụ thể nào đó cần đạt được. Ví dụ, mục đích trực tiếp của nhảy
xa là vượt khoảng cách xa nhất định, của nhảy cao là vượt được độ cao nào
đó. Một hành vi vận động thường bao gồm một hệ thống các cử động (hay
động tác). Cách thức thực hiện hành vi vận động - tức là tổ chức các động tác
theo một trình tự và kiểu cách nhất định, trước hết tuỳ thuộc vào nhiệm vụ
vận động và các điều kiện khách quan và chủ quan khi thực hiện. Ví dụ, để
đẩy tạ đi xa hơn phải sắp xếp các động tác khác với khi ném đĩa. Trong nhiều
hệ thống khá phức tạp các động tác có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong hệ
thống đó, không phải tất cả các động tác đó đều quan trọng như nhau. Vì vậy,
trong lý luận và thực hành Giáo dục thể chất người ta thường phân biệt phần
cơ bản của kỹ thuật, khâu chủ yếu của kỹ thuật và các chi tiết kỹ thuật bài tập.
Phần cơ bản của kỹ thuật là phần mà mối quan hệ của các động tác
tương đối ít biến đổi, cần thiết phải có đủ để giải quyết nhiệm vụ vận động.
Trong đó, nếu thiếu hoặc làm sai một động tác nào đó, hoặc mối quan hệ nào
đó thì sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ vận động.
Khâu chính của kỹ thuật là phần quan trọng và có ý nghĩa quyết định
nhất trong kỹ thuật. Ví dụ, giậm nhảy trong nhảy cao, nhảy xa; ra sức cuối
cùng trong ném, đẩy...
Chi tiết kỹ thuật là những phần (yếu tố) thứ yếu của động tác, có thể
thay đổi trong những phạm vi nhất định mà không phá vỡ cơ chế chủ yếu của
8
động tác. Ví dụ, trong nhảy cao, chân lăng có thể co nhiều hay ít. Sự khác
nhau trong chi tiết kỹ thuật chủ yếu phụ thuộc vào những đặc điểm cá nhân
của người học và những điều kiện thực hiện bài tập.
Kỹ thuật càng phù hợp với đặc điểm cá nhân thì càng có khả năng đạt
thành tích cao. Người ta gọi đó là sự cá biệt hoá kỹ thuật, tức là khả năng vận
dụng những đặc điểm về thể lực và chừng nào đó của đặc điểm tâm lý để hình
thành kỹ thuật phù hợp với từng người cụ thể. Thông thường, người học càng
có trình độ cao thì kỹ thuật càng được cá biệt hoá. Vì vậy, bắt chước kỹ thuật
cá nhân của các vận động viên ưu tú một cách mù quáng có thể ảnh hưởng
xấu đến thành tích thể thao.
Kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cấu trúc thành tích hầu
hết của các môn thể thao.
Đối với các môn thể thao sức bền: kỹ thuật bảo đảm cho việc thực hiện
các bài tập thi đấu thu được hiệu qủa cao và tiết kiệm năng lượng.
phải được tiến hành trong suốt quá trình giảng dạy, huấn luyện. Giáo viên,
Huấn luyện viên không được bỏ qua việc giảng dạy các thành phần kỹ thuật
riêng lẻ, khắc phục các sai lầm trong kỹ thuật. Vốn dự trữ kỹ năng của người
học càng nhiều thì việc hoàn thiện kỹ thuật càng có hiệu quả. Vốn dự trữ kỹ
năng vận động tạo nên thông qua áp dụng các bài tập huấn luyện chung và
huấn luyện chuyên môn khác nhau. Điều quan trọng là phải tính đến mối quan
hệ hữu cơ giữa việc phát triển các tố chất thể lực với việc tiếp tục hoàn thiện
kỹ thuật.
Việc đạt được thành tích thể thao ở mức độ đáng kể phụ thuộc vào việc
huấn luyện kỹ thuật và chiến thuật thể thao hợp lý.
Kỹ thuật hoàn thiện đó là tập hợp các cách thức thực hiện động tác thể
thao có hiệu quả nhằm mục đích đạt được thành tích tốt nhất trong quá trình
giảng dạy. Mức độ nắm vững kỹ thuật được thay đổi từ kỹ thuật sơ đẳng của
người mới tập đến kỹ thuật hoàn thiện được hình thành trên cơ sở các quy luật
10
sinh cơ và sinh hoá sẽ cho phép người học thực hiện các động tác và các hoạt
động tiết kiệm hơn và có hiệu quả hơn.
Trong giảng dạy cho học sinh phổ thông, việc giảng dạy và hoàn thiện
kỹ thuật thể thao chiếm một vị trí quan trọng vì trong thời kỳ lứa tuổi của học
sinh này, chức năng của hệ thần kinh trung ương đối với việc hình thành
những đường liên hệ phản xạ có điều kiện vững chắc được nâng cao, hoạt
động của hệ thống tín hiệu thứ hai của con người được đẩy mạnh. Tất cả các
điều kiện đó tạo nên khả năng đặc biệt thuận lợi để hình thành những kỹ năng
kỹ xảo vận động.
Quá trình tiếp thu kỹ thuật thể thao được được chia thành ba giai đoạn
chủ yếu:
1. Giai đoạn học tập ban đầu.
2. Giai đoạn học chuyên sâu.
vận động chuyên biệt do con người sáng tạo ra một cách có ý thức, có chủ
đích phù hợp với các quy luật giáo dục thể chất”.
Các bài tập thể chất trong quá trình huấn luyện thể thao được phân loại
theo các quan điểm khác nhau. Theo các nhà lý luận TDTT như Nôvicốp,
Mátvêép và các nhà khoa học huấn luyện học như PhiLim, Điền Mạnh Cửu...
thì Bài tập thể chất có thể được chia thành 3 loại chính là bài tập thi đấu, bài
tập chuyên môn, và bài tập phát triển chung. Sự phân chia này phải dựa trên
đặc điểm môn chuyên sâu và nhiệm vụ của loại bài tập đó trong giải quyết các
nhiệm vụ chung hoặc từng phần riêng lẻ”.
Cũng theo các nhà khoa học trên thì bài tập thi đấu là loại hình bài tập
mà các động tác của nó có quá trình vận động và có đặc điểm riêng về lượng
vận động phù hợp với yêu cầu thi đấu của môn thể thao chuyên sâu.
Các bài tập chuyên môn lại được chia thành 2 nhóm là:
Các bài tập chuyên môn nhóm 1 và các bài tập chuyên môn nhóm 2.
Trong đó các bài tập nhóm 1 gồm những bài tập có quá trình chuyển động gần
12
giống với bài tập thi đấu nhưng có cường độ vận động thấp hơn song khối
lượng vận động có thể lớn hơn.
Các bài tập nhóm 2 gồm các bài tập có hình thức vận động giống vận
động trong thi đấu, trong đó yêu cầu những nhóm cơ chủ yếu có hoạt động
giống như hoạt động khi thi đấu.
“Các bài tập phát triển chung” là các bài tập được chon ra từ các bài tập
ở các môn thể thao khác có tác dụng phát triển các năng lực nhanh mạnh bền
khéo dẻo linh hoạt của cơ thể người tập. Các bài tập này không hàm chứa yếu
tố của các động tác trong thi đấu môn chuyên sâu.
1.4. Đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh THPT (16-18 tuổi).
Lứa tuổi này cơ thể các em đã phát triển tương đối hoàn chỉnh, các bộ
phận cơ thể vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc độ lớn chậm dần. Chức năng
luyện một số động tác treo chống, mang vác vật nặng mà không làm tổn hại
hoặc không tạo sự phát triển lệch lạc của cơ thể. Cột sống đã ổn định hình
dáng, nhưng vẫn chưa được hoàn thiện, vẫn có thể bị cong vẹo. Cho nên việc
tiếp tục bồi dưỡng tư thế chính xác thông qua hệ thống bài tập như: đi, chạy,
nhảy, thể dục nhịp điệu, thể dục cơ bản… cho các em vẫn hết sức cần thiết và
không thể xem nhẹ.
Riêng đối với các em Nữ, xương xốp hơn các em nam, ống tủy rỗng
hơn, chiều dài xương ngắn hơn, bắp thịt nhỏ hơn và yếu hơn, nên xương của
Nữ không khỏe bằng nam. Đặc biệt xương chậu của nữ to và yếu. Vì thế trong
quá trình GDTC không thể sử dụng các bài tập có khối lượng vận động và
cường độ vận động như Nam mà phải có sự phù hợp với đặc điểm giới tính.
Hệ cơ: Các tổ chức cơ phát triển muộn hơn xương nên cơ co vẫn còn
tương đối yếu, các (cơ bàn tay, ngón tay) phát triển chậm hơn. Các cơ co phát
triển sớm hơn các cơ duỗi, các cơ duỗi của nữ lại càng yếu. Đặc biệt vào tuổi
14
16 các tổ chức mỡ dưới da của nữ phát triển mạnh nên ảnh hưởng đến việc
triển sức mạnh của cơ thể.
Do vậy cần tập những bài tập phát triển sức mạnh để góp phần thúc đẩy
sự phát triển các cơ. Nhưng các bài tập không nên có treo hoặc chống đơn
thuần mà phải là những bài tập kết hợp giữa treo và chống cùng với những bài
tập khắc phục lực đối kháng khác nữa. Tập như vậy vừa phát triển các cơ co,
cơ duỗi vừa giảm nhẹ sức chịu đựng của các cơ khi tập liên tục trong thời
gian dài. Các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả
các loại cơ (to, nhỏ) đều được phát triển. Nhưng đối với nữ cần yêu cầu riêng
biệt, tính chất động tác của nữ cần yêu cầu toàn diện mang tính mềm dẻo nhịp
điệu và khéo léo.
Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn ở lứa tuổi này đang phát triển và đi đến hoàn thiện, buồng
phát từ động cơ học tập đúng đắn và hướng tới việc lựa chọn nghề sau khi học
xong trung học phổ thông. Song hứng thú học tập cũng còn do nhiều động cơ
khác như: giữ lời hứa với bạn, đôi khi do tự ái, hiếu danh. Cho nên giáo viên
cần định hướng cho các em xây dựng động cơ đúng đắn để các em có được
hứng thú bền vững trong học tập nói chung và trong giáo dục thể chất nói
riêng.
Tình cảm: So với học sinh cấp tiểu và trung học cơ sở, học sinh trung
học phổ thông biểu lộ rõ rệt hơn tình cảm gắn bó và yêu quý mái trường mà
các em sắp từ giã đặc biệt đối với những giáo viên giảng dạy các em. Việc
giáo viên gây được thiện cảm và sự tôn trọng là một sự thành công. Điều đó
giúp giáo viên thuận lợi trong quá trình giảng dạy, nó thúc đẩy các em tích
cực, tự giác trong tập luyện và ham thích môn thể dục thể thao. Do vậy, giáo
viên phải là người mẫu mực, công bằng, biết động viên kịp thời và quan tâm
đúng mực với học sinh và tôn trọng kết quả học tập cũng như tình cảm của
học sinh.
16
Trí nhớ: Ở lứa tuổi này hầu như không còn tồn tại việc ghi nhớ máy
móc do các em đã biết ghi nhớ có hệ thống, đảm bảo tính logic, tư duy chặt
chẽ hơn và lĩnh hội được bản chất của vấn đề học tập. Do đặc điểm của trí
nhớ đối với lứa tuổi học sinh trung học phổ thông khá tốt nên giáo viên có thể
sử dụng phương pháp trực quan kết hợp với giảng giải, phân tích sâu sắc các
chi tiết kỹ thuật động tác và vai trò ý nghĩa cũng như phương pháp sử dụng
các phương tiện, phương pháp trong quá trình giáo dục thể chất để các em có
thể tự tập một cách độc lập trong thời gian nhàn rỗi. Các phẩm chất ý chí rõ
ràng hơn và mạnh mẽ hơn học sinh các lứa tuổi trước đó. Các em có thể hoàn
thành được những bài tập khó và đòi hỏi sự khắc phục khó khăn lớn trong tập
luyện.
1.5.