MỤC LỤC
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận và thực tiễn có mối
quan hệ biện chứng với nhau, trong mối quan hệ đó thì thực tiễn quyết định lý
luận, tuy nhiên lý luận cũng có sự tác động mạnh mẽ trở lại thực tiễn: nếu lý
luận đúng đắn thì nó sẽ tác động mạnh mẽ, tích cực đến sự phát triển của thực
tiễn; trong trường hợp ngược lại, nếu lý luận lạc hậu, sai lầm, không khoa học
thì nó sẽ kìm hãm sự phát triển của thực tiễn.
Quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh
vực kinh tế, không phải lúc nào chúng ta cũng nhận thức và vận dụng đúng
quan điểm triết học Mác - Lênin về mối quan hệ giữa lý luận với thực tiễn,
đặc biệt là vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Trong những năm trước đổi
mới, nhất là giai đoạn 1975-1986, đã có lúc chúng ta đề ra những chủ trương,
đường lối không thực sự xuất phát từ thực tiễn nền kinh tế, do vậy những chủ
trương này đã tác động tiêu cực, cản trở sự phát triển của nền kinh tế nước ta.
Trước thực trạng nền sản xuất trì trệ, yếu kém, đời sống nhân dân gặp nhiều
khó khăn,… Đảng ta đã chủ động khắc phục những sai lầm về mặt lý luận,
đồng thời đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, lấy đổi mới kinh tế
làm trọng tâm. Có thể khẳng định rằng, chủ trương đổi mới nói chung, đổi
mới về kinh tế nói riêng chính là một lý luận khoa học xuất phát từ thực tiễn,
phù hợp với thực tiễn đất nước. Do vậy, lý luận này đã có những tác động rất
tích cực đối với thực tiễn nước ta, đặc biệt là trên lĩnh vực kinh tế. Sau gần 30
năm thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế nước ta đã có những thay đổi to
lớn, nước ta đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội và trở thành một
nước có mức thu nhập trung bình, nền sản xuất có bước phát triển quan trọng.
Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta hiện nay cũng đang đặt ra nhiều vấn đề
- “Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một số
vấn đề lý luận và thực tiễn” là cuốn sách do tác giả Phạm Hảo (chủ biên).
4
Cuốn sách đã tập hợp một số bài viết liên quan đến vấn đề lý luận và thực tiễn
về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về phát triển thị trường và
vấn đề gìn giữ các giá trị văn hóa, đạo đức và nâng cao vai trò của Đảng về
quản lý Nhà nước trong quá trình phát triển kinh tế thị trường
- “Cơ sở khoa học của công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam”. Đây là
cuốn sách của tác giả Lê Đăng Doanh do Nxb. Chính trị quốc gia xuất bản.
Tác giả đã đánh giá cơ sở lý luận của quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam,
phân tích những thành tựu, nguyên nhân và bài học của công cuộc đổi mới
kinh tế của đất nước và từ đó gợi ra những vấn đề cần tiếp tục nguyên cứu đổi
mới trong thời gian tới.
- “Tổng kết thực tiễn - một nhiệm vụ trọng yếu của công tác lý luận
hiện nay” của Nguyễn Phú Trọng, Tạp chí Cộng sản số 15, tháng 5 năm
2002.
- “Nguyên tắc mác xít về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn và sự
vận dụng nó trong hoạt động lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay”
là Luận văn thạc sĩ Triết học của Nguyễn Hoàng Việt, Đại học Quốc gia Hà
Nội, năm 2004.
- “Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với việc nâng cao
chất lượng giảng dạy ở trường Chính trị tỉnh (qua thực tế tỉnh Bình Thuận)”
là luận văn thạc sĩ triết học của Nguyễn Thị Thuận Bích, Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, năm 2004.
- Đổi mới tư duy lý luận của Đảng ta của Nguyễn Đức Tài, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005.
- Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong hoạt động lãnh đạo của cán bộ
kinh tế ở nước ta từ năm 1986 đến nay (2014).
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
6
4.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu là làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
về vai trò của lý luận đối với thực tiễn và sự vận dụng quan điểm đó trong quá
trình đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải
pháp nhằm tiếp tục đổi mới lý luận, góp phần giải quyết những vấn đề thực
tiễn đang đặt ra trên lĩnh vực kinh tế.
4. 2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ và hệ thống hóa quan điểm của triết học Mác - Lênin về vai
trò của lý luận đối với thực tiễn.
- Làm rõ sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò
của lý luận đối với thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta từ năm
1986 đến nay.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm đổi mới hơn nữa về mặt lý luận, qua đó
góp phần giải quyết một số vấn đề thực tiễn đang đặt ra trên lĩnh vực kinh tế.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, các văn kiện của Đảng Cộng
sản Việt Nam và các tài liệu, sách báo có liên quan.
- Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp phân tích - tổng hợp, quy
nạp - diễn dịch, kết hợp lịch sử - lôgic, phương pháp so sánh,...
6. Những đóng góp của đề tài
6.1. Về mặt lý luận
Đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn và hệ thống hóa quan điểm triết học Mác
- Lênin về vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
quá trình nhận thức kinh nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm là loại nhận thức
hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật hiện tượng trong tự nhiên, xã hội
hay trong các thí nghiệm khoa học. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là
những tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm có giá trị, có ích trong
những phạm vi nhất định, từ kinh nhiệm mà tiến đến sự khái quát khoa học.
Song, tri thức kinh nghiệm chưa phải là tri thức về bản chất sự vật. Trong tài
liệu chuẩn bị cho “Chống Đuy-rinh”, C. Mác - Ph. Ănghen từng nói: “Tất cả
những ý niệm đều rút ra từ kinh nghiệm, chúng là sự phản ánh của hiện thực,
những sự phản ánh trung thành hoặc méo mó”[31;829].
Tri thức kinh nghiệm bao gồm: tri thức kinh nghiệm thông thường và
tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm thông thường được hình
thành thông qua quá trình sinh hoạt và hoạt động của con người. Nó giúp con
người giải quyết nhanh một số vấn đề cụ thể, đơn giản trong quá trình tương
tác với đối tượng. Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại tri thức thu được từ
quá trình thực nghiệm khoa học. Nó đòi hỏi chủ thể phải tích lũy một lượng
9
tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng như hoạt động khoa học mới
có thể hình thành tri thức khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của
tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận. Hai loại tri
thức trên có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính
phong phú, sinh động của nhận thức kinh nghiệm.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận
là tri thức khái quát tri thức kinh nghiệm. V.I. Lênin nhận xét: “Nếu xét
những sự thật trong chỉnh thể của chúng, trong mối liên hệ của chúng thì sự
thật không những bao giờ cũng “bướng bỉnh”, mà còn là những chứng cứ
chắc chắn chứng minh được. Nếu xét những sự việc nhỏ đó không trong
chỉnh thể của chúng, không trong mối liên hệ của chúng, nếu chúng bị tách
chỗ là cái cụ thể, riêng lẻ, đơn nhất trở thành cái khái quát, phổ biến.
Trong các tác phẩm kinh điển, cả C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin
đều bàn nhiều về vấn đề này. Trong “Bút ký triết học” V.I. Lênin đã viết rằng:
“Ở đây, thật sự và về khách quan có ba vế: 1) giới tự nhiên; 2) nhận thức của
con người, = bộ óc của con người( với tư cách là sản phẩm cao nhất của giới
tự nhiên đó) và 3) hình thức của sự phản ánh giới tự nhiên vào trong nhận
thức của con người; hình thức này chính là những khái niệm, những qui luật,
những phạm trù”[22;193]. Như vậy rõ ràng ở đây có sự đề cập đến lý luận
dưới hình thức là các khái niệm, phạm trù, quy luật. Ông viết: “Con người
không thể nắm được…toàn bộ giới tự nhiên một cách đầy đủ... con người chỉ
có thể đi gần mãi đến đó, bằng cách tạo ra những trừu tượng, những khái
niệm, những quy luật”[22;193]. Lý luận giúp con người nhận thức thế giới
một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn. Không những vậy, V.I. Lênin còn chỉ ra
rằng: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu của nó,
trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu thuẫn của nó, tự
nó và vì nó”[22;227]. Theo ông, nhận thức ở trình độ lý luận phải nắm bắt
khách thể trong sự tồn tại, vận động và phát triển của nó, trong sự tác động
11
qua lại giữa các sự vật, hiện tượng cấu thành chỉnh thể; phải thấy sự vận động
tất yếu nội tại của bản thân sự vật, hiện tượng.
Từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, có thể hiểu: Lý luận là hệ
thống những tri thức được khái quát từ những kinh nghiệm thực tiễn, phản
ánh những mối liên hệ bản chất, những tính qui luật của thế giới hiện thực
khách quan.
Lý luận ra đời theo nhu cầu của thực tiễn và là sự tổng kết thực tiễn. Lý
luận giúp con người nhận thức thế giới một cách đầy đủ hơn, đúng đắn hơn.
Ph. Ăngghen cho rằng, mọi tri thức khoa học của con người suy cho cùng đều
Lý luận có hai chức năng cơ bản đó là: chức năng phản ánh hiện thực
khách quan và chức năng phương pháp luận cho hoạt động thực tiễn. Lý luận
phản ánh hiện thực khách quan bằng những quy luật chung nhất. Theo các
nhà kinh điển: “Hình thức của tính phổ biến trong tự nhiên là quy luật và
không ai nói nhiều đến tính vĩnh viễn của các quy luật tự nhiên như những
nhà khoa học tự nhiên”[31;724]. Tri thức kinh nghiệm cũng như tri thức lý
luận đều phản ánh hiện thực khách quan nhưng ở phạm vi, lĩnh vực và trình
độ khác nhau. Lý luận phản ánh hiện thực khách quan để làm phương pháp
luận nhận thức và cải tạo hiện thực khách quan bằng hoạt động thực tiễn.
Lý luận có các cấp độ khác nhau tùy thuộc vào phạm vi khái quát. Trên
bình diện chung nhất có thể phân chia lý luận thành lý luận của các lĩnh vực,
các khoa học cụ thể (lý luận nghành) và lý luận chung, phổ quát (lý luận triết
học). Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát
triển của một ngành, là cơ sở, là phương pháp luận cho hoạt động của ngành
đó. Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất của con người
về thế giới và con người, là thế giới quan, phương pháp luận nhận thức của
con người. Lý luận triết học không thay thế được lý luận của các khoa học cụ
thể, trái lại phải dựa vào thành tựu của các khoa học cụ thể để khái quát. Đồng
thời, lý luận của các ngành khoa học cụ thể cần tới lý luận triết học với tư
cách là thế giới quan, phương pháp luận.
13
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội thì lĩnh vực kinh tế có vai trò
quyết định đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội. “Kinh tế là hoạt động tạo
ra của cải vật chất, là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi của một chế
độ xã hội; là tổng hòa các quan hệ sản xuất dựa trên một trình độ nhất định
của lực lượng sản xuất, tạo nên kết cấu kinh tế của một xã hội”[44;52]. Lý
luận về kinh tế chính là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát
yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay - kể cả chủ nghĩa duy vật của
Phoi-ơ-bắc - là sự vật, hiện thực, cái cảm giác, chỉ được nhận thức dưới hình
thức khách thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động
cảm giác của con người, là thực tiễn; không được nhận thức về mặt chủ
quan”[29;9]; “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác
nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”[29;12]. Như vậy có thể nói, tất cả các trào
lưu triết học trước Mác đều quan niệm sai lầm hoặc phiến diện về thực tiễn.
Những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã kế thừa những hạt nhân hợp lý
và khắc phục những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết
học thời kì trước, đem lại cho lý luận và thực tiễn một nội dung mới, khác về
chất so với các hệ thống triết học trước đó. Với việc đưa phạm trù thực tiễn
vào lý luận, C. Mác -Ph. Ăngghen đã thực hiện bước chuyển biến cách mạng
trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng:“Mác và Ănghen
đã nói rằng thực tiễn của con người chứng minh sự đúng đắn của lý luận duy
vật về nhận thức và hai ông gọi những ý định không dựa vào thực tiễn đã giải
quyết vấn đề cơ bản của lý luận về nhận thức là “triết học kinh viện” và là
“những điều quái tưởng trong triết học”[21;163]. Trong tác phẩm “Chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán” V.I. Lênin đã nhận xét rằng:
“Quan điểm về đời sống về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản
của lý luận về nhận thức”[21;167]. Thực tiễn đã không những trở thành cơ sở,
mục đích, động lực nhận thức của con người mà còn trở thành tiêu chuẩn
khách quan duy nhất của nhận thức.
15
Như vậy, theo quan điểm Mácxít, thực tiễnlà những hoạt động vật
chất, có tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và
bản thân con người.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người. Nếu con vật
nhau, vận động theo quy luật vốn có, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan
của con người. Tuy nhiên, con người vẫn là chủ thể của hoạt động thực tiễn.
Con người có thể nhận thức, hiểu biết, tuân theo các quy luật của thực tiễn để
hoạt động một cách hiệu quả nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của
cá nhân và xã hội. Mặt khác, thông qua hoạt động thực tiễn mà các giác quan
của con người ngày càng được hoàn thiện, năng lực tư duy logic không ngừng
được củng cố và phát triển, các phương tiện nhận thức ngày càng tinh vi, hiện
đại có tác dụng “nối dài” các giác quan của con người tron việc nhận thức thế
giới. Chẳng hạn, từ công việc điều hành, tổ chức quản lý sản xuất, tính toán
hiệu quả lao động mà đòi hỏi nhà quản lý doanh nghiệp phải có tư duy nhạy
bén, năng động hơn, làm việc khoa học hơn. Hoạt động nghiên cứu khoa học
giúp con người phát minh ra nhiều sáng chế khoa học, máy móc hiện đại,
công nghệ thông tin… đã và đang góp phần làm cho sự nhìn nhận về thế giới
của con người ngày càng trở nên hiệu quả, chính xác và nhanh chóng.
Hoạt động của con người trước hết và đồng thời với hoạt động vật
chất còn có hoạt động tinh thần. Thực tiễn không phải là toàn bộ hoạt động
của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất nhằm cải tạo tự nhiên, xã
hội và con người. Hoạt động vật chất là những hoạt động mà con người dùng
lực lượng vật chất, sử dụng các phương tiện vật chất để tác động vào đối
tượng, làm biến đổi nó theo nhu cầu của con người. Trong hoạt động vật
chất, tính khách quan của đối tượng không mất đi, nhưng con người có thể
biến đổi, chuyển những khả năng khách quan có lợi theo những quy luật vốn
có của nó thành hiện thực cho con người và ngăn chặn những khả năng có
hại đối với cuộc sống của con người. C.Mác từng viết trong tác phẩm “Luận
17
cương về Phoi-ơ-bắc”: “Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính chất thực
tiễn. Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều
mọi thời kì. Các lực lượng vật chất, các phương tiện, công cụ được huy động
để tác động vào tự nhiên đều bị quy định bởi các giai đoạn lịch sử cụ thể. Mặc
dù có thông qua cá nhân, nhưng hoạt động thực tiễn bao giờ cũng được tiến
hành trong các quan hệ xã hội. Các quan hệ đôi, “quan hệ song trùng” mà C.
Mác đề cập một mặt là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên; mặt khác
con người không thể đơn độc tác động vào tự nhiên mà con người phải quan
hệ với con người khi tác động vào tự nhiên.
Bên cạnh đó, mỗi hoạt động của con người chỉ diễn ra trong một giai
đoạn nhất định nào đó. Nó có quá trình hình thành, phát triển và kết thúc hoặc
chuyển hóa sang giai đoạn khác, không có hoạt động thực tiễn nào tồn tại vĩnh
viễn. Do đó, thực tiễn và trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ của
con người làm chủ tự nhiên, xã hội và chính bản thân mình. Vì vậy, về mặt nội
dung và phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội sâu sắc.
Trong thực tiễn con người hoạt động một cách năng động tích cực,
sáng tạo. Hàng triệu năm nay, con nhện, con ong vẫn mãi mãi làm công việc
lặp đi lặp lại… cho dù vô cùng khéo léo. Chỉ có con người - động vật duy
nhất có trí tuệ mới có khả năng sáng tạo và làm phong phú hoạt động của
mình; chỉ có con người mới in dấu ấn của mình vào tự nhiên, cải tạo tự nhiên
và sự cải tạo đó ngày càng tinh vi, hiện đại. Hoạt động thực tiễn trở thành
động lực thúc đẩy con người tìm tòi, phám phá, cải tiến, sáng tạo ra các công
cụ, phương tiện, máy móc để nâng cao năng suất lao động, nối dài khí quan
của con người. Trong quá trình hoạt động thực tiễn, con người biến đổi thế
giới khách quan, đồng thời cũng biến đổi luôn cả chính bản thân mình, phát
triển năng lực khám phá, năng lực trí tuệ, năng lực sáng tạo của mình. Nhờ
đó, con người ngày càng hiểu biết sâu sắc hơn, làm phong phú hơn những tri
thức của mình về tự nhiên, xã hội và bản thân mình. Quá trình hoạt động thực
19
Thứ hai là hoạt động chính trị - xã hội: Là hoạt động của con người
trong các lĩnh vực chính trị - xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các thiết
chế xã hội, quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và tạo
ra những môi trường xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu tranh
giai cấp và cách mạng xã hội. Hoạt động chính trị - xã hội giúp cho con người
có điều kiện để phát huy hết khả năng sáng tạo của mình, góp phần vào sự
phát triển chung của toàn nhân loại. Và nếu không có các dạng hoạt động này
thì sẽ không làm thay đổi các quan hệ xã hội, không thúc đẩy xã hội phát triển
được. Đặc biệt trong hoạt động chính trị - xã hội thì hoạt động đấu tranh giai
cấp là động lực cho sự phát triển của xã hội có giai cấp, thông qua đấu tranh
giai cấp mà xã hội phát triển hơn.
Thứ ba là hoạt động thực nghiệm khoa học: Là một hình thức đặc biệt
của thực tiễn, được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần
giống hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các
quy luật biến đổi và phát triển của đối tượng nghiên cứu. Dạng hoạt động thực
tiễn này ngày càng có vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội, đặc
biệt là trong thời kì cách mạng và công nghệ hiện đại.
Mỗi hình thức hoạt động cơ bản trên đều có chức năng quan trọng khác
nhau, không thể thay thế được cho nhau. Chúng có mối quan hệ biện chứng
với nhau, tác động, thúc đẩy nhau cùng phát triển trong tiến trình phát triển
của thực tiễn xã hội. Trong mối quan hệ đó, quan hệ sản xuất vật chất là hoạt
động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt động khác. Không
có hoạt động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức hoạt động khác.
Các hình thức hoạt động khác suy cho cùng cũng xuất phát từ hoạt động sản
xuất vật chất và phục vụ cho hoạt động sản xuất của con người. Mặt khác,
hoạt động sản xuất vật chất không thể không diễn ra trong các quan hệ xã hội,
không thể không có vai trò của thực nghiệm khoa học.
22
Lênin đã khẳng định: “Phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của
các mặt đối lập”[23;240]. Vì vậy, chúng ta phải xem xét mối quan hệ giữa lý
luận và thực tiễn với tư cách là sự thống nhất của các mặt đối lập để phù hợp
với tinh thần của phép biện chứng duy vật. Thật vậy, thực tiễn và lý luận là
hai mặt đối lập vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn trong cùng một chỉnh thể thực
tiễn. Nói cách khác, thực tiễn và lý luận cũng giống như hoạt động tinh thần
và hoạt động vật chất cùng thống nhất trong lòng của hệ thống chỉnh thể thực
tiễn. Nhưng trong mỗi tiểu hệ thống (ở lĩnh vực hoạt động vật chất hay hoạt
động tinh thần) cũng đều luôn có sự gắn bó, thâm nhập và chuyển hóa giữa
cái vật chất và cái tinh thần, giữa tính chủ quan và tính khách quan. Đó mới là
cách hiểu thực sự biện chứng về sự thống nhất giữa thực tiễn và lý luận. Tuy
nhiên, trong phạm vi của đề tài này, tôi chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu và làm rõ
vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn.
Thực tiễn là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức, của lý luận, đồng
thời là tiêu chuẩn để kiểm tra nhận thức, lý luận. Thực tiễn là nguồn gốc cơ sở
sinh ra lý luận, nếu không có thực tiễn thì không có lý luận. Song lý luận có
tính độc lập tương đối so với thực tiễn, có thể tác động trở lại thực tiễn làm
biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người.
Vai trò của lý luận đối với thực tiễn thể hiện ở những nội dung cơ
bản sau:
Thứ nhất, lý luận hướng dẫn, soi đường, chỉ đạo thực tiễn.
Lý luận như “kim chỉ nam, nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong
công việc thực tế”[35;234-235]. Lý luận có thể dự kiến được sự vận động
trong tương lai, chỉ ra phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn, giúp
cho hoạt động thực tiễn đạt kết quả cao nhất bằng con đường ngắn nhất. Nhờ
có lý luận khoa học mà hoạt động của con người trở nên chủ động, tự giác,
24
cách mạng mới có thể dùng làm ngọn cờ cho phong trào giai cấp của công
nhân được, do đó phải quan tâm phát triển hơn nữa và thực hành lý luận đó,
đồng thời bảo vệ nó, không để cho nó bị xuyên tạc và bị tầm thường hóa. Ông
nêu rõ: “Người ta không thể có một lý luận cách mạng nào ngoài chủ nghĩa
Mác cả, họ càng mau dốc hết tâm sức của mình ra để vận dụng lý luận đó vào
nước Nga, cả về mặt lý luận và thực tiễn, thì thắng lợi của công tác cách mạng
sẽ càng chắc chắn và càng mau chóng”[18;423]. Và: “Thái độ coi thường lý
luận, thái độ lảng tránh quanh co đối với hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa nhất
định làm lợi cho hệ tư tưởng tư sản”[20;462]. Đối với riêng Việt Nam, cùng
với chủ nghĩa Mác - Lênin thì tư tưởng Hồ Chí Minh cũng trở thành một ngọn
cờ lý luận không thể thiếu đã giúp Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo toàn thể
nhân dân giành được độc lập.
Công tác tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản luôn luôn có vai trò
quan trọng đối với việc chỉ đạo thực tiễn, kể từ khi chưa giành được chính
quyền cho đến khi đã giành được chính quyền và thiết lập chế độ xã hội mới.
Từ thực tiễn cách mạng nước Nga những năm từ 1893- 1907 đã giúp V.I.
Lênin thấy rõ sự cần thiết của một lý luận cách mạng đối với phong trào quần
chúng đấu tranh tự giác, có tổ chức và đối với sự hình thành, phát triển của
Đảng dân chủ - xã hội Nga:“Như thế, công tác LÝ LUẬN của họ phải hướng
vào việc nghiên cứu cụ thể hết thảy mọi hình thức của sự đối kháng kinh tế ở
nước Nga, vào việc nghiên cứu những mối liên hệ và sự phát triển lô-gic của
các hình thức đó; công tác lý luận đó phải vạch trần sự đối kháng đó ở bất cứ
chỗ nào mà nó bị lịch sử chính trị, bị đặc điểm của các chế độ pháp lý, bị
những định kiến lý luận sẵn có, che giấu đi. Nó phải vẽ ra được bức tranh trọn
vẹn về hiện thực nước ta, với tính cách là một hệ thống quan hệ sản xuất nhất
định, nó phải chỉ rõ rằng với hệ thống đó thì tất nhiên phải có sự bóc lột và
tước đoạt những người lao động, nó phải vạch ra con đường thoát khỏi hệ
toàn giống như họ hình dung về tư tưởng thuần túy… Họ đều không bao giờ