MÔN NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC MẶT TRẬN VÀ ĐOÀN THỂ
- Câu 1: Trình bày nội dung và phương thức hoạt động của MTTQ VN
xã?
Trong hệ thống bốn cấp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở
có vị trí quan trọng. Các cơ sở xã phường, thị trấn là nơi tuyệt đại bộ phận nhân
dân cư trú sinh sống. Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò rất quan trọng trong việc
tổ chức và vận động nhân dân thực hiện mọi đường lối chủ trương của Đảng, chính
sách pháp luật của Nhà nước. Cơ sở là địa bàn tổ chức thực hiện chương trình phối
hợp thống nhất hành động của Mặt trận, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi nguồn lực phát triển kinh tế - xã
hội, tổ chức cuộc sống ở cộng đồng dân cư.
* Về tổ chức:
a) Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã
Ủy ban Mặt trận xã, phường, thị trấn do Đại hội đại biểu Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
cùng cấp hiệp thương dân chủ cử ra, là cơ quan chấp hành giữa hai kỳ Đại hội, bao
gồm:
- Người đứng đầu các tổ chức thành viên cùng cấp;
- Các trưởng ban Công tác Mặt trận;
- Một số cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn
giáo, người Việt Nam ở nước ngoài;
- Một số chủ tịch công đoàn công ty, nghiệp đoàn, hội lao động đóng trên địa bàn,
đại diện lãnh đạo của một số tổ chức kinh tế tập thể và thành phần kinh tế khác;
- Một số cán bộ chuyên trách và không chuyên trách của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
ở địa phương khóa trước.
- Các cá nhân tiêu biểu là những người có tín nhiệm và khả năng hoạt động thiết
thực đối với nơi và đối tượng họ vận động. Không cấu tạo đại diện các cơ quan nhà
nước ở địa phương như Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Công an, Tư pháp…
Số lượng ủy viên Ủy ban Mặt trận xã, phường, thị trấn do Đại hội Mặt trận Tổ
quốc cấp đó thỏa thuận theo cơ cấu thành phần quy định trong Điều lệ và hướng
dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực tiếp.
Qua thực tiễn và căn cứ vào dự thảo hướng dẫn thực hiện Điều lệ Mặt trận Tổ quốc
b) Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận cấp xã
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận xã, phường, thị trấn (do Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc cấp đó hiệp thương dân chủ cử trong số ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp
xã) là cơ quan đại diện của Ủy ban Mật trận Tổ quốc cấp xã giữa hai kỳ họp của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã.
Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận cấp xã gồm chủ tịch, hai phó chủ tịch và ủy viên
thường trực có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Tổ chức việc chuẩn bị triệu tập và chủ trì các cuộc họp của Ủy ban Mặt trận Tổ
quốc cấp xã.
- Tổ chức thực hiện nghị quyết, chương trình phối hợp thống nhất hành động hằng
năm, 6 tháng của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp mình và các chủ trương công tác
của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên; đường lối chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, các quyết định của Ủy
ban nhân dân có liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc.
- Thường xuyên tập hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân để phản ánh, kiến
nghị với cấp ủy đảng, chính quyền. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp
trên trực tiếp về việc thực hiện chính sách pháp luật ở địa phương.
- Tổ chức thực hiện các cuộc vận động các phong trào thi đua yêu nước trong nhân
dân, các nhiệm vụ Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền, bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; giám sát hoạt động của cơ quan nhà
nước, đại biểu dân cử cán bộ, công chức nhà nước, thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở
cơ sở, tham gia giải quyết khiếu nại tố cáo ở địa phương.
- Giữ mối liên hệ và phối hợp công tác với cơ quan nhà nước và các tổ chức thành
viên cùng cấp.
- Hướng dẫn hoạt động của ban công tác Mặt trận, ban thanh tra nhân dân.
- Hướng dẫn hoạt động của các tổ chức tư vấn cộng tác viên của Ủy ban Mặt trận
Tổ quốc cùng cấp. Ban hành quyết định, quy chế phối hợp công tác và tổ chức thực
hiện các văn bản đó.
trận về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội an ninh, quốc phòng, đối ngoại nhân dân
và chăm lo cải thiện và bảo vệ những lợi ích hợp pháp của nhân dân.
- Phối hợp và thống nhất hành động những việc mà các thành viên hoặc
phần lớn các thành viên đều có trách nhiệm và có lợi ích nhằm huy động sức mạnh
tổng hợp của các tầng lớp nhân dân cùng hành động theo chương trình chung,
mục tiêu chung, tạo ra hiệu quả cao. Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận chủ trì việc
phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên. Căn cứ vào chương trình
công tác trong từng thời gian để xem xét, lựa chọn những việc cần có sự phối hợp
và thống nhất hành động giữa các thành viên hay một số thành viên để đưa ra bàn
bạc, thống nhất mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, thời gian mở cuộc vận
động, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng thành viên. Các thành viên đều có
quyền chủ động đưa ra sáng kiến với Ban Thường trực về những công việc mà thấy
cần có sự phối hợp hành động giữa các thành viên với nhau. Mặt trận cơ sở phải
thực hiện có hiệu quả những phong trào, cuộc vận động chung có tính toàn dân,
toàn quốc hoặc toàn địa phương do Ủy ban Mặt trận cấp trên đề ra.
b) Phối hợp với chính quyền
Sự phối hợp giữa Mặt trận với chính quyền đã được quy định trong các nghị
quyết của Đảng, trong Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,
trong các đạo luật và văn bản pháp quy của Nhà nước, trong Luật Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam. Đây là nhu cầu thiết thân của Mặt trận và của cả chính quyền.
Đối với Mặt trận, đây là phương thức hoạt động quan trọng vì phần lớn
những nhiệm vụ đề ra trong chương trình phối hợp và thống nhất hành động của
Mặt trận có thực hiện được hay không tùy thuộc vào kết quả phối hợp giữa Mặt
trận với chính quyền.
Đối với chính quyền, phối hợp với Mặt trận là biện pháp quan trọng trong
việc kết hợp chức năng quản lý nhà nước với phong trào hành động yêu nước của
quần chúng, phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của toàn dân, làm
cho kỷ cương phép nước và lòng dân gặp nhau, tạo nên sức mạnh của bản thân
Nhà nước trong việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, quản lý xã hội.
hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên, phối hợp với trưởng thôn (làng,
ấp, bản…) để thực hiện các nhiệm vụ:
- Trực tiếp vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, chương trình
hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp.
- Thu thập, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân ở khu dân cư
với cấp ủy đảng với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp xã.
- Động viên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu
dân cử, cán bộ công chức nhà nước.
- Phối hợp thực hiện Pháp lệnh dân chủ và hoạt động tự quản ở cộng đồng
dân cư.
Ban công tác Mặt trận được hình thành ở thôn, làng, ấp, bản, đường phố nơi
mà ở đó có chi bộ hoặc tổ đảng; chi hội Phụ nữ, chi đoàn thanh niên; chi hội nông
dân, chi hội người cao tuổi... Đối với những thôn (làng, ấp, bản) có địa dư rộng, số
hộ dân đông người thì dưới ban công tác Mặt trận có thể hình thành các tổ công tác
Mặt trận, tổ nhân dân tự quản, các tổ ngành nghề, các cộng tác viên...
Ban công tác Mặt trận do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn ra
quyết định thành lập. Nên bố trí một trong những người như bí thư chi bộ, ủy viên
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã (phường, thị trấn) hoặc người có uy tín ở cộng đồng
dân cư, có điều kiện, kinh nghiệm và nhiệt tình hoạt động xã hội làm trưởng ban
công tác Mặt trận. Không bố trí trưởng thôn kiêm trưởng ban công tác Mặt trận.
d) Trực tiếp vận động các nhân sĩ, trí thức tiêu biểu, các chức sắc tôn giáo,
người tiêu biểu trong các dân tộc thiểu số, các công thương gia, những người cao
tuổi, thân nhân người Việt Nam định cư ở nước ngoài…
Ban thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn cần chủ trì
việc phối hợp giữa các tổ chức thành viên và chính quyền cùng cấp trong công tác
tuyên truyền, vận động các thành phần xã hội nói trên với những hình thức và biện
pháp thích hợp như: tiếp xúc cá nhân, hội thảo, tọa đàm, trao đổi ý kiến, vừa vận
trách. Hội nghị đã thông qua Chương trình, Điều lệ, phương hướng hoạt động và
quyết định xuất bản Báo Lao Động và Tạp chí Công Hội đỏ (Sau này, Đại hội V
Công đoàn Việt Nam (tháng 11-1983) đã quyết định lấy ngày 28-7-1929 là ngày kỷ
niệm thành lập Công đoàn Việt Nam).
Sự ra đời công đoàn cách mạnh Việt Nam có ý nghĩa to lớn, đánh dấu sự lớn
mạnh của phong trào công nhân và sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt
Nam.
Tính chất của Công đoàn Việt Nam.
Tính chất là đặc trưng của sự vật nói lên cái này khác với cái kia. Tính chất
của một tổ chức là “đặc điểm riêng” tương đối ổn định của tổ chức, phản ánh thực
tế khách quan về mục tiêu, tôn chỉ của tổ chức khi hình thành và xuyên suốt trong
quá trình phát triển, với các mối quan hệ, các nguyên tắc, phương pháp tổ chức
hoạt động.
Giai cấp công nhân vừa là nguồn gốc vừa là cơ sở xã hội hình thành, tồn tại
và phát triển tổ chức Công đoàn. Bởi công đoàn ra đời là bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, chính đáng của công nhân. Hình thức tổ chức của Công đoàn là liên hiệp
công nhân lao động theo nghề nghiệp (Trade Union) và dựa trên nguyên tắc tự
nguyện…Từ những “đặc điểm riêng đó” đã xác định Công đoàn Việt Nam có hai
tính chất: tính chất quần chúng và tính chất giai cấp của giai cấp công nhân.
Biểu hiện tính chất giai cấp của giai cấp công nhân:
Công đoàn Việt Nam là tổ chức đoàn thể của giai cấp công nhân, ra đời tồn
tại phát triển nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của giai cấp công
nhân.
Công đoàn Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng - đội ngũ tiên phong
của giai cấp công nhân; thực hiện mục tiêu, quán triệt nguyên tắc tổ chức- tập
trung dân chủ, đường lối xây dựng cán bộ của Đảng.
Biểu hiện tính quần chúng:
- Kết nạp CNVC,LĐ vào tổ chức không phân biệt nghề nghiệp, tín ngưỡng,
Vai trò của Công đoàn Việt Nam.
Vai trò của một tổ chức là nói đến sự tác động của tổ chức đó đến tiến trình
phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên các lĩnh vực kinh tế, chính
trị, xã hội và tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại và phát triển. Sự tác động của tổ chức
Công đoàn được dựa trên cơ sở tính chất, vị trí của tổ chức công đoàn thông qua
các hoạt động phong trào cách mạng của quần chúng công nhân lao động. Để các
phong trào hành động cách mạng của quần chúng trước hết công đoàn phải có quá
trình tập hợp, tuyên truyền, hướng dẫn CNVC, LĐ…Đó là vai trò trường học của
Công đoàn. Vai trò của Công đoàn Việt Nam trong các thời kỳ:
- Thời kỳ chưa có chính quyền, Công đoàn có vai trò trường học đấu tranh
giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc.
- Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Công đoàn có vai trò là trường học
Chủ nghĩa xã hội của người lao động: Công đoàn tham gia quản lý sản xuất, quản
lý xí nghiệp…; Tham gia tích cực vào việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hoàn
thiện các chính sách kinh tế…; Giáo dục thái độ lao động mới, giáo dục chính trị,
tư tưởng, pháp luật, văn hóa, lối sống…
Ngày nay trong giai đoạn cách mạng mới, đất nước bước vào thời kỳ CNHHĐH, vai trò của Công đoàn Việt Nam càng ngày phát triển, mở rộng thông qua
phong trào cách mạng của CNVC, LĐ tác động trên các lĩnh vực: - Kinh tế: trong
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Công đoàn tham gia đổi mới cơ chế quản
lý, củng cố nguyên tắc tập trung mở rộng dân chủ, đẩy mạnh hoạt động công đoàn
trong các thành phần kinh tế, đảm bảo kinh tế quốc doanh giữ vai trò then chốt,
chủ đạo…
- Chính trị: Công đoàn là sơi dây chuyền nối tăng cường mối quan hệ mật
thiết giữa Đảng với quần chúng CNVC, LĐ, xây dựng giai cấp công nhân, củng cố
khối liên minh Công, Nông và trí thức, góp phần ổn định chính trị. Văn hóa- xã
hội: Công đoàn tuyên truyền giáo dục CNVC, LĐ chống tiêu cực và tệ nạn xã hội,
xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, nâng cao
trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật, tích cực sáng tạo của CNVC,
viên chức, lao động được bảo đảm như quy định của pháp luật, được áp dụng vào
điều kiện thực tế tại doanh nghiệp và có thể còn được hưởng nhiều quyền lợi cao
hơn các quy định của pháp luật.
Thỏa ước lao động tập thể tạo ra mối quan hệ hài hòa hơn giữa người lao
động và người sử dụng lao động. Thông qua việc thương lượng, ký kết những nội
dung của Thỏa ước lao động tập thể người lao động và người sử dụng lao động
hiểu nhau hơn. Vì vậy, hạn chế được những mâu thuẫn, bất đồng không cần thiết,
tạo điều kiện để người lao động và người sử dụng lao động gắn bó với nhau hơn
trong quan hệ lao động.
Thực hiện tốt Thỏa ước lao động tập thể sẽ tạo ra sự ổn định, hài hòa trong
quan hệ lao động tại doanh nghiệp, tạo cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp. Người sử dụng lao động cũng chính vì thế mà có nhiều thời gian dành cho
việc nghiên cứu thị trường đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường sức cạnh tranh của doanh
nghiệp...
Thỏa ước lao động tập thể là cơ sở, là công cụ có tính pháp lý, là căn cứ để
người lao động và người sử dụng lao động giao kết hợp đồng lao động, đồng thời
là cơ sở, là căn cứ để giải quyết các tranh chấp lao động về lợi ích. Thông qua theo
dõi, quản lý việc thương lượng, ký kết Thỏa ước lao động tập thể của các doanh
nghiệp trong các thành phần kinh tế, Nhà nước có những tài liệu thực tiễn phong
phú cần thiết để điều chỉnh các chế độ chính sách cho phù hợp với điều kiện thực
tế tại doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
- Công đoàn cơ sở thay mặt công nhân, viên chức, lao động ký kết Thỏa ước
lao động tập thể với chủ doanh nghiệp.
Tổ chức công đoàn đại diện tập thể công nhân, viên chức, lao động xây
dựng, thương lượng, ký kết Thỏa ước lao động tập thể với chủ doanh nghiệp.
Thông qua hoạt động này, công đoàn cơ sở sâu sát công nhân lao động hơn, hiểu rõ
hơn hoạt động của doanh nghiệp và các chế độ, chính sách có liên quan đến quyền
và xây dựng nông thôn mới
Trong nền kinh tế ở nước ta, nông dân luôn là lực lượng lao động chủ yếu
trong ngành nông nghiệp, là nguồn nhân lực dồi dào, quan trọng, quyết định sự
thành công trong xây dựng nông thôn mới. Những năm gần đây, nhờ áp dụng
những thành tựu khoa học - kỹ thuật, nông dân đã sản xuất ra nông sản ngày càng
nhiều, chất lượng cao đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
Qua đó, nông dân có điều kiện nâng cao thu nhập, tích lũy vật chất, ổn định cuộc
sống và góp phần làm cho bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc, tạo cơ sở cho việc
chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp.
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn, nông dân còn là nguồn lực to lớn trong
việc tiến hành chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, tiến tới xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý theo hướng: tiếp tục phát triển mạnh nông nghiệp, đồng thời phát
triển mạnh công nghiệp và các hoạt động dịch vụ. Điều này đòi hỏi người lao động
phải mạnh dạn xóa bỏ cách nghĩ, cách làm cũ, thói quen tiểu nông, phải năng động
nắm bắt nhu cầu của thị trường và dự đoán được xu hướng vận động của nó; đồng
thời cũng cần có vốn, kỹ thuật, lao động để thực hiện bước chuyển đổi.
Ngoài ra, nông dân cũng chính là người trực tiếp ứng dụng những thành tựu
khoa học - kỹ thuật và công nghệ vào trong sản xuất, tăng quy mô tạo ra một khối
lượng hàng hóa lớn, đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển của đất nước.
Hai là, nông dân là người trực tiếp xây dựng, giữ gìn và bảo vệ kết cấu hạ
tầng nông thôn
Xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông bê tông, nhựa hóa nông thôn nối liền
thôn, xóm, ấp liên xã là một nội dung trong xây dựng nông thôn mới. Điều đó đạt
được nhanh chóng khi người nông dân nhận thức được tầm quan trọng của xây
dựng đường sá trong phát triển kinh tế - xã hội, tự giác đóng góp xây dựng cùng
với sự giúp đỡ của Nhà nước, của địa phương. Đất nước ta còn nghèo, Nhà nước
còn phải tập trung vào những dự án lớn như: đường quốc lộ, những cây cầu lớn,
những nhà máy thủy, nhiệt điện v.v… Những việc xây dựng đường làng, đường
liên thôn, liên xã phải chủ yếu do nhân dân đóng góp cùng với sự hỗ trợ của Nhà
nước. Xây dựng đã khó nhưng bảo vệ, tôn tạo hệ thống đường sá càng quan trọng
nhân dân tìm cách thực hiện. Dân ủng hộ nhiều chúng ta thắng lợi nhiều, dân ủng
hộ ít chúng ta thắng lợi ít. Dân không ủng hộ chúng ta sẽ thất bại. Trong xây dựng
quy hoạch xây dựng nông thôn mới cũng cần phải tham khảo ý kiến của bà con
nông dân; cần quy hoạch ra sao để nông thôn mới vừa kế thừa được truyền thống
dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố hiện đại, thuận tiện cho cuộc sống và sản xuất
của nông dân.
Bốn là, nông dân là những người trực tiếp tham gia đóng góp xây dựng
Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội
Cần phải tuyên truyền, vận động, giác ngộ để nhiều nông dân phấn đấu trở
thành đảng viên làm cho lực lượng đảng viên nông thôn ngày càng đông đảo.
Người nông dân phải tích cực tham gia đóng góp ý kiến cho đảng bộ, chính quyền
và các đoàn thể chính trị xã hội-nơi mình cư trú; tích cực tham gia cuộc đấu tranh
chống tham nhũng, tiêu cực làm cho Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.
Nông dân phải tích cực tham gia đóng góp ý kiến trong quá trình xây dựng quan
điểm, đường lối của Đảng, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là
những vấn đề liên quan trực tiếp đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân, góp
phần sao cho những quan điểm đó phù hợp với những điều kiện của Việt Nam, của
từng địa phương và đáp ứng được những nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích chính đáng
của nông dân.
Giai cấp nông dân phải tích cực tham gia xây dựng bộ máy chính quyền
từng làng, từng bản, từng xã thật sự vững mạnh, luôn luôn giữ nghiêm kỷ cương
phép nước, thực hiện dân chủ rộng rãi trong nhân dân. Nông dân không chỉ là
những người xây dựng mà còn là những người bảo vệ chính quyền - Nhà nước.
Hiện nay, những thế lực thù địch đang tìm mọi cách chia rẽ các dân tộc, chia
rẽ Nhà nước với nhân dân. Chúng tìm mọi cách khơi dậy những mâu thuẫn, khác
biệt giữa lợi ích của nông dân với Nhà nước để gây nên tình trạng mất ổn định
trong xã hội, cục bộ địa phương. Bà con nông dân cần nhận thức được những âm
mưu thâm độc này, bình tĩnh giải quyết những mâu thuẫn đó bằng con đường đối
hương; đấu tranh với lối sống lai căng, thực dụng không phù hợp với thuần phong
mỹ tục ở địa phương. Các vùng nông thôn cần tăng cường những hoạt động phối
hợp cùng nhau giữ gìn, bảo vệ tài sản, an ninh trật tự trong từng địa phương.
Tóm lại, xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung quan trọng
của quá trình CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nông dân là chủ thể tích cực
trong xây đựng đời sống văn hóa mới, xây dựng kết cấu hạ tầng; phát triển kinh tế
- xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, làm cho mỗi người được thụ hưởng một cách
tốt nhất những giá trị vật chất và tinh thần. Công cuộc xây dựng nông thôn mới
khó khăn, lâu dài đòi hỏi sự đóng góp rất lớn của bà con nông dân. Nông dân phải
nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình mới có thể kế thừa, phát huy
những truyền thống tốt đẹp và khắc phục những yếu tố lạc hậu, tiêu cực ảnh hưởng
tới quá trình phát triển để có thể xây dựng nông thôn Việt Nam hiện đại, văn minh.
Muốn xây dựng nông thôn mới đi đến thành công, người nông dân luôn giữ một vị
trí đặc biệt quan trọng. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có những chính sách
phù hợp tạo điều kiện, cơ hội để thúc đẩy cho nông dân ý thức được vai trò của
mình, tiếp tục phát huy tính chủ động, sáng tạo trong xây dựng quê hương, đất
nước. Nông dân có vai trò quan trọng trong xây dựng nông thôn mới, cùng với các
giai cấp, tầng lớp khác phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam XHCN “Dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
- Câu 5: Trình bày những vấn đề cơ bản về tổ chức cơ sở đoàn?
Khái niệm: Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị xã
hội của thanh niên Việt Nam do Đảng cộng sản Việt nam và chủ tịch Hồ Chí Minh
sáng lập lãnh đạo và rèn luyện. Đoàn bao gồm những thanh niên tiên tiến, tự
nguyện phấn đấu vì sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu
mạnh, công bằng và văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa..
1. Vai trò, vị trí của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
- Đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ
Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam. Trong hệ
thống này Đảng là người lãnh đạo, Đoàn là một trong các tổ chức thành viên tạo
nên quyền lực của nhân dân theo cơ chế: " Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và
+ Trung ương Đoàn.
5. Khái quát quá trình ra đời, xây dựng và trưởng thành của Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh:
a, Sự ra đời của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh:
Tháng 10/1930, hội nghị lần thứ nhất của BCH TW Đảng ra áng Nghị quyết về
Cộng sản thanh niên vận động. Áng nghị quyết khẳng định: "Đảng Cộng sản phải
cần kíp tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên".
Tại hội nghị lần thứ 2 của BCH TW Đảng họp tại Sài Gòn vào những ngày từ
20 - 26/3/1931 đã nhấn mạnh: "Tổ chức ra Cộng sản thanh niên Đoàn là một vấn
đề cần kíp mà Đảng phải giải quyết". Đồng thời TW Đảng chỉ thị cho các cấp bộ
Đảng nhất thiết phải xây dựng được cơ sở Đoàn thanh niên ở địa phương mình.
Từ những sự kiện lịch sử quan trọng đó, tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 3
của Đoàn thanh niên lao động Việt Nam, họp tại Hà Nội trong các ngày từ 2325/3/1961 đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 (một ngày trong thời gian cuối của hội
nghị BCH TW Đảng lần thứ 2 nói trên) làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn TNCS
Hồ Chí Minh.
b. Các thời kỳ lịch sử của Đoàn:
Gắn liền với cuộc cách mạng do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo và sự
trưởng thành của tuổi trẻ Việt Nam, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã qua các thời kỳ
lịch sử:
- Thế hệ thanh niên xây dựng Đảng (1920 - 1930)
- Thế hệ thanh niên làm cách mạng tháng tám (1931 - 1945)
- Thế hệ thanh niên chống Pháp (1945 - 1954)
- Thế hệ thanh niên chống Mỹ (1955 - 1975)
- Thế hệ thanh niên xây dựng và bảo vệ tổ quốc (1976 - 1986) - Thế hệ thanh
niên trong công cuộc đổi mới, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
(1986 đến nay)
Qua các thời kỳ lịch sử, Đoàn mang những tên gọi khác nhau, đã khẳng định
vai trò xung kích cách mạng của Đoàn:
tổ chức đoàn giao phó.
+ Tuyên truyền giáo dục chính trị, tư tưởng tập trung vào việc tuyên truyền,
giáodục về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chủ trương, đường lối
của Đảng,nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội (Bổsung, phát triển năm 2011), chính sách, pháp luật của Nhà nước; định
hướng hoạt độngvà phát triển của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
+ Tuyên truyền, giáo dục truyền thống, tập trung vào việc tuyên truyền, giáo
dụcvề chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống đấu tranh kiên cường chống
giặc ngoạixâm, tinh thần đoàn kết dân tộc, lòng nhân ái, khoan dung, đức tính cần
cù, sáng tạo;truyền thống của Đảng, của Đoàn; truyền thống của địa phương, đơn
vị; kết hợp tuyêntruyền, giáo dục tinh hoa văn hóa thế giới. Trong bối cảnh hiện
nay, cần chú trọng đúngmức việc truyên truyền, giáo dục về chủ quyền biển, đảo
của Tổ quốc.
+ Tuyên truyền, giáo dục đạo đức, lối sống tập trung vào việc tuyên truyền,
giáodục tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng, lý tưởng cao đẹp
của thanhniên Việt Nam, nếp sống văn minh, lối sống đẹp “mình vì mọi người”.
+ Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và ý thức công dân hướng mạnh vào việc
tuyêntruyền Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội
khóa XIII,kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28 – 11 – 2013; các bộ luật, pháp lệnh, các
văn bản quyphạm pháp luật khác; các quy ước của cộng đồng; trách nhiệm, quyền
lợi, nghĩa vụ côngdân.
+ Tuyên truyền, giáo dục tinh thần quốc tế chân chính cần chú trọng hơn
trong bốicảnh Việt Nam đẩy mạnh giao lưu và hợp tác quốc tế. Tập trung tuyên
truyền, giáo dụcvề đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, xu thế
toàn cầu hóa và tácđộng nhiều mặt của nó; vị thế vai trò của Việt Nam trong khu
vực và thế giới; truyềnthống khoan dung, hợp tác hữu nghị.
Các nội dung tuyên truyền, giáo dục trên đây thường không tách rời biệt lập
mà cómối liên hệ chặt chẽ, bổ sung và hỗ trợ lẫn nhau.
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minhphát động rất cần được các cơ sở đoàn tổ
chức cho đoàn viên, thanh niên hưởng ứng mộtcách chủ động, tích cực.
Các cơ sở đoàn xây dựng đội ngũ báo cáo viên được lựa chọn từ cán bộ,
đoàn viênưu tú, thường xuyên bổ sung để đảm bảo số lượng, bồi dưỡng, tập huấn
để từng bướcnâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thường xuyên cập nhật
kiến thức.
2.2. Nghiệp vụ tổ chức thực hiện các phong trào hành động cách mạng
của thanhniên
Phong trào là hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội lôi cuốn được đông đảo
quầnchúng tham gia. Các phong trào hành động cách mạng của thanh niên là đặc
trưng nổibật của tổ chức đoàn, thể hiện vai trò đi đầu, xung kích của tuổi trẻ trong
việc thực hiệnnhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn lịch sử. Những năm tháng
hào hùng kháng chiếnchống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ xâm lược, rất
nhiều phong trào hành độngcách mạng được tổ chức đoàn phát động, trở thành
động lực mạnh mẽ thôi thúc đoànviên, thanh niên từ hậu phương đến tiền tuyến
sản xuất và chiến đấu, không sợ gian khổhi sinh, xung phong đi đầu trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những năm gầnđây, các phong trào hành
động cách mạng đang được Trung ương Đoàn phát động sâurộng trong thanh niên
cả nước đó là “5 xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hộivà bảo vệ Tổ
quốc”, “4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”.
Phong trào “5 xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ
Tổquốc” được triển khai với 5 nội dung hoạt động chủ yếu:
- Xung kích phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế;
- Xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng;
- Xung kích bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội;
- Xung kích lao động sáng tạo, làm chủ khoa học, cộng nghệ;
- Xung kích bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu.
Phong trào “4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” đuợc triển
khai với 4nội dung hoạt động chủ yếu:
toàn giao thông,…Tổ chứccác hoạt động đột kích tập trung, ngắn ngày như: Tuần
lễ xanh - sạch - đẹp, Ngày vì nạnnhân chất độc màu da cam,… Xây dựng các đội
hình thanh niên: đội thanh niên xungkích an ninh, đội tuyên truyền viên trẻ, đội
thanh niên tình nguyện. Xây dựng các môhình như: làng thanh niên, điểm trình
diễn kỹ thuật, các cơ sở dịch vụ do thanh niên làmchủ, tổ chức cho thnah niên thực
hiện các dự án vay vốn sản xuất, kinh doanh, giải quyếtviệc làm; các chương trình
khuyến công, khuyến nông. Tổ chức các hội thi như thi tìmhiểu tiến bộ khoa học
công nghệ; thi tay nghề; lễ hội Xuân hồng (hiến máu nhân đạo). Tổ
chức các câu lạc bộ khoa học trẻ, sáng tạo trẻ, thanh niên tham gia phòng chống tội
phạmvà tệ nạn xã hội. tổ chức thực hiện các cuộc vận động như “Nghĩa tình biên
giới, hảiđảo”, “Thanh niên với biển đảo quê hương”. Tổ chức các hoạt động giao
lưu, dã ngoại,gặp mặt điển hình thanh niên tiên tiến, du khảo về nguồn,…
2.3. Nghiệp vụ tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội của Đoàn
Hoạt động văn hóa, xã hội, nhất là văn hóa quần chúng, các hoạt động xã hội
mangtính cộng đồng cao luôn được đoàn viên, thanh niên yêu thích, hưởng ứng với
một sứchút mạnh mẽ. Bởi vì văn hóa chứa đựng trong nó những giá trị cao đẹp,
nhân văn do conngười sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh. Văn
hóa với chức năng vàgiá trị của nó có tác dụng to lớn trong việc giáo dục đoàn
viên, thanh niên nâng cao nhậnthức về đạo đức, lối sống, thẩm mỹ. Những giá trị
đó khi được định hướng một cáchđúng đắn, kết hợp với sự say mê, nhiệt tình của
tuổi trẻ sẽ tạo nên hiệu quả xã hội to lớn.Tổ chức cơ sở đoàn phải có phương
hướng hoạt động phù hợp, đặc thù thiết thiệt để vănhóa thực sự trở thành “món ăn
tinh thần” không thể thiếu được của đoàn viên, thanhniên.
Hoạt động văn hóa, xã hội của Đoàn rất phong phú, đa dạng. Đó là hoạt
độngthông tin, tuyên truyền, cổ động; hoạt động câu lạc bộ; hoạt động đọc sách
báo; hoạtđộng văn nghệ quần chúng; các cuộc dạ hội, hội thi; hoạt động xã hội từ
thiện,…Nhữnghoạt động đó đòi hỏi tổ chức đoàn phải biết khi thác tối đa các sự
kiện lớn của Đảng, củadân tộc, của Đoàn để tổ chức cho đoàn viên, thanh niên
Mười tiêu chí hành động:
- Sẵn sàng giới thiệu về lịch sử, truyền thống của quê hương, đất nước Việt
Namvới bạn bè trong và ngoài nước.
- Sẵn sàng đảm nhận những việc khó, việc mới.
- Sẵn sàng giúp đỡ người già, trẻ em, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.
- Xung kích tham gia các hoạt động tình nguyện.
-Xung kích xây dựng nếp sống lành mạnh, văn minh, phòng chống tệ nạn xã
hội.
-Xung kích bảo vệ môi trường sinh thái.
-Thường xuyên chấp hành pháp luật.
-Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn.
- Thường xuyên rèn luyện thể dục thể thao.
- Thường xuyên vận động thanh thiếu nhi tham gia các hoạt động Đoàn, Hội,
Đội.Giới thiệu được thanh niên vào Đoàn.
* Muốn nâng cao chất lượng đoàn viên phải gắn với củng cố tổ chức cơ sở
đoàn.Hai nhiệm vụ này có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động trực tiếp đến
chất lượngđoàn viên và tổ chức đoàn. Các cơ sở đoàn và chi đoàn cơ sở cần làm tốt
việc khảo sát,đánh giá, phân loại chính xác chất lượng đoàn viên, chất lượng tổ
chức đoàn. Việc phânloại các chi đoàn theo 4 loại (chi đoàn vững mạnh, chi đoàn
khá, chi đoàn trung bình, chiđoàn yếu kém) nhất thiết phải theo hướng dẫn và các
tiêu chí do Trung ương ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh hướng dẫn. Từ đó,
tập trung củng cố các chi đoànyếu kém, nâng dần tỷ lệ chi đoàn vững mạnh. Các
đoàn cơ sở và chi đoàn cơ sở duy trìvà thường xuyên cải tiến hình thức sinh hoạt
của Ban Chấp hành, sinh hoạt toàn Đoànhướng tới mục tiêu hiệu quả, thiết thực,
đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu và nguyệnvọng chính đáng của đoàn viên,
thanh niên. Chú trọng phát triển tổ chức đoàn ở các khucông nghiệp, khu chế xuất,
của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các khu tập thể côngnhân lao động.
* Đối với nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ đoàn (kể cả chuyên trách và
khôngchuyên trách), các chi đoàn cơ sở và đoàn cơ sở cần thực hiện nghiêm túc
Quyết định số289 – QĐ/TW ngày 8-2-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về
như: 6 tháng một lần tiếnhành bình xét để lựa chọn đoàn viên ưu tú, báo cáo cấp ủy
xem xét đưa vào diện đốitượng Đảng; bồi dưỡng và giới thiệu đoàn viên ưu tú để
Đảng bồi dưỡng; khi đoàn viênưu tú đã đựơc Đảng chấp thuận đủ điều kiện để kết
nạp Đảng thì Đoàn cơ sở bảo đảmđoàn viên ưu tú đó với Đảng. Đồng thời, đoàn cơ
sở cần thường xuyên tổ chức nghiêncứu, học tập, xây dựng chương trình hành
động thực hiện các nghị quyết, chủ trương,đường lối của Đảng, chiến lược phát
triển thanh niên Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020.
Các cấp bộ đoàn tích cực, chủ động tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các
chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là đường
lối, chính sáchvề thanh niên; giới thiệu cán bộ trẻ có đr phẩm chất và năng lực cho
các cơ quan củaĐảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở.
2.5. Nghiệp vụ công tác tham mưu, phối hợp, chỉ đạo của Đoàn
Khoản 2 Điều 44 của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Cấp ủy
Đảnglãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ, tư
tưởng, tổ chức,cán bộ”. Thực tế cho thấy địa phương, đơn vị nào cấp ủy quan tâm
thường xuyên, sâusát, tăng cường công tác kiểm tra thì công tác Đoàn và phong
trào thanh niên có kết quảtốt, được xã hội thừa nhận, cán bộ đoàn trưởng thành
nhanh chóng. Những nơi cấp ủykhông quan tâm đúng mức, thậm chí “khoáng
trắng” cho tổ chức Đoàn và cán bộ đoànthì công tác Đoàn và phong trào thanh niên
gặp không ít khó khăn. Vì vậy, một mặt, cấpủy đảng cán xác định đúng vị trí, vai
trò lãnh đạo đối với tổ chức đoàn như Điều lệ Đảng,như tinh thần Nghị quyết Hội
nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X“Về tăng cường sự lãnh
đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời kỳ đẩymạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa”. Mặt khác, Đoàn phải chủ động, tích cực làm tốtcông tác tham mưu
đối với cấp ủy đảng, sự phối hợp với chính quyền, Mặt trận và các tổchức chính trị
- xã hội khác để thúc đẩy sự phát triển của công tác đoàn và phong tràothanh niên
ở địa phương, đơn vị.
Đối với công tác tham mưu, Ban Chấp hành đoàn cần tập trung tham mưu
thành hạt nhân đoàn kết, tập hợp rộng rãi các tầng lớp thanh niên gắn bó với công
Đảng. Công tác vận động thanh niên luôn luôn là nhiệm vụ cách mạng có tính
chiến lược của Đảng. Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi đất nước trong thời
kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đặt ra sự cần thiết phải tiếp tục tổ chức, tập hợp đông
đảo thanh niên dưới ngọn cờ của Đảng. Vấn đề đoàn kết, tập hợp thanh niên vì thế
không chỉ là một nội dung lãnh đạo quan trọng của Đảng mà còn là chính nhu cầu
của bản thân thanh niên, vừa là nhiệm vụ, vừa là nhu cầu và đòi hỏi sống còn của
tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Tiếp tục đổi mới toàn diện công tác vận động
thanh niên của Đảng gắn với đổi mới tổ chức và hoạt động của Đoàn Thanh niên,
xây dựng và thực hiện tốt các chính sách của Nhà nước đối với thanh niên là hết
sức quan trọng và cấp bách để tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về công tác thanh niên
trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Trước hết phải đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác thanh niên về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng lãnh đạo công tác vận động
thanh niên thông qua các chủ trương, nghị quyết và kế hoạch cụ thể do các cấp ủy
trực tiếp lãnh đạo Đoàn Thanh niên. Đảng viên trẻ cần tham gia sinh hoạt Đoàn,
làm nòng cốt cho phong trào thanh niên. Coi trọng việc giáo dục lý tưởng cách
mạng cho thanh niên và nêu gương tốt trong đoàn viên, thanh niên sống, học tập,
lao động theo gương Bác Hồ vĩ đại.
Tăng cường quản lý nhà nước về công tác thanh niên. Xây dựng và tổ chức
thực hiện Chiến lược quốc gia phát triển thanh niên, tạo môi trường điều kiện
thuận lợi để bồi dưỡng và phát huy tiềm năng của thanh niên, vì sự phát triển và
tiền đồ tươi sáng của dân tộc. Thực hiện các chính sách liên quan đến thanh niên và
công tác thanh niên như các chính sách về giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh
niên; về xây dựng đời sống văn hóa thanh niên, mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế;
các chính sách nhằm phát huy thanh niên xung kích tham gia phát triển kinh tế xã
hội, củng cố an ninh, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; các chính sách xây dựng tổ
chức đoàn, chăm lo, tạo điều kiện về đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện, ngân sách
cho công tác vận động thanh niên.
Công tác thanh niên không chỉ là trách nhiệm của Đảng và Nhà nước, mà