MỞ BÀI
Đội ngũ trí thức có những phẩm chất mà các chủ thể chính trị khác
không thể có. Từ những đặc điểm lao động, tham gia vào đời sống chính trị
của họ cho thấy, phần lớn họ là “người dấn thân vì lợi ích của toàn thiên
hạ, sẵn sàng chiến đấu và hy sinh vì đại nghĩa của toàn thiên hạ. Trí thức
như vậy là một phẩm cách đặc biệt”. Nét nổi bật của hoạt động của đội ngũ
trí thức là hướng đến sự sáng tạo. Chính vì vậy, lao động của họ rất đáng
được trân trọng, khuyến khích, vấn đề đặt ra chỉ là phải biết sử dụng họ.
Đây cũng chính là cái mấu chốt để Đảng và Nhà nước nhận thức đúng và
khuyến khích trí thức tham gia phản biện xã hội, cốâng hiến tài năng cho
xây dựng và phát triển đất nước. Còn với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
xã hội là nơi tập hợp, đoàn kết, đại diện cho tầng lớp trí thức, cần thấy được
tính vượt trội để phát huy vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức tham gia
phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước.Nếu như thế kỷ
XX trong lịch sử Việt Nam là “thế kỷ của những biến đổi to lớn và sâu sắc,
thế kỷ đấu tranh gian nan oanh liệt giành lại độc lập tự do thống nhất Tổ
quốc, thế kỷ của những chiến công và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời
đại”(1), thì bước vào thế kỷ XXI sứ mệnh thiêng liêng của toàn dân tộc
chúng ta là phải tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Là một quốc gia có
truyền thống dựng nước và giữ nước lâu đời, có quá trình liên tục đấu tranh
để vươn lên làm chủ cuộc sống trước thiên nhiên khắc nghiệt và nhiều thế
lực ngoại xâm hung bạo, bản thân lịch sử dân tộc Việt Nam chính là những
bài học vô cùng quý báu để giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu nước, tinh thần
tự lực tự cường, khát vọng vươn lên vượt khó để xứng đáng với quá khứ
hào hùng và vinh quang của thế hệ đi trước. Hơn thế nữa, sức mạnh của tri
thức lịch sử không chỉ giới hạn ở chỗ giúp cho những thế hệ hôm nay, ngày
mai có hiểu biết đầy đủ về qúa khứ, mà còn làm cho người đang sống có ý
thức về xã hội, biết suy nghĩ cảm thụ những gì đã xảy ra trong qúa khứ để
1
cấp nhiên liệu cho sự tăng trưởng của thế giới trong vòng hai hoặc ba mươi
năm tới. Sự phát triển không ngừng có tính bùng nổ của lực lượng sản xuất
trong đó tri thức đóng vai trò như lực lượng sản xuất chủ yếu đã dẫn đến sự
hình thành một nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức (Knowledge Based
Economy hoặc Knowledge economy).
Sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất mới này đã dẫn tới
một hình thái kinh tế mới. Đó là một nền kinh tế trong đó việc sáng tạo tri
thức, sự lan truyền và quảng bá nhanh tri thức đưa vào ứng dụng là động
lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, tạo ra của cải, tạo ra việc làm cho tất
cả các ngành kinh tế. Nhà kinh tế học P.F.Durker gọi đó là nền kinh tế tri
thức và tên gọi này hiện nay đã trở thành phổ biến với việc sử dụng chính
thức của Ngân hàng thế giới. Trong nền kinh tế mới, kinh tế tri thức sản
xuất chủ yếu dựa vào nguồn lực tri thức. Tài nguyên và vốn dù quan trọng
vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu.
3
Như vậy, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại con người là
động vật duy nhất có năng lực sáng tạo tri thức, do đó biết lao động sản
xuất và tiến dần tới nền kinh tế dựa vào tri thức là chính. Bởi vậy, kinh tế
tri thức là một lịch sử tất yếu.
Cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, khoảng từ giữa thế kỷ XX,
dựa trên những tri thức sáng tạo, đi sâu vào thế giới vĩ mô và thế giới vi
mô, dẫn tới sự phát minh ra các máy móc, thuộc loại hoàn toàn mới, gọi là
máy móc thông minh. Điển hình là máy điện toán, mô phỏng được những
chức năng chủ yếu của não người: biết nhớ, biết tính toán kể cả các bài
toán rất phức tạp, biết thực hiện các lệnh, biết tư vấn cho người dùng trong
một số việc..., đóng vai trò chính trong các hệ tự động hóa toàn phần của
sản xuất và trong các mạng thông tin toàn cầu. Máy móc thông minh kết
450 tỷ USD, tổng số Mỹ có hơn 300 khu công nghệ cao, Nhật có 32, Pháp
có 35. Những khu công nghệ cao là nơi tập trung trí tuệ và sức sáng tạo
của lực lượng sản xuất tiên tiến. Một nét đặc trưng đáng chú ý khác là các
quy luật kinh tế truyền thống như lợi ích cận biên giảm dần, chi phí cận
biên tăng dần có thể không còn chỗ đứng trong nền kinh tế tri thức. Một
ví dụ điển hình là số người sử dụng thông tin càng nhiều thì thông tin
càng có giá trị.
Học thuyết hình thái kinh tế xã hội của Mác về sự vận động và phát
triển xã hội bao gồm 4 luận điểm cơ bản:
Thứ nhất: sản xuất vật chất là nền tảng cơ sở của đời sống xã hội
Thứ hai: quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất.
Thứ ba: cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng
Thứ tư: sự phát triển của các hình thái xã hội là luận điểm của lịch sử
tự nhiên
Từ khi bước vào thời kỳ đổi mới năm 1986 cùng với việc từng bước
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải phóng
lực lượng sản xuất chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế Đảng và Nhà nước đã xác định ngày càng rõ
5
quan điểm mới về công nghiêp hoá, hiện đại hoá. Quan điểm mới cũng là
kết quả tổng kết thực tiễn rút ra từ những bài học của mấy thập kỷ trước
đây kết hợp với sự nghiên cứu học hỏi kiến thức và kinh nghiệm của thế
giới và thời đại. Cuối thế kỷ XX Đảng và Nhà nước ta đã vạch ra CNH –
HĐH không phải là hai quá trình tuy có phần lồng vào nhau nhưng về cơ
bản vẫn tách biệt và nối tiếp nhau là một quá trình thống nhất có thể nói là
công nghiệp hoá theo hướng hiện đại hoá.
Nghị quyết đại hội Trung ượng 7 Khoá 7 của Đảng ta (năm 1994)
đoạn 2001 – 2010 được thông qua tại đại hội IX xác định: “con đường
CNH – HĐH của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những
bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát triển những lợi thế của đất nước,
tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công
nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều
hơn ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và
công nghệ từng bước phát triển kinh tế tri thức”
Như vậy ngay từ khi tiến hành đổi mới thông qua các kỳ đại hội
Đảng ta đều xác định thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá phải gắn liền
với phát triển kinh tế tri thức. Điều này đã trở thành tôn chỉ định hướng rõ
ràng sự phát triển của nước ta.
b). Những quan điểm, nhận thức về công nghiệp hóa, hiện đại
hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức
Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra: từ
nay đến năm 2020 chúng ta phải phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp hiện đại.
"Mục tiêu công nghiệp hoá - hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế
hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh
vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội”.
7
Như vậy, công nghiệp hoá không phải chỉ là phát triển nền công
nghiệp, mà là phát triển mọi lĩnh vực từ sản xuất vật chất và dịch vụ của
nền kinh tế, cho đến các khâu trang thiết bị, phương pháp quản lý, tác
phong lao động, kỹ năng sản xuất…
do công nghiệp hoá - hiện đại hoá tạo ra sẽ là cơ sở quy định bản chất và
trình độ của nền văn hoá xã hội.
Một vấn đề lớn và quan trọng đặt ra là: Nền văn hoá tiên tiến, hiện đại
do công nghiệp hoá - hiện đại hoá hình thành nên có mâu thuẫn, có thủ tiêu
nền văn hoá truyền thống và làm mất đi bản sắc dân tộc của văn hoá truyền
thống?
Phép biện chứng duy vật và thực tiễn xã hội cho thấy, đời sống tinh
thần có cuộc sông độc lập của nó so với nền tảng vật chất xã hội. Văn hoá,
một khi ra đời, dù là xuất phát từ tồn tại kinh tế, từ đời sống vật chất, nó trở
thành thực thể độc lập với cơ sở kinh tế - xã hội. Thực tế đã chứng minh,
những hệ tư tưởng, chính trị, văn hoá đã đóng vai trò điều chỉnh và qui
định chiều hướng vận động của xã hội. Ngày nay, loài người càng nhận rõ
rằng, văn hoá không chỉ là cái phái sinh của điều kiện kinh tế - xã hội, mà
còn là động lực nội sinh của sự phát triển kinh tế - xã hội. Nghĩa là, trước
sự hiện đại hoá xã hội, và cùng với nó là sự hình thành những yếu tố văn
hoá tiên tiến, hiện đại, thì những yếu tố, những thực thể văn hoá truyền
thống như là bản sắc văn hoá Việt Nam vẫn độc lập tồn tại và không những
tồn tại, mà chúng còn làm tiền đề cho sự nảy sinh và phát triển các yếu tố
văn hoá mới.
Công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay ở nước ta thực sự
đang là một cuộc tiếp biến lớn lao, rất căn bản của văn hoá Việt Nam với
thế giới văn hoá hiện đại. Với truyền thống luôn giữ vững bản sắc của
mình, văn hoá Việt Nam không bao giờ bị văn hoá hiện đại làm lu mờ, thôn
tính, mà sẽ tiếp thu những yếu tố văn hoá tiên tiến, hiện đại chứa đựng
trong khoa học - công nghệ hiện đại, nó cộng sinh, làm phong phú và hiện
đại thêm nền văn hoá của chính mình. Theo nghĩa đó, công nghiệp hoá 9
hiện đại hoá không nhưng không là tác dụng xấu, mà là tác dụng tích cực,
hay có thể nói, chúng đem lại những yếu tố mới cho việc làm sâu sắc thêm
tố quan trọng của nền kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức,
kết hợp việc sử dụng nguồn vốn tri thức của người Việt Nam với tri thức
mới nhất của nhân loại. Như vậy, lý luận và thực tiễn là căn cứ vững chắc
để xây dựng đường lối đúng đắn, tranh thủ thời cơ, rút ngắn thời gian công
nghiệp hóa, hiện đại hóa sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại.
Theo kinh nghiệm của nhiều nước, phát triển kinh tế tri thức phải tập
trung nguồn lực vào bốn hướng chính sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước phải xây dựng thể chế xã hội và chính sách
kinh tế năng động, rộng mở, khuyến khích sáng tạo và ứng dụng có hiệu
quả những tri thức mới. Thúc đẩy kinh doanh, tác động cho nở rộ doanh
nghiệp mới làm ăn phát đạt. Phải tạo dựng một nền hành chính có hiệu quả,
tránh phiền hà, tham nhũng. Giảm mạnh các chi phí hành chính, góp phần
tăng sức cạnh tranh.
Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực tài năng sáng tạo, biết phối hợp và
chia sẻ ứng dụng những thông tin, tri thức thành sản phẩm có sức cạnh
tranh cao.
Thứ ba, xây dựng một hệ thống đổi mới hiệu quả bao gồm: các doanh
nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức tư vấn và
các tổ chức khác liên kết, trao đổi thông tin, tri thức với nhau theo những mục
tiêu đã xác định. Họ phải thường trực tiếp cận các kho thông tin, tri thức của
thế giới được liên tục chất đầy, để tích cực "tiêu hóa" chúng và thích nghi hóa
cho các nhu cầu của mình và từ đó sáng tạo ra công nghệ cao mới.
Thứ tư, tích cực xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và
truyền thông, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển ngành công nghệ cao dẫn đầu
này. Tạo điều kiện thuận lợi cho việc đánh giá, phổ biến và sáng tạo tri thức.
c).Những đặc điểm chủ yếu của CNH - HĐH ở nước ta
CNH - HĐH ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội dung và hình
nước cũng như trên thế giới cho phép nước ta có khả năng “rút ngắn” quá
trình CNH, HĐH. Về cơ bản, cách để nước ta thực hiện được công nghiệp
hoá, hiện đại hoá rút ngắn bao gồm hai mặt: thứ nhất, đạt và duy trì một tốc
độ tăng trưởng cao hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài
13
để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước đó(thực
chất là tăng tốc để đuổi kịp) và thứ hai, lựa chọn và áp dụng một phương
thức công nghiệp hoá , hiện đại hoá cho phép bỏ qua một số bước đi vốn là
bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới nền kinh tế có trình độ phát
triển cao hơn( thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giải pháp công
nghiệp hoá để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà có thể
thống nhất với nhau và đang tiếp tục được làm rõ để định hình sang tỏ hơn
con đường đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta
d). Các giải pháp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn
với phát triển kinh tế tri thức
Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát huy
năng lực sáng tạo tri thức ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội
tiếp thu tri thức của thế giới toàn cầu hóa.
Thực vậy, trong điều kiện chưa có đủ nguồn lực để phát triển kinh tế
tri thức lên ngay trình độ cao, ta phải coi trọng chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế nhằm đẩy mạnh hợp tác về công nghệ cao trong nhiều lĩnh vực,
trên cơ sở cùng có lợi. Qua hội nhập và hợp tác cùng với việc gửi đi nâng
cao trình độ ở nước ngoài, các chuyên gia Việt Nam từng bước trưởng
thành, có thể chủ động trong ứng dụng các công nghệ cao và tiến tới sáng
tạo tri thức mới rất cần thiết cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở trình độ
cao. Nhiều ví dụ trong công nghiệp điện tử, trong thiết lập mạng viễn thông
quốc gia, trong công nghiệp chế biến nông sản phẩm, trong chế tạo trang
thiết bị cơ - điện tử... đã cho thấy kết quả tốt và đạt bước tiến nhanh rõ rệt.
quan trọng như thương mại, tài chính, ngân hàng, du lịch, y tế, giáo dục,
pháp luật... bắt buộc phải nhanh chóng chuyển sang ứng dụng công nghệ
thông tin, mạng in-tơ-nét, viễn thông toàn cầu... Thời gian qua một số
ngành dịch vụ nước ta đã có tiến bộ đáng kể trong hiện đại hóa, nhưng nhìn
chung chưa khai thác hết tiềm năng, đáng lý còn có thể đóng góp cho tăng
trưởng kinh tế nhiều hơn nữa.
Về mặt xã hội có nhiều loại dịch vụ quan trọng cần hiện đại hóa theo
hướng kinh tế tri thức. Tuy nhiên, đối với một nước đang phát triển như
15
nước ta, có định hướng xã hội chủ nghĩa, thì cần tập trung vào dịch vụ hành
chính điện tử (hoặc chính phủ điện tử). Đây là một cuộc cách mạng thực sự
hướng tới chủ nghĩa xã hội, vì nó, nếu được xây dựng đúng đắn và đầy đủ,
sẽ khách quan bảo đảm được công khai, minh bạch, không tham nhũng,
công bằng, dân chủ, văn minh. Đáng tiếc là thời gian qua có quyết tâm cao,
nhưng dùng người chưa đúng nên kết quả yếu kém, cần rút kinh nghiệm để
sắp tới làm tốt hơn. Khi đó sẽ có một nền hành chính điện tử được hiện đại
hóa nhanh dẫn tới rút ngắn được thời kỳ quá độ
Thời đại chúng ta là thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm
vi toàn thế giới bắt đầu từ khoảng đầu thế kỷ XX (1917). Cũng không phải
ngẫu nhiên mà cách mạng khoa học công nghệ bùng lên từ khoảng giữa thế
kỷ XX dẫn đến sự khởi đầu kinh tế tri thức và trở thành đặc trưng của thời
đại. Phải chăng đây là phản ánh mối quan hệ biện chứng tất yếu giữa khoa
học và cách mạng, cơ bản tương tự như những lần biến động thay đổi hình
thái kinh tế - xã hội trước đây, nhưng phức tạp và dữ dội hơn nhiều.
16
một tổ chức chuyên trách nào của huyện được đặt ra để thành lập một
chuyên ban riêng, mà chủ yếu là thực tiễn hóa, tuyên truyền, giáo dục nội
dung của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Bên cạnh đó, Đảng bộ Thanh Hoá đã đưa ra một trong những giải
pháp cơ bản nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh là: “Đẩy mạnh xã hội
hoá, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động khoa học và công nghệ, giáo
dục và đào tạo, văn hoá - xã hội, y tế, thể dục thể thao; nâng cao chất lượng
cuộc sống của nhân dân”[11; 60]. Và một trong những chương trình trọng
tâm của tỉnh trong giai đoạn tới là: “Chương trình phát triển nguồn nhân
lực”[11; 41].
Việc xây dựng đội ngũ trí thức một phần chủ yếu là tạo ra nguồn
nhân lực đủ năng lực và trình độ đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng
và phát triển đất nước đã được Đảng bộ huyện Quảng Xương cụ thể thành
một trong bốn chương trình kinh tế - xã hội trọng tâm của huyện (giai đoạn
2010 - 2015) là: “Đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực”[10; 17] trong Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Quảng Xương lần
thứ XXIV.
Tuy nhiên, chúng ta cũng phải hiểu rằng, việc xây dựng và phát triển
đội ngũ trí thức Quảng Xương không bó hẹp trong cách hiểu đơn giản là
phải có những chính sách cụ thể đối với việc phát triển đội ngũ trí thức của
huyện, mặc dù điều đó là quan trọng và cần thiết. Do những yêu tố khách
quan và chủ quan nên việc phát triển đội ngũ trí thức được thể hiện trong
chính sách giáo dục và đào tạo của huyện. Vì như đã phân tích, trí thức
Quảng Xương xuất thân từ nhiều tầng lớp xã hội, đa số hiện nay đang trên
ghế nhà trường. Bên cạnh đó, thực chất của công tác đào tạo và xây dựng
đội ngũ trí thức thì phải được chú trọng và quan tâm phát triển từ khi trí
thức đang còn là học sinh. Có như thế thì mới đảm bảo cho chất lượng đội
ngũ trí thức sau này.
tác khuyến học, khuyến tài thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham
19
gia, xây dựng được trên 7 tỷ đồng quỹ khuyến học các cấp; thưởng khuyến
học cho trên 90.000 lượt học sinh và giáo viên.
Về số lượng trí thức có bằng cấp từ trình độ cao đẳng (không tính
trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và cao đẳng nghề), đại học trở lên
thì đang có chuyển biến tích cực, tăng dần về số lượng và nâng cao về chất
lượng trong giai đoạn 2000 - 2010.
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng số trí thức đang sinh sống và công
tác trên địa bàn huyện chiếm 0,37% dân số của huyện. Trong khi đó, tổng
số trí thức sinh sống và làm việc trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa là 1,5%,
Nghệ An là 1,8%, Hà Nội là 7,4%. Như vậy, tỷ lệ trí thức hiện đang sinh
sống và công tác trên địa bàn huyện là rất ít so với các huyện khác và của
cả tỉnh nói chung, các tỉnh khác nói riêng và ở các trung tâm phát triển kinh
tế - xã hội của cả nước.
Nếu so sánh với số trí thức là con em Quảng Xương ta thấy rằng số
lượng (3% dân số của huyện, chiếm 0,2% trí thức của cả nước) của đội ngũ
trí thức Quảng Xương là khá lớn, gần tương đương với bình quân trí thức
trên cả nước so với số dân (3,1%). Song, thực tế tổng số trí thức làm việc
và công tác trên huyện nhà là ít (0,3%).
Về tư tưởng - đạo đức của trí thức Quảng Xương, với Cuộc vận động
“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được triển khai
sâu rộng trong toàn Đảng bộ và các tầng lớp nhân dân, việc tổ chức, triển
khai có chất lượng các chuyên đề về Cuộc vận động nên không chỉ các tổ
chức Đảng, cơ quan, đơn vị đã xây dựng được tiêu chí đạo đức phù hợp…
tạo sự chuyển biến tích cực về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và
các tầng lớp nhân dân, đặc biệt trong đó là đội ngũ trí thức của huyện.
Hơn nữa với việc đẩy mạnh các hoạt động văn hóa - thông tin - thể
ngày 08/05/2001 theo Nghị quyết 16/QD-UBND ngày 21/01/2001 của Uỷ
ban nhân dân huyện Quảng Xương. Qua 9 năm hoạt động sôi nổi, tích cực,
Hội đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ khuyến học, khuyến tài, xây dựng
một xã hội học tập, trở thành một địa chỉ tin cậy của cấp ủy Đảng, chính
quyền và nhân dân huyện Quảng Xương.
21
Hiện nay, toàn huyện có 23.617 gia đình đăng ký gia đình hiếu học
và được công nhân 13.217 gia đình, số gia đình tiêu biểu được xét chọn là
2.617; 405/484 khu dân cư đăng ký thôn hiếu học. Trong đó, 162 khu dân
cư được xã công nhận, 43 khu dân cư được huyện công nhận là thôn hiếu
học tiêu biểu. Bên cạnh đó, khuyến học dòng họ cũng có sự phát triển. Năm
2003 toàn huyện mới có 123 dòng họ có ban khuyến học, đến 2009 đã có
405/796 dòng họ có ban khuyến học. Trong đó, có 277 dòng họ được Uỷ
ban nhân dân xã cấp dấy công nhận và huyện công nhận 41 dòng họ hiếu
học tiêu biểu.
Việc phát triển không ngừng về hội viên và chi hội khuyến học,
khuyến tài có hiệu quả rõ rệt trong từng gia đình, dòng họ, thôn xóm, nhà
trường, cơ quan, góp phần phát triển và nâng cao số lượng và chất lượng
đội ngũ trí thức Quảng Xương hiện nay và trong tương lai.
Bên cạnh đó, Trung tâm bồi dưỡng Chính trị (Trường Đảng) huyện
Quảng Xương cũng đã góp phần không nhỏ vào công tác trí thức của
huyện. Là cái nôi đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ huyện, là trung tâm
tuyên truyền các chủ trương đường lối chính sách của Đảng và pháp luật
của Nhà nước, xây dựng niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng với đội ngũ
cán bộ tâm huyết, nhiệt tình, tất cả vì học viên, vì sự nghiệp vinh quang của
Đảng mà phục vụ. Do đó, công tác trí thức luôn được Trung tâm tuyên
truyền, phổ biến đạt chất lượng, hiệu quả cao. Đặc biệt là trong 5 năm vừa
qua (2005 - 2010), Trung tâm đã mở được 5 lớp trung cấp với với 498 học
trong các cấp, ngành Đảng bộ tới cán bộ quân sự, công an… huyện Quảng
Xương luôn tổ chức các lớp bồi dưỡng chính trị và bồi dưỡng về trình độ
chuyên môn cho cán bộ các cấp - ngành phù hợp với yêu cầu thực tiễn công
việc và nhiệm vụ hoặc gửi cán bộ, cử cán bộ đi đào tạo nâng cao về trình
độ chuyên môn cũng như lý luận tại các trường đại học ở trong và ngoài
nước…
23
III KẾT LUẬN
Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ, lao
động thủ công là chủ yếu, trải qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển đến nay
nền kinh tế của nước ta đã có những đổi thay đáng kể và đạt được nhiều thành
tựu quan trọng. Từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nghèo nàn, đời sống dân cư
thấp Việt Nam đã vươn lên trở thành một nước có nền kinh tế khá ổn định, tiếp
cận được với nhiều nền kinh tế phát triển mà đáng kể là việc trở thành thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO. Đây là một bước tiến lớn lao khẳng
định sự phát triển của nền kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo ra không ít thách
thức đòi hỏi chúng ta phải nỗ lực không ngừng để bắt kịp xu thế thời đại và để
không bị tụt hậu. Gắn với phát triển kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước,
phải không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao vai trò lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.Trong
điều kiện hiện nay việc đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá gắn liền với
phát triển kinh tế tri thức là một bước đi đúng đắn để tạo nội lực mạnh cho kinh
tế trong nước đồng thời tăng ngoại lực để chúng ta có thể hoà nhập với các nền
kinh tế trên thế giới.Nghị quyết đại hội IX đã chỉ ra: “ Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001 – 2010 nhằm: đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền
9
Tạp chí Kinh tế và Phát triển - Số 48/2001
10
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
11
Tạp chí Khoa học xã hội
25