CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Mua lại và sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng đã trở thành xu thế khách
quan, tất yếu với nhiều lợi ích to lớn, không chỉ với bản thân các ngân hàng mà còn
với nền kinh tế của mỗi quốc gia. Trong thời gian qua, nhiều công trình nghiên cứu
về mua lại, sáp nhập, pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và
trong lĩnh vực NHTM, các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án đã
được quan tâm thực hiện ở trong và ngoài nước.
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ngoài nước
1.1.1.1. Các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính
Trong các công trình nghiên cứu về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân
hàng dưới góc độ kinh tế, tài chính có thể kể đến các sách, tài liệu nước ngoài, tài
liệu dịch từ tiếng nước ngoài như: Sách “Quản trị ngân hàng thương mại” của Peter
S.Rose do Nhà xuất bản (Nxb) Tài chính, Hà Nội phát hành năm 2000; sách
“Applied Mergers and Acquitions” của Bruner F. Robert and Perella P. Joseph,
năm 2004; sách “Hướng dẫn cơ bản về mua bán công ty” của Wilbur M. Yegge do
Nxb. Thống kê, Hà Nội phát hành năm 2006; sách “Mergers and Acquisitions” của
J. Fred Weston và Samuel C. Weaver (McGraw-Hill, năm 2007); sách “Cẩm nang
hướng dẫn mua lại và sáp nhập” của Timothy J.Galpin, Mark Herdon do Nxb.
Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh phát hành năm 2009; sách “Mua lại và sáp nhập căn
bản - Các bước quan trọng trong quá trình mua bán doanh nghiệp và đầu tư” của
Michael E.S. Frankel do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Mua lại
và sáp nhập thông minh - Kim chỉ nam trên trận đồ sáp nhập và mua lại” của Scott
Moeller, Chis Brady do Nxb. Tri Thức, Hà Nội phát hành năm 2009; sách “Wall
Street Words: An A to Z Guide to Investment Terms for Today’s Investor” của
David L.Scott; sách “Mergers & Acquisition From A to Z” của Andrew J. Sherman,
Milledge A. Hart do Nxb. Amacom phát hành năm 2006; sách “A practical guide to
đổ. Đã có rất nhiều các vụ sáp nhập ngân hàng được Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi
Liên bang Mỹ (FDIC) và các cơ quan pháp luật khuyến khích vì đây là một phương
pháp để bảo vệ khoản dự trữ bảo hiểm tiền gửi và tránh cho việc phục vụ khách
hàng bị gián đoạn khi ngân hàng có nguy cơ phá sản.
Thứ hai, về tiến hành sáp nhập. Tác giả cuốn sách cho rằng, dù xuất phát từ
bất cứ mục đích gì thì về bản chất sáp nhập là một giao dịch tài chính dẫn đến việc
một ngân hàng này mua lại một hay một vài tổ chức ngân hàng khác. Ngân hàng bị
sáp nhập phải từ bỏ các biểu tượng cũ để lấy tên mới, thường là tên của ngân hàng
mua lại. Tài sản và các nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập sẽ nhập với tài sản và
9
nguồn vốn của ngân hàng sáp nhập. Sáp nhập ngân hàng thường được tiến hành sau
khi các nhà quản lý của hai ngân hàng đã đi đến những thỏa thuận cụ thể. Các bước
hợp nhất sẽ được ban lãnh đạo của mỗi ngân hàng thông qua và cổ đông của mỗi
ngân hàng bỏ phiếu.
Thứ ba, về cách thức hoàn tất việc sáp nhập. Thông thường, việc sáp nhập
được tiến hành thông qua việc mua lại cổ phiếu hoặc mua lại tài sản. Với phương
thức mua lại cổ phiếu, ngân hàng bị sáp nhập buộc phải ngừng hoạt động, ngân
hàng sáp nhập sẽ tiếp quản tất cả tài sản và nguồn vốn của ngân hàng bị sáp nhập.
Với phương thức mua lại tài sản, ngân hàng yêu cầu sáp nhập sẽ dùng tiền mặt hoặc
cổ phiếu để mua tất cả hay một phần tài sản của ngân hàng bị sáp nhập.
Thứ tư, về quá trình ra quyết định sáp nhập. Cơ quan quản lý Liên bang Mỹ
phải áp dụng những tiêu chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ
Tư pháp quy định cho các yêu cầu sáp nhập. Đạo luật sáp nhập ngân hàng đòi hỏi
Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát chính đối với ngân hàng yêu cầu sáp
nhập phải tính đến tác động của vụ sáp nhập tới sự thuận lợi cho công chúng, tính
đến nhu cầu của công chúng đối với việc cung cấp các dịch vụ tài chính chất lượng
cao tại mức giá hợp lý.
lại và sáp nhập. Quá trình này sẽ xem xét toàn diện về pháp lý, tài chính và chiến
lược trên cơ sở tất cả những tài liệu, những quan hệ hợp đồng, lịch sử hoạt động và
cấu trúc tổ chức của bên bán. Nhóm làm việc về tài chính, chiến lược thường do đội
ngũ quản lý, kế toán và nhóm làm việc về thẩm định pháp lý do cố vấn của bên mua
thực hiện. Thẩm định pháp lý sẽ phân tích những vấn đề về tổ chức, tài chính, quản
lý và nhân sự, những hợp đồng và giao kết chính của bên bán, kiện tụng và khiếu
nại. Bên mua sẽ phải thu thập các dữ liệu liên quan đến điều kiện để giao dịch mua
lại và sáp nhập có hiệu lực pháp luật, đến sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh và
những rủi ro có thể phải gánh chịu sau khi mua lại, sáp nhập…
Thứ năm, về định giá doanh nghiệp và các phương pháp định giá doanh
nghiệp. Định giá doanh nghiệp hay xác định giá trị doanh nghiệp là việc ước tính giá
trị hiện hữu và tiềm năng của doanh nghiệp tại một thời điểm xác định bằng cách sử
dụng các phương pháp định giá thích hợp. Định giá doanh nghiệp có thể được bên
bán tiến hành hoặc xác nhận trước khi chào cho bên mua và giá cuối cùng được xác
định bởi các bên trong quá trình đàm phán về giá. Trong hợp đồng M&A, mục giá
giao dịch có thể chỉ chiếm một dòng nhưng đó là kết quả của một quá trình làm việc
ròng rã và đầy thách thức đối với cả hai bên. Do đó các bên mua bán, sáp nhập doanh
nghiệp phải sử dụng các phương pháp định giá theo nguyên tắc nhất định và phù hợp
với giá thị trường. Khi đề cập giá trị của một doanh nghiệp là nói đến cả giá trị tài sản
hữu hình và giá trị tài sản vô hình. Trong M&A, xác định đúng, đủ giá trị tài sản vô
hình giúp bên bán đánh giá đúng giá trị của mình và bên mua cũng nhận thức được tài
sản vô hình mà mình sẽ sở hữu cũng như giá trị của những tài sản này.
Thứ sáu, về kết thúc thương vụ và hậu mua lại, sáp nhập. Một cách đơn giản
11
nhất được các tác giả đề cập, ký kết thương vụ là ký kết một thỏa thuận để bán một
công ty, trong khi đó kết thúc một thương vụ là hoàn thành quá trình mua bán đó.
Khoảng trống giữa việc ký kết và kết thúc sẽ thay đổi dựa trên những nhân tố bên
12
và trước những năm 1900, chính phủ kết thúc những lực lượng thị trường thuộc
ngành công nghiệp độc quyền mà không cung cấp đủ kiểm soát nhằm bảo vệ người
tiêu dùng, đạt được cạnh tranh công bằng và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Vì thế,
chính phủ xây dựng hai kiểm soát mang ý nghĩa khác nhau như là việc thay thế và
bổ sung cho lực lượng thị trường này: Cơ quan chính phủ: Trong một vài thị trường
mà nguồn gốc của việc sản phẩm và kỹ thuật được tạo ra từ độc quyền tự nhiên,
chính phủ thiết lập cơ quan chính phủ để kiểm soát hành vi tập trung kinh tế. Luật
chống độc quyền: Trong hầu hết những thị trường còn lại, xã hội kiểm soát bằng các
quy định chống độc quyền được thiết kế ra để ngăn cản và chống lại việc phát triển
của các hình thức độc quyền. Bốn bộ phận cụ thể của quy định Liên bang được chắt
lọc và mở rộng từ những lần sửa đổi khác nhau, thiết lập bộ luật cơ bản liên quan
đến cấu trúc và quản lý độc quyền.
Tư tưởng chính của Đạo luật chống độc quyền Sherman 1890 thể hiện ở việc
quy định mọi hợp đồng, việc kết hợp giữa các hình thức độc quyền hay những hình
thức hay những âm mưu mà làm kiềm chế thương mại giữa các bang hoặc giữa các
quốc gia thì được xem là bất hợp pháp; mọi cá nhân mà được xem là độc quyền,
hoặc nỗ lực để có độc quyền, hoặc sáp nhập hoặc chung sức với bất kỳ cá nhân khác
hay cộng đồng khác để có độc quyền trong bất kỳ thành phần thương mại nào giữa
các bang hoặc các quốc gia sẽ được xem là mắc trọng tội. Đạo luật chống độc quyền
Sherman đã cấm những ràng buộc trong thương mại (ví dụ, kết hợp giá cố định và
phân chia thị trường) như trong độc quyền. Đạo luật chống độc quyền Clayton năm
1914 chứa đựng một số các yêu cầu được đưa ra trong Đạo luật chống độc quyền
Sherman, đạo luật cấm thâu tóm cổ phần của những công ty đối thủ cạnh tranh khi
thu nhập ít hơn của đối thủ cạnh tranh. Luật về Ủy ban thương mại Liên bang năm
1914 cho phép Ủy ban thương mại Liên bang (FTC) có quyền hạn trong việc kiểm
ra vấn đề cạnh tranh không công bằng và xem xét yêu cầu của những công ty bị hại.
trường với hình thức tạo lập doanh nghiệp mới. Khi Luật sáp nhập được nới lỏng
vào năm 1982, Bộ Tư pháp đã thay đổi hướng dẫn sáp nhập vào năm 1992 bao gồm
các hướng dẫn riêng cho sáp nhập ngân hàng. Hướng dẫn mới của Bộ Tư pháp lấy
công thức tính chỉ số Herfindahl-Hirschman Index (HHI) làm thước đo mức độ tập
trung cho thị trường. Với việc ban hành chỉ số HHI này, bất cứ vụ sáp nhập nào mà
chỉ số HHI sau khi sáp nhập nhỏ hơn 1.800 hoặc giá trị chỉ số HHI trong khu vực
thay đổi dưới 200 điểm sẽ không bị Bộ Tư pháp ngăn cản.
Thứ ba, quá trình ra quyết định của nhà chức trách Liên bang. Những tiêu
chuẩn do Luật sáp nhập ngân hàng và Hướng dẫn của Bộ Tư pháp phải được Cơ
quan quản lý Liên bang Mỹ áp dụng. Các tác động của vụ sáp nhập tới công chúng
sẽ được Cơ quan Liên bang chịu trách nhiệm giám sát theo quy định của Đạo luật
sáp nhập ngân hàng. Gần đây một rào cản về quy chế đối với các ngân hàng có yêu
cầu sáp nhập đã được thiết lập là Luật kê khai cho vay mua nhà thế chấp. Luật đòi
hỏi các ngân hàng cho vay mua nhà phải báo cáo định kỳ về sự phân bổ địa lý và
14
các thông tin khác đối với danh mục cho vay mua nhà. Các ngân hàng có hành vi
phân biệt đối xử trong việc cho vay sẽ gặp nhiều khó khăn về pháp lý nếu muốn
nhận được sự phê chuẩn cho yêu cầu hợp nhất.
- Bài viết: Các vấn đề cần lưu ý khi tham gia giao dịch M&A tại Việt Nam
của Luật sư Gregoty Crovo (thuộc Hãng luật Kelvin Chia Partnership) với chủ đề
M&A- Toàn cảnh thị trường mua bán-sáp nhập doanh nghiệp Việt Nam 2012 đăng
trên đặc san của Báo Đầu tư.
Luật sư Gregory Crovo là người có kinh nghiệm tư vấn cho rất nhiều thương
vụ M&A thành công. Trong bài viết, tác giả phân tích các vấn đề pháp lý, thủ tục và
thực tế thực hiện giao dịch dựa trên các kinh nghiệm tư vấn của mình cho các nhà
đầu tư nước ngoài trong các giao dịch M&A tại Việt Nam, đồng thời tác giả đề cập
các vấn đề pháp lý tồn tại trong quá trình tiến hành giao dịch cho đến khi hoàn tất
nhập ngân hàng thương mại ở Việt Nam” của Học viện Tài chính, năm 2014...
Các công trình nêu trên đã phân tích và cung cấp thông tin về cơ sở lý luận
mua lại, sáp nhập và pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp, công ty
tài chính, ngân hàng; phân tích, phản ảnh tình hình hoạt động mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp và NHTM của một số quốc gia và Việt Nam; phân tích và luận giải
khung pháp lý, thực trạng pháp luật đối với doanh nghiệp, ngân hàng nói chung và
về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp, NHTM nói riêng. Các nghiên cứu cũng
phân tích và đề cập đến hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam, kinh nghiệm quốc
tế về kiểm soát tập trung kinh tế, về thị trường chứng khoán; đưa ra quan điểm,
phương hướng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này.
Ngoài ra còn có nhiều nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức khác cũng cung
cấp nhiều thông tin liên quan đến tình hình nghiên cứu của đề tài luận án như: “Báo
cáo kinh tế vĩ mô 2012: Từ bất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu”, “Báo cáo kinh tế
vĩ mô 2014 - Cải cách thể chế kinh tế: Chìa khóa cho tái cơ cấu” của Ủy ban Kinh tế
của Quốc hội; “Báo cáo phát triển Việt Nam (VDR) 2012: Kinh tế thị trường khi Việt
Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình” của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam;
“Báo cáo ngành ngân hàng Việt Nam” của Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH)
Chứng khoán NHTMCP Việt Nam Thịnh Vượng, năm 2014; “Báo cáo tập trung kinh
tế Việt Nam năm 2012”; “Báo cáo rà soát pháp luật cạnh tranh với pháp luật chuyên
ngành” của Cục Quản lý cạnh tranh, năm 2014; nghiên cứu “Tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng” của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, năm 2012…
Các nghiên cứu, tài liệu trên đã phân tích, đề cập, cung cấp thông tin đa dạng
về tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam, đến tái cơ cấu kinh tế, tái cấu trúc ngân
hàng, cải cách thể chế, tập trung kinh tế, đưa ra mục tiêu, quan điểm, định hướng
chính sách, giải pháp cơ cấu lại các TCTD... Một số nghiên cứu đi sâu phân tích về
cơ sở lý luận, quy định pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM; kinh nghiệm quốc tế
để xử lý ngân hàng yếu kém. Ngoài ra một số nghiên cứu cũng đưa ra các đề xuất,
kiến nghị liên quan đến hoàn thiện chính sách, pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, xã
hội và ngân hàng, trong đó có hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh
phương thức lôi kéo cổ đông bất mãn [14]...
1.1.2.2. Các công trình nghiên cứu đề cập về pháp luật mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp, ngân hàng thương mại
- Các công trình nghiên cứu đề cập về pháp luật mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, ngân hàng thương mại của một số quốc gia:
Pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và bài học kinh
17
nghiệm đối với Việt Nam của một số quốc gia như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc,
Nga, một số nước Đông Nam Á và vùng lãnh thổ như Thái Lan, Inđônêsia,
Malaysia, Singapore, Đài Loan… đã được một số nghiên cứu đề cập [32], [40],
[59], [68]... Trên thế giới, quốc gia đầu tiên ban hành Luật cạnh tranh là Canada vào
năm 1889. Tuy nhiên, Luật Sherman của Hoa Kỳ được ban hành vào năm 1890 lại
là đạo luật có ảnh hưởng lớn và thường được trích dẫn. Do tầm quan trọng của hoạt
động mua lại, sáp nhập doanh nghiệp và ngân hàng ngày càng mang tính toàn cầu
hóa nên nhiều quốc gia đã ban hành các luật riêng để điều chỉnh hoạt động này. Một
số quốc gia đã xây dựng các tiêu chuẩn để kiểm soát tập trung kinh tế, xây dựng và
áp dụng các chuẩn mực về vốn, tỷ lệ an toàn vốn ngân hàng khi thực hiện mua lại,
sáp nhập ngân hàng, thực hiện mua lại bắt buộc đối với những ngân hàng yếu kém
trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế cũng là những kinh nghiệm tốt để tham khảo
trong quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu đề cập khung pháp lý về mua lại, sáp nhập ngân
hàng tại Việt Nam:
Đề cập đến khung pháp lý về mua lại, sáp nhập trong lĩnh vực ngân hàng
tại Việt Nam, Bộ luật dân sự (2005), Luật đầu tư (2005), Luật cạnh tranh (2004),
Luật chứng khoán (2006) và Luật chứng khoán sửa đổi (2010), Luật các TCTD
(2010), Luật NHNN Việt Nam (2010), Luật doanh nghiệp (2005, 2014) là các
văn bản pháp luật được nhiều tác giả dẫn chiếu [29], [42], [45], [59], [89].
diễn ra giữa các ngân hàng trong nước với nhau. Nhiều NHTMCP nông thôn với
quy mô vốn nhỏ được mua lại, sáp nhập [8]. Pháp luật áp dụng trong giai đoạn này
chủ yếu dựa trên nguyên tắc của Luật NHNN, Luật các TCTD.
Giai đoạn từ năm 2005 trở về đây, một số thương vụ mua lại, sáp nhập, hợp
nhất ngân hàng được phân tích, bàn luận như trường hợp hợp nhất ba NHTMCP là
FicoBank, TinNghiaBank và SCB; Công ty dịch vụ Tiết kiệm Bưu điện sáp nhập
vào ngân hàng Liên Việt; NHTMCP Nhà Hà Nội (HBB) sáp nhập vào NHTMCP
Sài Gòn – Hà Nội (SHB); ngân hàng EximBank mua lại cổ phần của ngân hàng
SacomBank; tập đoàn DOJI hoàn tất mua 20% cổ phần để trở thành cổ đông chiến
lược của ngân hàng TienPhongBank [19], [122]. Thông tư số 04/2010/TT-NHNN
ngày 11/2/2010 của NHNN quy định về sáp nhập, hợp nhất, mua lại TCTD (sau đây
gọi là Thông tư 04/2010/TT-NHNN) cũng được nhiều tác giả phân tích, bàn luận là
đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập nên trong quá trình áp dụng để tiến hành các hoạt
động mua lại, sáp nhập NHTM đã gặp không ít trở ngại [67], [79].
Trong thời gian qua, nhiều giao dịch mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam
đã được tiến hành, tuy nhiên hợp đồng mua lại, sáp nhập còn một số vấn đề chưa
được nghiên cứu thấu đáo. Vì thế một số tác giả đã nghiên cứu về hợp đồng mua lại,
sáp nhập doanh nghiệp [41] hay lưu ý khi soạn thảo hợp đồng này [48]. Có tác giả
đã đi sâu nghiên cứu về nguyên tắc, trình tự, thủ tục hợp đồng mua lại, sáp nhập,
nhưng trọng tâm các bên thỏa thuận như thế nào? Nội dung của hợp đồng, chuyển
19
quyền, nghĩa vụ tài sản và các khoản nợ ra sao? Hiệu lực phát sinh của hợp đồng?
Thời điểm nào có hiệu lực, thời điểm nào vô hiệu? ... đã được kiến nghị cần được
tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn [41], [44], [119].
- Những hạn chế, bất cập của pháp luật về mua lại, sáp nhập ngân hàng
thương mại ở Việt Nam:
Trong các nghiên cứu thu nhận được phản ảnh những hạn chế, bất cập của
trên thế giới [56].
Thủ tục cho việc mua lại, sáp nhập hiện tại được cho là khá phức tạp và phải
được phép của nhiều cơ quan khác nhau. Ngoài ra, còn một số nhân tố cản trở tiến
trình thực hiện mua lại, sáp nhập ngân hàng như đối tượng mua lại, sáp nhập còn
hẹp; hạn chế trong việc chuyển đổi doanh nghiệp sau mua lại, sáp nhập; các chế tài
liên quan đến các quy định đánh giá năng lực quản trị, năng lực tài chính đối với các
NHTM Việt Nam chưa nghiêm và chưa cao; định giá trong hoạt động mua lại, sáp
nhập ngân hàng rất khó do thiếu các kỹ thuật, kinh nghiệm cần thiết; thông tin liên
quan đến hoạt động mua lại, sáp nhập chưa thực sự minh bạch; vấn đề bảo mật; các
nghĩa vụ tài chính, người lao động, thương hiệu, cơ chế giải quyết tranh chấp chưa
được quy định cụ thể; thiếu các công ty môi giới và tư vấn chuyên nghiệp về mua
lại, sáp nhập; các quy định hiện hành về cách tính thị phần của TCTD còn chưa hợp
lý; các quy định về tập trung kinh tế giữa một NHTM và một TCTD phi ngân hàng
chưa cụ thể. Hiện còn tồn tại tình trạng không thống nhất về cơ sở tính toán mức độ
tập trung trong ngân hàng giữa Luật cạnh tranh và Nghị định hướng dẫn. Các quy
định về mua lại, sáp nhập hiện nay mới chỉ dừng lại ở việc xác định hình thức của
giao dịch mà còn thiếu các quy định cụ thể để thực hiện. Hoạt động mua lại, sáp nhập
ngân hàng liên quan đến nhiều ban ngành nhưng còn chưa rõ quy trình tiếp nhận, xử
lý các NHTM yếu kém. Về quản lý hoạt động này, các tác giả cũng có chung nhận
định là văn bản pháp luật quy định nhiều cơ quan đang quản lý khác nhau như Bộ Kế
hoạch và Đầu tư, NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Công thương…[53], [56], [63].
Theo quy định của Luật các TCTD, NHNN có quyền góp vốn, mua cổ phần
bắt buộc của TCTD bị kiểm soát đặc biệt hoặc yêu cầu các TCTD sáp nhập, hợp
nhất bắt buộc nhằm bảo đảm an toàn hệ thống TCTD. Thông tư số 07/2013/TTNHNN ngày 14/3/2013 của NHNN quy định về việc kiểm soát đặc biệt đối với
TCTD đã tạo lập cơ chế để NHNN thực hiện vai trò của mình trong việc buộc các
TCTD sáp nhập, hợp nhất và bán cổ phần bắt buộc. Tuy nhiên, hiện nay Thông tư
04/2010/TT-NHNN của NHNN còn bỏ ngỏ nội dung mua lại, sáp nhập bắt buộc
TCTD. Các quy định pháp luật được cho là chưa đủ cơ sở pháp lý vững chắc để nhà
nước can thiệp, xử lý một số NHTM yếu kém thông qua mua lại, sáp nhập nhằm
tránh đổ vỡ hệ thống, ổn định kinh tế vĩ mô [59].
phương án cho phép các ngân hàng yếu kém “âm thầm” đóng cửa trên cơ sở bảo vệ
lợi ích của người gửi tiền sẽ tiết kiệm chi phí và tổn thất xã hội sẽ thấp nhất [83].
Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam
được nhiều tác giả đề xuất cụ thể như cần hoàn thiện khái niệm liên quan đến hoạt
động mua lại, sáp nhập cho thống nhất và phù hợp với thông lệ quốc tế; quy định
hoạt động hợp nhất, sáp nhập, mua lại trong Luật các TCTD và Luật doanh nghiệp;
mở rộng đối tượng hợp nhất, sáp nhập và bổ sung hình thức tổ chức lại TCTD; quy
22
định vốn điều lệ thực tối thiểu; siết chặt điều kiện cần và đủ để thành lập ngân hàng;
thủ tục xử lý các giao dịch với người gửi tiền và người vay trước khi giao dịch mua
lại, sáp nhập được xác lập; công bố thông tin; tiêu chí sử dụng để tính thị phần của
các ngân hàng [56], [59], [60]...
Các vấn đề về nội dung của thương vụ mua lại, sáp nhập cần phải được quy
định đầy đủ hơn nữa như định giá doanh nghiệp, chuyển đổi tài sản, các vấn đề tài
chính, cổ phần, cổ phiếu, thuế, phí; trách nhiệm giữa các đối tượng tham gia hoạt
động và trách nhiệm của ngân hàng đối với quyền lợi của người lao động và cổ
đông… Cần xây dựng quy trình kiểm soát, xử lý khi ngân hàng đổ vỡ một cách bài
bản theo nguyên tắc thị trường, phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời xác định cơ
quan làm đầu mối, phân chia nhiệm vụ, sự phối hợp giữa các ban ngành. Có hướng
dẫn chi tiết về thủ tục sau mua lại, sáp nhập để bảo vệ quyền lợi của các cổ đông,
phí bảo hiểm tiền gửi, mức bảo hiểm... [63]. Có kiến cho rằng, các ngân hàng nhỏ,
yếu trong diện tự nguyện sáp nhập với nhau thì cần phải giám sát chặt chẽ để giải
quyết các vấn đề của hậu sáp nhập. Đối với các ngân hàng tiến hành mua lại, sáp
nhập để tăng vốn, cần phải xem xét các tiêu chuẩn về tỷ lệ an toàn theo quy định
Basel hơn là chú trọng đến việc tăng vốn điều lệ [18].
Trong quá trình nghiên cứu, trao đổi, có ý kiến cho rằng cần xây dựng khung
pháp lý chuyên biệt về mua lại, sáp nhập ngân hàng [89] hay để khẳng định được uy
nhập được điều chỉnh dưới nhiều góc độ phù hợp với các quan hệ xã hội cần điều
chỉnh. Luật thực định đã được các tác giả phân tích, viện dẫn. Những quy định đặc
thù của pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, ngân hàng được trình bày, chỉ
ra được pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM có sự liên thông với các ngành luật
khác, chỉ ra bộ phận cấu thành của pháp luật và phân định thành các nhóm. Một số
nghiên cứu đã đánh giá thực trạng pháp luật về mua lại, sáp nhập và hợp nhất ngân
hàng như hình thức pháp lý của các văn bản pháp luật, nội dung điều chỉnh của
pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra những đánh giá, nhận xét, bình luận về vấn đề
nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật về
mua lại, sáp nhập như quy định và điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác
nhau, có sự chồng chéo của các văn bản pháp luật. Việc quy định phân tán và không
cụ thể trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã làm doanh nghiệp nói chung và
NHTM nói riêng khó thực hiện khi tiến hành mua lại, sáp nhập. Một số văn bản
pháp luật đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập như chưa đồng nhất về khái niệm, cách
tính thị phần của TCTD còn chưa hợp lý; còn nhiều vấn đề pháp lý liên quan trực
tiếp đến mua lại, sáp nhập ngân hàng chưa có quy định hoặc có nhưng chưa cụ thể,
khó áp dụng như tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục trong trường hợp mua lại,
sáp nhập bắt buộc, quy định về định giá, bảo mật, cung cấp thông tin, các nghĩa vụ
tài chính, người lao động, thương hiệu, cơ chế giải quyết tranh chấp, xử lý nợ xấu...
Các đề xuất, kiến nghị về quan điểm, phương hướng và các giải pháp hoàn thiện
pháp luật của các nghiên cứu có sự gắn kết với nội dung nghiên cứu, có sự lý giải
thấu đáo và có giá trị tham khảo nhất định để hoàn thiện pháp luật.
24
Qua việc nghiên cứu tổng quan, tác giả nhận thấy rằng đã có những công
trình nghiên cứu về pháp luật mua lại, hợp nhất, sáp nhập đối với NHTM. Tuy
nhiên, với những đặc thù riêng của NHTM và hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM
so với các loại hình doanh nghiệp khác, một số vấn đề cốt lõi về phương diện pháp
25
- Luận án chọn lọc để sử dụng một số đề xuất, kiến nghị hợp lý về phương
hướng, các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong các nghiên cứu đã thực hiện. Tuy
nhiên trên cơ sở nghiên cứu độc lập, luận án cần đưa ra được phương hướng, các
giải pháp hoàn thiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam, đáp ứng
các yêu cầu của: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập quốc
tế; hoàn thiện khung pháp lý về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp nói chung và đối
với NHTM nói riêng; phục vụ tái cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân
hàng. Những giải pháp cụ thể cần khắc phục được các hạn chế, bất cập cơ bản của
pháp luật hiện hành, đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn đặt ra, nhất là trong tiến trình tái
cơ cấu nền kinh tế, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng.
1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.2.1. Cơ sở lý thuyết
a) Lý thuyết nghiên cứu:
Một số lý thuyết được sử dụng trong luận án như sau:
+ Lý thuyết về phát triển NHTM;
+ Lý thuyết về tổ chức và hoạt động của NHTM trên cơ sở lý thuyết chung
về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp;
+ Lý thuyết về hiệu quả trong hoạt động của TCTD;
+ Lý thuyết về M&A doanh nghiệp;
b) Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu:
Để giải quyết đề tài luận án, các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
được đặt ra như sau:
Thứ nhất, về lý luận:
Câu hỏi nghiên cứu: Mua lại và sáp nhập NHTM, pháp luật về mua lại, sáp
nhập NHTM được hiểu như thế nào, có những đặc điểm ra sao? Bản chất pháp lý
của mua lại, sáp nhập NHTM có tác động chi phối thế nào đến cơ chế điều chỉnh
Câu hỏi nghiên cứu: Thực trạng pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh
nghiệp, NHTM và thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt
Nam hiện nay như thế nào? Các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện; trình tự, thủ tục;
hệ quả pháp lý; giải quyết tranh chấp khi thực hiện mua lại, sáp nhập NHTM cụ thể
là gì? áp dụng, vận dụng trong trường hợp thực hiện tự nguyện hay bắt buộc có gì
khác nhau? Đã có khung pháp lý để nhà nước có quyền can thiệp, xử lý NHTM yếu
kém thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập hay chưa? Những hạn chế, bất cập của
pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam và nguyên nhân của những hạn
chế bất cập là gì?
Giả thuyết nghiên cứu: Pháp luật về mua lại, sáp nhập đối với doanh nghiệp
nói chung và trong lĩnh vực NHTM ở Việt Nam đã được hình thành, tạo cơ sở pháp
lý để điều chỉnh hoạt hoạt động mua lại, sáp nhập NHTM. Tuy nhiên pháp luật
trong lĩnh vực này còn chưa đầy đủ, đồng bộ và chưa được hệ thống hóa, còn có
những hạn chế, bất cập như một số vấn đề pháp lý liên quan trực tiếp đến mua lại,
27
sáp nhập ngân hàng chưa có hoặc chưa quy định cụ thể, chưa theo kịp thực tiễn, còn
có những khoảng trống pháp lý chưa được điều chỉnh, chưa có cơ sở pháp lý vững
chắc để nhà nước can thiệp thông qua bắt buộc mua lại, sáp nhập NHTM yếu kém.
Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này do pháp luật còn chưa đồng bộ, thống
nhất, nhiều văn bản, quy định đã lạc hậu nhưng chậm được sửa đổi, thay thế, chưa
theo kịp quá trình phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Kết quả nghiên cứu (dự kiến) về mặt thực tiễn: Đánh giá đúng đắn thực trạng
pháp luật về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp, NHTM và thực tiễn thực hiện pháp
luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam hiện nay; chỉ ra được những ưu điểm,
hạn chế, bất cập của pháp luật và việc thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập đối
với NHTM; phân tích, đánh giá việc áp dụng, vận dụng pháp luật hiện hành trong
trường hợp thực hiện tự nguyện hay bắt buộc, trong trường hợp nhà nước can thiệp,
Pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM liên quan đến nhiều ngành khoa học,
nhiều ngành luật khác nhau. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu luận án, tác giả sử
dụng phương pháp tiếp cận đa ngành và liên ngành. Để giải quyết tốt các nội dung
của nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như sau:
- Phương pháp hệ thống hóa, tổng hợp, phân tích, thống kê: Thông qua các
phương pháp này, các thông tin đơn lẻ sẽ được tổng hợp, hệ thống hóa và xâu chuỗi
thành các nhóm vấn đề, được phân tích, khái quát hóa thành các luận điểm về tình
hình nghiên cứu, xây dựng khung lý thuyết, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn
thực hiện pháp luật. Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở các chương 1, 2 và 3.
- Phương pháp luật so sánh: Sử dụng phương pháp này để xây dựng các khái
niệm, phân tích các quy định pháp luật, tình hình thực hiện pháp luật và các nội
dung khác theo yêu cầu luận án. Phương pháp này được sử dụng trong chương 2, 3.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Thông qua nghiên cứu một số trường
hợp NHTM đã thực hiện mua lại, sáp nhập để góp phần đánh giá thực trạng pháp
luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về mua lại, sáp nhập NHTM ở Việt Nam. Phương
pháp này được sử dụng trong chương 3.
- Phương pháp thống kê, điều tra xã hội học: Sử dụng số liệu thống kê kết
hợp thu thập thông tin từ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia nhằm cung cấp
luận cứ cho việc xây dựng, hoàn thiện pháp luật. Phương pháp này được sử dụng
trong chương 3, 4.
- Phương pháp xử lý, phân tích thông tin, dữ liệu: Sử dụng phần mềm
EndNote để tạo cơ sở dữ liệu thư mục phục vụ nghiên cứu tổng quan và nghiên cứu
chi tiết trong đề tài luận án.
Ngoài ra, phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu của đề tài luận án
được thực hiện trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng của chủ nghĩa MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm của Đảng
về công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà
nước theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền.
29
nghiên cứu được lựa chọn phù hợp với từng nội dung nghiên cứu, từng nhiệm vụ
nghiên cứu để đạt được mục tiêu của đề tài luận án.
30
CHƯƠNG 2
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT
VỀ MUA LẠI VÀ SÁP NHẬP NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP VÀ PHÁP LUẬT
VỀ MUA LẠI, SÁP NHẬP DOANH NGHIỆP
2.1.1. Mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
2.1.1.1. Quan niệm về mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Thuật ngữ Mergers and Acquisitions (M&A) ngày càng trở nên thông dụng
và được sử dụng rộng rãi ở quốc tế. Ở Việt Nam, ngoài việc được dịch là “sáp nhập
và mua lại”, Merger and Acquisition còn được dịch là “mua lại và sáp nhập”, “mua
bán và sáp nhập” hay “thâu tóm và hợp nhất” để chỉ hoạt động kinh doanh và quản
trị rất phổ biến ở các nền kinh tế phát triển [42, tr.23]. Các nhà kinh tế và luật học
xem xét M&A dưới hai góc độ chủ yếu: góc độ kinh tế như là một vấn đề của quản
trị chiến lược công ty, tài chính doanh nghiệp và góc độ pháp lý như là đối tượng
của khung pháp lý để thực hiện giao dịch M&A.
Trong nghiên cứu của mình, David L.Scott định nghĩa sáp nhập là sự kết
hợp của hai hay nhiều công ty, trong đó có tài sản và trách nhiệm pháp lý của
(những) công ty được công ty khác tiếp nhận; mua lại là quá trình mua lại tài sản
như máy móc một bộ phận hay thậm chí toàn toàn bộ công ty [128]. Andrew J.
Sherman cho rằng sáp nhập là sự kết hợp giữa hai hay nhiều công ty mà qua đó tài
sản và nghĩa vụ của công ty bán được chuyển giao sang công ty mua. Mặc dù có
sự thay đổi về cấu trúc tổ chức nhưng công ty mua vẫn giữ được bản sắc ban đầu
sau cuộc sáp nhập. Thâu tóm/mua lại là việc mua lại một tài sản, ví dụ như một
lại, đồng thời kế thừa các quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp tương ứng với việc
mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp bị mua lại.
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn
bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp
khác và chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập. Doanh nghiệp nhận sáp
nhập sẽ kế thừa các quyền, lợi ích hợp pháp, đồng thời chịu trách nhiệm về các
nghĩa vụ và cam kết của doanh nghiệp bị sáp nhập.
2.1.1.2. Đặc điểm của mua lại, sáp nhập doanh nghiệp
Mặc dù chưa có một khái niệm thống nhất về M&A nhưng từ các khái niệm
nêu trên, chúng ta có thể nhận thấy được sự đa dạng trong nhận thức và quan niệm
của giới học thuật, luật gia và doanh nghiệp về mua lại, sáp nhập. Nhìn chung mua
lại, sáp nhập doanh nghiệp có một số đặc điểm như sau:
Một là, đối tượng của hoạt động mua lại, sáp nhập là tài sản, quyền và lợi
ích hợp pháp của doanh nghiệp mục tiêu.
Mục tiêu của hoạt động mua lại, sáp nhập nhằm kiểm soát, chi phối doanh
32