VŨ THỊ THANH
Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG
MẢNH ĐẤT LẢM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ DÒNG SÔNG MÍA CỦA ĐÀO THẮNG
LUẬN VÃN THẠC sĩ
NGÔN NGỮ VÀ VÃN HổA VIỆT NAM
VŨ THỊ THANH
VĂN HÓA NÔNG THÔN TRONG
MẢNH ĐẤT LẨM NGƯỜI NHIỀU MA
CỦA NGUYỄN KHẮC TRƯỜNG
VÀ DÒNG SÔNG MÍA CỦA ĐÀO THẮNG
Chuyền ngành: Lí luận văn học
Mã sổ
: 60. 22. 01. 20 ’
LUẬN VĂN THẠC sĩ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HổA VIÊT NAM
Ngưòi hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP
Bằng tấm lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp - người đã tận tình
hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn với tinh thần khoa học, nghiêm túc.
6
2.1.2.3MỞ ĐẦU
1. Lí do
chon đè
tài *
2.1.2.4Với một đất nước có gần 80% dân số làm nông nghiệp và nông thôn là
địa bàn cư trú chủ yếu của người dân như Việt Nam thì văn học viết về vùng đất này là
một bộ phận có yị trí quan trọng không thể thiếu trong nền văn học dân tộc. Như một
quy luật tất yếu và cũng như có một sức hút bí ẩn chúng ta bắt gặp hiện thực xã hội
nông thôn và đời sống người nông dân in dấu ấn lên hầu hết trang viết của các nhà
văn. Từ những câu ca dao, những khúc hát ru mộc mạc từ thuở xa xưa đến những vần
thơ nhàn tản, tao nhã của các nho sĩ thời trung đại, gần hơn nữa là những nhà văn hiện
đại Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Thạch Lam và sau
này là các cây bút tài năng như Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Kiên,
Nguyễn Khắc Trường, Đào Thắng...
2.1.2.5Đặc biệt từ năm 1986 đến nay, công cuộc đổi mới với tinh thần tự do dân chủ, nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật đã thổi vào văn chương một luồng
sinh khí mới. Nó cổ vũ mạnh mẽ sức sáng tạo của các nhà văn làm cho nhiều mảng đề
tài mới được mở ra, nhiều bức màn bí ẩn đã được vén lên và nhiều góc khuất đã được
chiếu rọi. Tuy vậy, như sức hấp dẫn vốn có đầy bí ẩn của những làng quê Việt, văn học
viết về nông thôn vẫn được đặc biệt quan tâm và góp phần làm nên sự phong phú của
văn chương thời kì đổi mới.
2.1.2.6Trong văn học viết về nông thôn, vấn đề thu hút sự chú ý của các nhà
văn, được họ quan tâm và đi sâu vào khám phá chính là văn hóa nông thôn, là những
giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy và gìn giữ hàng ngàn đời nay nơi những làng
Những nhận định chung về văn học và văn hóa nông thôn
2.1.2.9Đe tài văn hóa nông thôn là một mảng đề tài lớn của văn học Việt Nam
hiện đại, vì vậy xung quanh đề tài này có khá nhiều công trình nghiên cứu, tiểu luận
khác nhau. Tuy mỗi bài viết đề cập đến những vấn đề, khía cạnh khác nhau nhưng hầu
hết các tác giả đều thống nhất với nhận định là văn xuôi viết về nông thôn thời đổi
mới cần và đã có sự thay đổi vượt bậc.
2.1.2.10
Tác giả Trần Cương trong bài viết “Ta« xuôi viết về nông thôn
8
nửa sau những năm 80” (Tạp chỉ văn học số 4, năm 1995) đã nhận định về sự chuyển
biến của văn xuôi viết về nông thôn nửa sau những năm 1986 so với trước đó là: “Đã
có hai sự chuyển biển trong văn xuôi viết về nông thôn những năm sau 1986 so với
trước đó là sự chuyển biển trong chủ đề và sự chuyển biển trong phạm vi bao quát
hiện thực, về chủ đề lần đầu tiên xuất hiện hai chủ đề thuộc về con người mà trước
kia chưa có. Đó là chủ đề về sổ phận con người và hạnh phúc cá nhân ”. Còn về
phạm vi phản ánh hiện thực, các nhân vật như đã nhìn nhận và phản ánh hiện thực
nông thôn kĩ càng, họ thấy những gì ở tầng sâu, mạch ngầm của đời sống nông thôn.
Qua đó có thể thấy trong văn học viết về nông thôn thời hiện đại các tác giả đã đi sâu
khám phá một nông thôn đa dạng nhiều tầng, khám phá mặt nổi và những mặt chìm
trong đời sống nơi đây.
2.1.2.11
Trong Báo cáo tổng kểt đợt 1 cuộc thỉ viết về nông thôn nhà
2.1.2.14
Bên cạnh đó còn rất nhiều những công trình, tiểu luận viết về
văn hóa nông thôn xin được điểm qua như:
2.1.2.15
+ Văn xuôi viết về nông thôn - Tiến trình và đổi mới - Lã Duy
Lan (Nxb, khoa học xã hội Hà Nội, 2001)
2.1.2.16
+ Tìm kiểm những trang viết về nông thôn - Tác giả Đỗ Kim
Cuông (nguồn Vietbao.vn, 15/10/2003)
2.1.2.17
+ Bức tranh làng quê và những sổ phận - Tác giả Nguyễn Văn
Long (Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường, Nxb. Giáo
dục, Hà Nội, 2009)
2.1.2.18
+ Nhà quê, nông thôn: Tự nó và về nó- Mai Anh Tuấn (Nguồn:
Phongdiep.net, 2009)
1
quan trọng trong sự nghiệp viết văn của Nguyễn Khắc Trường mà còn nhận được sự
quan tâm, đánh giá của giới nghiên cứu, phê bình qua nhiều công trình nghiên cứu và
bài viết.
2.1.2.23
Trước hết, sự thành công của cuốn tiểu thuyết đã đưa đến cuộc
thảo luận do báo Văn nghệ tổ chức ngày 25-1-1991, sau đó được tập trung in trên tờ
báo Văn nghệ số 11, ngày 16-03-1991
2.1.2.24
Nhà nghiên cứu Hà Minh Đức nhận thấy nông thôn được
Nguyễn Khắc Trường nói đến là: “"Nông thôn với cách nhìn chân thực và chủ động”,
với ‘‘‘'nhiều chuyển động, xáo trộn, đẩu tranh giữa cái tốt với cái xẩu, tranh chấp
nhau giữa các thể lực”. Nông thôn “không cuộn lên trong các phong trào đẩu tranh
yêu nước, cải cách, hợp tác mà sôi lên từ những nguyên nhân bên trong, những
chuyện làng xóm ”. Đó là một nông thôn hết sức bình dị với cuộc sống thường ngày
của người nông dân, một nông thôn được xem xét trên khía cạnh văn hóa và lối sống,
một nông thôn với những đợt sóng ngầm mâu thuẫn từ những gì tưởng chừng gần gũi
và giản đơn nhất.
2.1.2.25
Giáo sư Phong Lê trong cuộc hội thảo này cũng đã nói: “vẩn đề
chỉ ra được một trong những mặt hạn chế trong văn hóa tộc họ ở nông thôn- nơi người
dân bị ảnh hưởng và ràng buộc sâu sắc bởi mối quan hệ khăng khít trong dòng họ.
2.1.2.28
Bên cạnh đó là các ý kiến của một số cây bút xuất hiện trên một
số các bài báo, chuyên luận khác.
2.1.2.29
Tác giả Ngọc Anh trong bài viết “Thể giới nhãn vật trong tiểu
thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường” (báo Giảo dục và
thời đại, ngày 27/05/1991) đã đi sâu vào nghiên cứu những đặc trưng bút pháp của
Nguyễn Khắc Trường trong cuốn tiểu thuyết và đưa ra nhận định: “Nguyễn Khắc
Trường tỏ ra vững vàng, từ việc xây dựng truyện, xây dựng nhân vật đến sử dụng
ngôn ngữ. Trong tác phẩm của anh, sự việc nọ nổi tiếp sự việc kia, bi kịch này kéo
theo bi kịch khác, nhiều sự kiện rối rẳm phức tạp, nhưng tác giả đã nhìn vào bản chất
của sự việc, giải quyết thấu đáo cứ như sự việc đủng như nó đã xảy ra như thể... phải
công nhận rằng tác giả Nguyễn Khắc Trường am hiểu nông thôn và có vốn ngôn ngữ
rất phong phú ”.
2.1.2.30
Trong bài viết “Đọc Mảnh đất lẳm người nhiều ma” (Tác phẩm
mới, Hà Nội, số 8, tháng 8, 1999) tác giả Lê Thành Nghị đã nhận ra vấn đề bao quát
của tác phẩm là: “vẩn đề nhận dạng bộ mặt tinh thần nông thôn, thực chẩt bộ mặt
nông thôn hôm nay và từ ngàn xưa là sự chỉ phổi khá triệt để về ỷ thức các dòng họ ”.
này tác giả nói: “Đọc xong cuốn tiểu thuyết viết về sự hoành tráng của cái ngọt ngào
mà rất đẳng đót này của Đào Thẳng, tôi ngờ rằng phù sa của sông Châu Giang - linh
hồn đất Hà Nam- chảy qua văn anh, chảy qua tâm hồn anh e rằng cũng là thứ phù sa
đẳng. Tôi đã đọc cuốn tiểu thuyết này của Đào Thẳng trong ba ngày và nhược cả
người, mệt đến rã rời vì tác giả đã đẩy tôi vào cái làng Mía, bẳt tôi nhập hồn vào tất
cả các nhân vật: sống chết, điên cuồng, gian dâm, loạn luân, ức hiếp, ác nhân, mưu
ma chước quỷ, nhảy sông tự tử, khóc than, thù hận, giết nhau, giả nhân giả nghĩa mà
làm điều that đức... ”. Với nhìn nhận sâu sắc và khách quan của mình Trần Mạnh Hảo
đã chỉ ra được cái hồn cốt của tác phẩm, đã chỉ ra cái dũng cảm và tài năng của Đào
Thắng khi tác giả dám viết về một làng Mía “rất đẳng”.
2.1.2.34
Hoàng Ngọc Hiến trong bài “Trên đất nước có bao nhiêu làng
Mỉa” (Tạp chí sông Hương - số 196, tháng 6/2008) đã đưa ra nhận định về sức sống
của tác phẩm, về những thực tại nhức nhối còn tồn tại nơi làng quê rằng: “Có những
1
tác phẩm văn học giống như những hạt sạn ngoan cổ trong đôi giày của những người
đương tiến bước, chúng thường trực nhắc họ những thực tại nhức nhổỉ của đất nước
mà vì mải vui hoặc quá “hăng say” họ đã quên tịt như chưa bao giờ có... Làng Mỉa
của Đào Thẳng là một hạt sạn ngang ngạnh”.
2.1.2.35
Cũng theo Hoàng Ngọc Hiến, trong xã hội làng Mía: “Những
vào nghiên cứu hai tác phẩm trên nhưng trên một phương diện mới đó là khám phá nét
Văn hóa nông thôn trong Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và
Dòng sông Mỉa của Đào Thắng hi vọng sẽ có được cái nhìn khái quát chung về nông
1
thôn Việt Nam thời kì đổi mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiền cứu
3.1.
-
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Mảnh đất lắm người nhiều ma và Dòng sông Mỉa chúng tôi hướng tới
khám phá văn hóa nông thôn Việt Nam thời kì đổi mới trong các mối quan hệ đa dạng,
phức tạp, nhiều chiều, số phận người nông dân trước những biến động lịch sử xã hội.
-
Từ đó khẳng định đây là hai cuốn tiểu thuyết có những đóng góp xuất sắc cho dòng
văn học nông thôn ở nước ta.
3.2.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu
Phân tích hai tác phẩm để chỉ ra những biến đổi đời sống văn hóa nông thôn thời kì
2.1.2.41
Đồng thời để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu chúng tôi có sự so sánh với
các tác phẩm khác cùng viết về đề tài này.
5. Phương pháp nghiền cứu
2.1.2.42
Để thực hiện nhiệm yụ nêu trên, trong qua trình thực hiện đề tài
1
chúng tôi sử dụng kết họp các phuơng pháp sau:
5.1.
Phuơng pháp hệ thống
5.2.
Phuơng pháp thống kê
5.3.
Phuơng pháp so sánh
5.4.
2.1.2.46
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn của chúng tôi đuợc triển khai thành ba chuơng nhu sau:
2.1.2.47
Chuơng 1: Đe tài nông thôn trong văn học Việt Nam hiện đại
2.1.2.48
Chương 2: Đời sống văn hóa và số phận người nông dân trong
Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng
sông Mỉa của Đào Thắng
2.1.2.49 Chương 3: Nghệ thuật miêu tả văn hóa nông thôn trong Mảnh
đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Dòng sông Mỉa của
Đào Thắng
2.1.2.50
NỘI DUNG
Chương 1
2.1.2.51 ĐÈ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN
ĐẠI
về khái niệm này.
2.1.2.55
Theo Đại từ điển tiếng Việt (1998), (Nguyễn Như Ý chủ biên,
Nxb Văn hóa - thông tin) thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con
người sảng tạo ra trong lịch sử”.
2.1.2.56
Trong Từ điển tiếng Việt (2004), (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Đà
Nằng và Trung tâm Từ điển học) đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa:
2.1.2.57
+ Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tỉnh
thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử.
2.1.2.58
+ Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh
thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự
tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội.
2.1.2.59
hóa Việt Nam ”(2012)( Nxb Tổng họp Tp. Hồ Chí Minh), cho rằng: “ Văn hóa là một
hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tỉnh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua
quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự
nhiên và xã hội của mình. ”
2.1.2.65
Theo tổ chức Giáo dục và Khoa học của liên hiệp quốc
UNESSCO: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc
kia. ” Còn Trần Quốc Vượng trong cuốn sách “Cơ sở văn hóa Việt Nam” (2004),
(Nxb Giáo dục) đã nhận định: “Vẫn hóa được xem là sản phẩm do con người sảng
tạo, có từ thủa bình minh của xã hội loài người. ”
2.1.2.66
Đồng chí Phạm Văn Đồng trong một bài nói chuyện khẳng
định: “Văn hóa là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử của dân tộc, nó làm nên sức
sổng mãnh liệt, giúp cộng đồng dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao sóng gió và thác
gềnh tưởng chừng không thể vượt qua được, để không ngừng lớn mạnh và phát triển
2.1.2.67
Như yậy từ những khái niệm trên có thể thấy văn hóa là một
tổng thể những hệ thống biểu trưng chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong một cộng
Một số nhà nghiên cứu khác, khi phân tích đặc trưng văn hóa
của xã hội nông thôn truyền thống đã tổng họp các đặc trưng cơ bản sau:
1. Xã hội nông thôn truyền thống lẩy nông nghiệp làm gốc, trọng nông ức thương, coi
trọng tước vị và lãnh nghiệm.
2. Đề cao tỉnh thần cộng đồng, không đề cao sự khác biệt, đa dạng, cá nhân chịu sự
khổng chế và giám sát của cộng đồng.
3. Tư tưởng cào bằng không chấp nhận sự nổi trội về mức sổng và lổi
2.1.2.70
sổng.
4. Những giá trị chung được xã hội khuyến khích là gìn giữ tình làng nghĩa xóm, trọng
cội nguồn, tổ tiên, lòng biết ơn công lao của các bậc tiền nhãn, phát huy tinh thần
tương thần tương ái.
2.1.2.71
Phan Đại Doãn trong cuốn ‘‘‘'Làng xã Việt Nam - một sổ vẩn đề
kỉnh tể, văn hóa, xã hội” (2004), (Nhà xuất bản chính trị quốc gia) đưa ra hai đặc điểm
chính của văn hóa truyền thống làng xã Việt, đó là:
2.1.2.72
Nền văn hóa của xã hội nông nghiệp thể hiện rõ ở tỉnh thần
2.1.2.75
Trong làng xã Việt Nam truyền thống tồn tại nhiều mối dây liên
hệ gắn chặt các cá nhân trong cộng đồng với nhau. Nông thôn Việt Nam dày đặc
những mối quan hệ chặt chẽ về nghề nghiệp, dân cư, tổ chức, quan hệ xã hội, người
dân nông thôn Việt Nam luôn chịu sự chi phối mạnh của ít nhất một tổ chức nào đó
trong suốt cuộc đời mình, họ có vô vàn mối liên kết không thể và không dám gỡ bỏ:
phải phục tùng lệ làng, lệ họ, lệ phường, lệ hội... xét về ý nghĩa xã hội thì những ràng
buộc chặt chẽ của cộng đồng là chỗ dựa cho cá nhân khi có sự cố, nó cũng tạo nên sức
kiềm chế có hiệu quả đối với hành vi sai lệch của cá nhân, xong các liên kết này cũng
tạo nên tính thụ động, ỷ lại ăn sâu bám rễ trong tính cách người dân nông thôn truyền
thống.
1.1.2.
Văn hóa nông thôn trong văn học
2.1.2.76
Với phần lớn dân số Việt Nam có xuất thân từ nông thôn nên
văn học dù viết về chốn thôn dã hay thành thị đều ít nhiều mang dấu ấn cảm thức về
nông thôn. Bắt đầu từ văn học dân gian - chiếc cầu nối chuyển tải những tâm tư tình
cảm của con người, ngợi ca cuộc sống của nhân dân, thì đề tài nông thôn đã trở thành
đề tài chủ đạo trong các bài ca dao dân ca. Chúng ta bắt gặp những câu ca chan chứa
tình cảm như:
2.1.2.85 “Đất thiểu trồng dừa, đất thừa trồng cau ”.
2.1.2.86 “Con trầu là đầu cơ nghiệp ”.
2.1.2.87 “Người đẹp vì lụa, lúa tốt vì phần ”...
2.1.2.88 Tục ngữ
2.1.2.89
Trong các câu chuyện từ thần thoại, sử thi, đến truyện cổ tích,
truyện cười thì hình ảnh người nông dân lao động và cuộc sống của họ cũng đi vào
trong văn học một cách tự nhiên và hồn hậu. Đó là cô Tấm (Tẩm Cám), Lang Liêu
(Bánh chưng bánh giày), Mai An Tiêm trong (Sự tích dưa hấu),...
2.1.2.90
Sang đến văn học trung đại đề tài nông thôn hiện lên qua cuộc
sống ẩn dật của những nhà nho nhàn tản, bỏ chốn phồn hoa, cửa quyền nhiều ganh đua
để tìm về với thôn dã như: Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Khuyến. Đó là:
2.1.2.91
“Thu ăn măng trúc
đông ăn giả Xuân tẳm hồ sen, hạ
tẳm ao”
2.1.2.92
(Nhàn - Nguyễn Bỉnh
2.1.2.98
2.1.2.99
(Chốn quê Nguyễn Khuyến)
Hoặc
2.1.2.100
“Sớm trưa dưa muối
cho qua bữa Chợ bủa trầu cau chẳng
dám mua”
2.1.2.101
2.1.2.102
(Chốn quê Nguyễn Khuyến)
Đó cũng có thể là một nông thôn nghèo đói, lạc hậu và tăm tối
trong sáng tác của những nhà văn hiện thực như Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng
Phụng. Nhưng cũng có thể là một nông thôn thanh bình yên ả, tuy nghèo đói nhưng
chan chứa tình người trong những trang viết của Thạch Lam.
2.1.2.103
Như yậy có thể thấy, một cách rất tự nhiên và hồn hậu, văn hóa
Tây, dẫn đến sự ra đời của các thể loại văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ... đã
làm thay đổi căn bản quan niệm và diện mạo văn học truyền thống từ văn học giáo
huấn sang văn học hiện thực. Một trong những vấn đề nóng được nhiều tác giả quan
tâm và phản ánh là đề tài nông thôn và cuộc sống của người nông dân trước những
biến chuyển đổi thay của xã hội. Các tác giả tiêu biểu của thời kì này có thể kể đến
như: Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nam
Cao, Ngô Tất Tố.
2.1.2.106
Phạm Duy Tốn (1881 - 1947) với các truyện ngắn tiêu biểu:
Nước đời lắm nỗi, Con người Sở Khanh, sổng chết mặc bay... đã phản ánh thực trạng
xã hội bất công, thối nát đương thời bằng việc miêu tả hình ảnh người nông dân đói
khát, chết chóc vì lũ lụt và phải tha phương tìm kế sinh nhai trong xã hội thực dân nửa
phong kiến lúc bấy giờ. Hoặc miêu tả sự đối lập gay gắt giữa một bên là hàng ngàn
dân phu đang phải vật lộn với mưa lũ trong cảnh đất trời tối tăm đầy tai họa và một
bên là viên quan huyện đang đánh tổ tôm cùng đám nha lại có lính tráng phục vụ giữa
làng. Bằng ngòi bút sắc sảo của mình, tác giả đã làm xúc động biết bao thế hệ người
đọc.
2.1.2.107
Bên cạnh đó, Hồ Biểu Chánh (1900 - 1930) - nhà văn tiêu biểu
của văn học Nam Bộ nói riêng, văn học Việt Nam nói chung được đánh giá là tác giả
được nhiều người ưa thích, nhà viết tiểu thuyết đáng chú ý nhất của thời kì này. Tác
phẩm của ông với lối viết bình dị, ngôn ngữ gần gũi với lời nói hàng ngày và vốn sống
phong phú đã đề cập đến hiện thực rất nhiều mặt ở nông thôn Nam Bộ. Ở đó, hình ảnh
lại trong tiểu thuyết Bước đường cùng, và hàng loạt những truyện ngắn trào phúng:
Đồng hào có ma, Tinh thần thể dục, Chiếc quan tài... nhà văn đã thể hiện cái nhìn sắc
sảo và sâu sắc hơn khi phản ánh cuộc sống của người nông dân cùng với đó là tấm
lòng cảm thương, trân trọng trước hoàn cảnh sống của họ.
2.1.2.111
Ngô Tất Tố (1894-1954) - một nhà nho, sinh sống và gắn bó
máu thịt với những người nông dân ở làng quê nên ông thấu hiểu cảm thông và trân
trọng họ. Qua hai thiên phóng sự Việc làng và Tập án cái đình các tệ nạn xã hội cũng
như các hủ tục chốn làng quê được Ngô Tất Tố phanh phui. Tuy vậy phải đến
2.1.2.112
Tắt đèn (1939) tác phẩm xác định yị trí đầy vinh dự của ông trong lịch
sử văn học Việt Nam hiện đại và khẳng định dứt khoát Ngô Tất Tố xứng đáng với
danh hiệu nhà văn của nông thôn và người nông dân. Tắt đèn là một bản cáo trạng
đanh thép về chế độ thực dân phong kiến xấu xa đẩy người dân vào đói khổ điêu đứng.
Đồng thời tác phẩm đã rung lên hồi chuông làm thức tỉnh những người có mong muốn
hủy bỏ chế độ thuế thân - một thứ thuế dã man thời trung cổ đánh vào đầu người đang
sống và cả người đã chết. Bên cạnh đó, Tắt đèn còn xây dựng hình ảnh người phụ nữ
nông dân đẹp người đẹp nết (chị Dậu) dám đứng lên chống trả bọn thống trị. Đúng
như Vũ Trọng Phụng đã nói: Tắt đèn là một thiên tiểu thuyết... hoàn toàn phụng sự dân
quê, một áng văn có thể gọi là kiệt tác.
2.1.2.113