ĐÁNH GIÁ tác ĐỘNG của VIỆC sản XUẤT gốm tới một số yếu tố môi TRƯỜNG tại LÀNG NGHỀ gốm bát TRÀNG ở xã bát TRÀNG HUYỆN GIA lâm, THÀNH PHỐ hà nội - Pdf 36

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT GỐM TỚI MỘT SỐ
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ GỐM BÁT TRÀNG Ở
XÃ BÁT TRÀNG HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

HÀ NỘI, NĂM 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

PHẠM THỊ HỒNG NHUNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC SẢN XUẤT GỐM TỚI MỘT SỐ
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG TẠI LÀNG NGHỀ GỐM BÁT TRÀNG Ở
XÃ BÁT TRÀNG HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Sinh thái học
Mã số
: 60.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Hoàng Trí




DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

5


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BOD (Biological Oxigen Demand)

Nhu cầu oxi sinh học

COD (Chemical Oxigen Demand)

Nhu cầu oxi hóa học

CSSX

Cơ sở sản xuất

M1, M2, M3, M4

Mẫu 1, Mẫu 2, Mẫu 3, Mẫu 4

OXH-K

Oxi hóa – khử

QCVN

thành công và đưa vào sử dụng lò nung gốm bằng gas ở Bát Tràng, vừa giảm
được 50-60% lượng khói bụi và khí CO2, vừa tiết kiệm được gần 30% chi phí
so với lò đốt bằng than. Theo thống kê mới nhất của xã Bát Tràng thì có
khoảng 95% các hộ sản xuất đã chuyển từ lò nung bằng than sang lò nung
gas. Tuy nhiên, do chi phí xây dựng, lắp đặt lò gas khá cao (khoảng 100 - 150
triệu đồng/lò), nên nhiều gia đình chưa đầu tư xây. Vì vậy, môi trường ở Bát
Tràng vẫn còn nhiều mối nguy hiểm đe dọa.
Theo khảo sát mới đây của Sở Tài nguyên - Môi trường và Nhà đất
Hà Nội, lượng bụi ở đây vượt quá mức tiêu chuẩn môi trường 3 - 3,5 lần,
nồng độ các khí CO 2, SO2 trong không khí đều vượt quá tiêu chuẩn cho
phép từ 1,5 - 2 lần.
Càng đi sâu vào trong làng, ô nhiễm càng nặng. Khắp nơi bao phủ một
lớp bụi đất nung, bụi gốm. Con đường vào làng bụi mù mịt, nhất là khi có ôtô
chạy qua.
Không chỉ thải bụi, trung bình mỗi lò nung gốm bằng than ở Bát Tràng
thải ra khoảng 2,5 tấn chất thải rắn cho mỗi mẻ nung. Cùng với đó, phế phẩm,

7


phế liệu đất nung, gốm, sứ vỡ, hỏng chất thành những đống bên đường; mỗi
khi mưa xuống, đường lầy lội.
Bên cạnh đó, trong quá trình sản xuất gốm sứ, những hóa chất dùng để
nâng cao chất lượng, bảo quản sản phẩm, để làm chất liệu men, sơn vẽ... đã
gây hại trực tiếp cho sức khỏe của người tham gia sản xuất và tác động lâu dài
đến cả những vùng xung quanh.
Thực trạng nêu trên khiến nhiều người làm việc hoặc sống ở Bát Tràng
đều bị mắc bệnh về đường hô hấp như viêm họng, viêm phổi, viêm xoang hay
đau mắt... Mặc dù mức độ ô nhiễm là đáng báo động, song người dân chỉ thực
hiện các biện pháp đơn giản như phun nước để giảm bụi, đội mũ kín, đeo

nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20-30% đã giải quyết được 12
triệu lao động dư thừa ở nông thôn (Trần Minh Yến, 2003) [20].
Gốm xuất hiện từ sau khi con người phát minh ra lửa và rời hang núi
hốc đá, cất nhà ở để định cư vài nghìn năm trước, ở những quốc gia có nền
văn minh sớm phát triển như Ai Cập cổ đại, Ấn Độ cổ đại, Trung Quốc, Hy
Lạp… Hiện nay, ngoài mô hình sản xuất gốm truyền thống, gốm được sản
xuất theo mô hình công nghiệp với những cơ sở sản xuất lớn nhỏ, các làng
nghề gốm không phổ biến, chỉ phổ biến ở châu Á.
2.2.

Nghiên cứu làng nghề ở Việt Nam
Ở Việt Nam, làng nghề là mô hình kinh tế rất phát triển ở nông thôn
Việt Nam. Vấn đề làng nghề được đề cập đến qua nhiều thời kỳ, với những
khía cạnh và các mục đích khác nhau.

-

Trên khía cạnh kinh tế, văn hoá, xã hội có nhiều công trình nghiên cứu về
làng nghề ở nhiều cấp, như: “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” của
Bùi Văn Vượng (1998), tác giả đã tập trung trình bày các loại hình làng nghề
truyền thống như: đúc đồng, rèn, gốm, trạm khắc đá, giấy dó, tranh dân
gian… Ở đây chủ yếu giới thiệu lịch sử, kinh tế, văn hóa, nghệ thuật, tư
tuởng, kỹ thuật, các bí quyết nghề, thủ pháp nghệ thuật, kỹ thuật của các nghệ
nhân và các làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam [19]. “Phát triển làng
nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện

9


đại hoá” của Trần Minh Yến (2003). Ngoài ra còn có các đề tài khoa học về

nghề” .Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng đến phát triển kinh tế và bảo
vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát triển và mức độ ô nhiễm đến
năm 2010, một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làng
nghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại
hình làng nghề của Việt Nam [6].
Bên cạnh đó còn có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác
về tình trạng môi trường và sức khỏe tại các làng nghề:
Nghiên cứu về “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng
nghề Việt Nam”, các tác giả Nguyễn Thị Hồng Tú, Nguyễn Thị Liên Hương,
Lê Văn Trình (2005) đã nêu một số nét về lịch sử phát triển làng nghề Việt
Nam, môi trường và sức khỏe người lao động, an toàn sản xuất làng nghề, các
biện pháp phòng ngừa [14].
Đề tài nghiên cứu “Đánh giá hiện trạng môi trường đất, nước tại một số
làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh và đề xuất giải pháp giảm thiểu ô
nhiễm” (Nguyễn Thị Thắm, 2012) cho thấy môi trường và tình trạng sức khỏe
của người dân tại các làng nghề trong tỉnh Bắc Ninh đều trong tình trạng báo
động. Tỷ lệ người lao động có phương tiện bảo hộ đạt tiêu chuẩn vệ sinh lao
động thấp, 100% các hộ sản xuất nước thải không qua xử lý, đổ thẳng ra cống
rãnh; nồng độ các chất khí gây ô nhiễm cho môi trường ( H 2S, NH3…) cao; tỷ
lệ người mắc bệnh hô hấp, tiêu hóa, ngoài da chiếm tỷ lệ cao [12].
Lê Thị Việt Hà và cộng sự (2004) đã nghiên cứu về làng nghề sản xuất
tinh bột sắn Dương Liễu (Hà Nội) đã đánh giá làng nghề bị ô nhiễm nặng với
thông số BOD5, COD, TSS của nước thải vượt quá TCCP hàng chục lần [8].
Nguyễn Quang Trung, Hoàng Thu Thủy (2004) đã chỉ ra một số đặc
trưng về phát triển làng nghề nông thôn Việt Nam, nguyên nhân gây ô nhiễm
tại các làng nghề. Nguyên nhân gây ô nhiễm nước chủ yếu là quá trình xử lý
công nghiệp như: chế biến lương thực thực phẩm, mây tre, dệt, in, tẩy giấy và

11




-

Đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm giảm thiểu nguồn gây ô nhiễm môi
trường, giảm tỷ lệ mắc các bệnh thường gặp của người dân. Từ đó, phát triển

bền vững làng nghề gốm truyền thống.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các cơ sở, các hộ tham gia sản xuất gốm tại
làng nghề gốm Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội:
Quy trình sản xuất → chất thải → môi trường → con người
Địa điểm nghiên cứu: làng nghề gốm Bát Tràng, xã Bát Tràng, huyện
Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
5. Ý nghĩa và những đóng góp mới của luận văn
5.1. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở để đánh giá mức độ ô nhiễm môi
trường làng nghề gốm Bát Tràng, đồng thời cũng là nguồn tài liệu phục vụ
cho các nghiên cứu sau này.
Tìm hiểu và đánh giá thực trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động sản
xuất gốm có ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.
Từ những nghiên cứu đề ra những giải pháp khắc phục.
5.2. Những đóng góp mới của luận văn
Công trình nghiên cứu tại làng nghề Bát Tràng, huyện Gia Lâm, thành
phố Hà Nội dựa trên cơ sở tiếp cận sinh thái nhân văn và tiếp cận hệ thống.
Nội dung luận văn đã nghiên cứu một cách tổng quát các đặc điểm của môi
trường tự nhiên và xã hội, đánh giá được ảnh hưởng của hoạt động sản xuất
gốm tới môi trường và người dân địa phương, để từ đó đưa ra những giải
pháp tốt nhất để phát triển bền vững làng nghề Bát Tràng.


+ Sau khi lấy mẫu thì bảo quản lạnh 0-5 oC, và nhanh chóng mang về
phòng thí nghiệm để phân tích.

14


Hình 1. Lấy mẫu ngoài thực địa
• Phương pháp phân tích mẫu ngoài thực địa (phân tích không khí ngoài thực

địa):
+ Dụng cụ: hệ thống phân tích chất lượng không khí xung quanh. Phân
tích thành phần khí ngoài thực địa gồm có CO, O2, NO, NO2, SO2, CO2.
+ Tiến hành phân tích mẫu: phân tích tại 3 điểm, khoảng cách từ địa điểm lấy
mẫu đến nguồn phát thải lần lượt là r1= 5m, r2=10m, r3=100m; chiều cao điểm
đo tối thiểu là 1,5m.
Lò nung

r1
r2
r3

Hình 2. Sơ đồ vị trí đo mẫu không khí ngoài thực địa
6.2. Phương pháp phân tích mẫu và xử lý số liệu
- Phân tích mẫu nước: Thiết bị đo đa chỉ tiêu nước TOA WQC-24 và
máy đo BOD Velp - Italia. Các thông số máy có thể đo được gồm có: pH, DO,

15


độ đục, độ mặn, độ sâu nước, ORP, Tổng hàm lượng chất rắn hòa tan (TSS),

900 năm phát triển, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) có gần 500 năm tồn
tại, nghề chạm bạc ở Đồng Xuân (Thái Bình) hay nghề điêu khắc đá mỹ nghệ
Non Nước (Đà Nẵng) cũng đã hình thành cách đây hơn 400 năm, … (Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường, 2009). Nếu đi sâu vào tìm hiểu nguồn gốc của các
sản phẩm từ các làng nghề đó, có thể thấy rằng hầu hết các sản phẩm này ban
đầu đều được sản xuất để phục vụ sinh hoạt hằng ngày hoặc là công cụ sản
xuất nông nghiệp, chủ yếu được làm trong lúc nông nhàn. Kỹ thuật, công
nghệ, quy trình sản xuất cơ bản để làm ra các sản phẩm này được truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác [4].
Trước đây, làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất sản phẩm thủ
công mà còn là điểm văn hóa của khu vực, của vùng. Làng nghề là nơi hội tụ
những thợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi đã gắn liền với sản phẩm
trong làng. Ngoài ra, làng nghề cũng chính là điểm tập kết nguyên vật liệu, là
nơi tập trung những tinh hoa trong sản xuất sản phẩm của làng. Các mặt hàng
sản xuất ra không chỉ phục vụ sinh hoạt hàng ngày mà còn bao gồm các sản
phẩm mỹ nghệ, đồ thờ cúng, dụng cụ sản xuất … Nhằm đáp ứng các nhu cầu
thực tế của thị trường khu vực lân cận (Nguyễn Thị Thắm, 2012) [12].
Trong vài năm gần đây, làng nghề đã thay đổi nhanh chóng theo nền
kinh tế thị trường, các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp phục vụ tiêu
dùng trong nước và xuất khẩu được tạo điều kiện phát triển. Quá trình công
nghiệp hóa cùng với việc áp dụng các chính sách khuyến khích phát triển
ngành nghề nông thôn, thúc đẩy sản xuất tại các làng nghề đã tăng mức thu
nhập bình quân của người dân nông thôn.Các công nghệ mới đang ngày càng
được áp dụng phổ biến. Các làng nghề mới và các cụm làng nghề không
17


ngừng được khuyến khích phát triển nhằm đạt được sự tăng trưởng, tạo công
ăn việc làm và thu nhập ổn định ở khu vực nông thôn.
Do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như vị trí địa lí, đặc điểm tự

173

Chế biến,
nông sản,
thực phẩm
134
42
21
197

Tái chế phế
liệu
61
24
5
90

Thủ công
mĩ nghệ

Vật liệu xây Nghề khác
dựng, gốm
sứ
404
17
222
121
9
77
93


như nấu rượu, làm bánh đa nem, đậu phụ, miến dong, bún, bánh đậu xanh…
với nguyên liệu chính là gạo, ngô, khoai, sắn và gắn với hoạt động chăn nuôi
ở quy mô gia đình.
- Làng nghề tái chế phế liệu: các làng nghề thuộc nhóm này chủ yếu là mới
hình thành nhưng lại rất phát triển. Đây là nhóm làng nghề tận dụng phế liệu
làm nguyên liệu cho sản xuất. Nhờ đó mà giảm chi phí đầu tư, giảm lượng
chất thải gây ô nhiễm môi trường. Các làng nghề tái chế chiếm 6,21% tổng số
làng nghề ở nước ta, và được chia thành ba loại cơ bản: tái chế giấy, tái chế
kim loại và tái chế nhựa, tập trung chủ yếu ở miền Bắc.
- Làng nghề thủ công mỹ nghệ: đây là nhóm làng nghề chiếm số lượng lớn nhất
trong tổng số làng nghề của cả nước (618 làng nghề thủ công mỹ nghệ, chiếm
42.62%). Sản xuất thủ công mỹ nghệ là ngành sản xuất gắn liền với truyền
thống lâu đời, nhiều sản phẩm có giá trị văn hoá cao, mang đậm bản sắc văn
hoá dân tộc. Nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ yêu cầu chất lượng cao cả về
giá trị thẩm mỹ nghệ thuật nên các lao động trong cơ sở sản xuất phải có tay
nghề cao. Tại một số làng nghề, quá trình sản xuất được chuyên môn hoá chặt
chẽ, lao động chuyên môn được lựa chọn kỹ càng. Tuy nhiên, công nghệ sản
xuất hầu như mang tính thủ công.
- Làng nghề vật liệu xây dựng, gốm sứ: ngành sản xuất vật liệu xây dựng và
gốm sứ đã tồn tại từ hàng trăm năm nay, tập trung ở những vùng có khả năng
cung cấp nguyên liệu cho hoạt động sản xuất. Mặc dù số lượng làng nghề
không nhiều (chỉ chiếm 2,14%) nhưng sản phẩm của các làng nghề này đã
đáp ứng được nhu cầu xây dựng ngày càng tăng ở nước ta, đặc biệt là ở vùng
nông thôn. Các loại hình sản xuất chủ yếu bao gồm khai thác đá, nung vôi,
đóng gạch và sản xuất gốm sứ. Quy mô và loại hình sản xuất rất tuỳ thuộc vào
nhu cầu thị trường địa phương và các vùng lân cận xung quanh làng nghề.
- Các nhóm nghề khác: bao gồm các làng nghề chế tạo công cụ thô sơ như cày
bừa, cuốc xẻng, liềm hái, mộc gia dụng, đóng thuyền, đan lưới, đan vó…


Dệt nhuộm, ươm
tơ, thuộc da
Thủ công mỹ nghệ

Bụi, CO, SO2,
NOx, CH4
Bụi, CO, SO2,
NOx, hơi axit,
hơi kiềm
Bụi, CO, SO2,
SiO2, HF, hơi
xăng, dung
môi, oxit Fe,

Các dạng chất thải
Nước thải
Chất thải rắn
BOD5, COD, TSS,
tổng N, tổng P,
Coliform
BOD5, COD, tổng N,
độ màu, hoá chất,
thuốc tẩy, Cr6+
BOD5, COD, TSS, độ
màu, dầu mỡ công
nghiệp

21

Xỉ than, chất thải

màu, độ pH, dầu
mỡ, CN-, kim loại

Bụi giấy, tạp chất
từ giấy phế liệu, xỉ
than, rỉ sắt, vụn kim
loại nặng

TSS, Si, Cr

Xỉ than, xỉ đá, đá
vụn

Ô nhiễm nhiệt

Ô nhiễm nhiệt,
ô nhiễm tiếng
ồn, độ rung
(Nguồn: Tổng cục môi trường tổng hợp, 2008)

Theo nhận định của Tổng cục môi trường (bộ Tài Nguyên và Môi
Trường), ô nhiễm môi trường làng nghề chủ yếu tại các làng nghề hiện nay là
ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước (nước mặt, nước ngầm). Mức độ ô
nhiễm tại các làng nghề ngày một gia tăng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước.
• Tác động của làng nghề tới xã hội
 Tác động của sản xuất làng nghề tới kinh tế - xã hội
+ Góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Trong quá trình phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực góp phần
tăng tỉ trọng nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, chuyển lao động

Nhiều làng nghề không những thu hút lực lượng lao động lớn ở địa
phương mà còn tạo việc làm cho nhiều lao động ở các địa phương khác.
Hơn nữa, sự phát triển của các làng nghề đã phát triển và hình thành
nhiều nghề khác; nhiều hoạt động dịch vụ liên quan xuất hiện, tạo thêm nhiều
việc làm mới, thu hút nhiều lao động. Mặt khác, việc phát triển các ngành
nghề tại các làng nghề ở nông thôn sẽ tận dụng tốt thời gian lao động, khắc
phục được tính thời vụ trong sản xuất nông nghiệp, góp phần phân bổ hợp lí
lực lượng lao động nông thôn. Vai trò tạo việc làm của các làng nghề còn thể
hiện rất rõ ở sự phát triển lan toả sang các làng khác, vùng khác, đã giải quyết
việc làm cho nhiều lao động, tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
ở vùng đó.
Đặc biệt, việc mở rộng thị trường xuất khẩu sản phẩm truyền thống
mang ý nghĩa rất quan trọng. Trên phương diện kinh tế, xuất khẩu hàng thủ

23


công mỹ nghệ truyền thống đã đem lại kim ngạch xuất khẩu hàng trăm triệu
USD mỗi năm. Trên phương diện xã hội, xuất khẩu hàng thủ công truyền
thống là nhân tố quan trọng để kích thích sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập
cho hàng triệu lao động thủ công chuyên nghiệp và nhàn rỗi. Qua tổng kết
thực tiễn, đã tính toán được rằng cứ xuất khẩu được 1 triệu USD hàng thủ
công mỹ nghệ thì tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 3000-4000 lao động
(Sở Tài nguyên va môi trường tỉnh Quảng Ngãi, 2011)[18].
Như vậy, vai trò của làng nghề rất quan trọng, được coi là động lực trực
tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu
nhập cho người lao động. Ở đâu có làng nghề phát triển thì ở đó có thu nhập
và mức sống cao hơn so với vùng thuần nông.
+ Thu hút vốn nhàn rỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn
chế di dân tự do

nhập cho người lao động mà còn có vai trò tích cực trong việc hạn chế dòng
di dân tự do ra đô thị.
+ Đa dạng hóa kinh tế nông thôn, thúc đẩy quá trình đô thị hóa
Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là một trong những nội dung quan trọng
của công nghiệp hóa nông thôn. Đa dạng hóa kinh tế nông thôn là biện pháp
thúc đẩy kinh tế hàng hóa ở nông thôn phát triển, tạo ra sự chuyển biến mới
về chất, góp phần phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn. Vì vậy, phát
triển làng nhề là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện quá trình
đô thị hóa.
Trong mối quan hệ biện chứng của quá trình sản xuất hàng hóa, các
nghề thủ công truyền thống đã phá vỡ thế độc canh trong các làng thuần nông,
mở ra hướng phát triển mới với nhiều nghề trong một làng nông nghiệp. Đồng
thời cùng với sự sản xuất nông nghiệp, làng nghề đã đem lại hiệu quả cao
trong việc sử dụng hợp lí các nguồn lực ở nông thôn như đất đai, vốn , lao
động, nguyên vật liệu, công nghệ, thị trường. Vì vậy, một nền kinh tế hàng
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status