ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HUYỀN
Ph¸p luËt vÒ qu¶n lý thuÕ thu nhËp c¸ nh©n
ë ViÖt Nam - Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU HUYỀN
Ph¸p luËt vÒ qu¶n lý thuÕ thu nhËp c¸ nh©n
ë ViÖt Nam - Thùc tr¹ng vµ gi¶i ph¸p
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS LÊ THỊ THU THỦY
HÀ NỘI - 2015
LỜI CAM ĐOAN
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý thuế thu nhập cá nhân......10
1 .2 .
K h á i n i ệ m, n ộ i d u n g c ủ a p h á p l u ậ t q u ả n l ý t h u ế t h u n h ậ p
cá nhân...............................................................................................13
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân ...........................13
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về quản lý thuế thu nhập cá nhân......14
1.3.
Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về quản lý thuế thu
nhập cá nhân......................................................................................21
Kết luận chương 1 .........................................................................................30
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM...........................................31
2.1.
Quản lý đối tượng nộp thuế ............................................................. 31
2.1.1. Xác định đối tượng nộp thuế............................................................... 31
2.1.2. Quản lý thông tin người nộp thuế .......................................................32
2.1.3. Đăng ký và cấp mã số thuế .................................................................34
2.2.
Quản lý thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân...............................42
2.3.
3.1.2. Đơn giản hóa biểu suất thuế lũy tiến...................................................81
3.1.3. Quản lý miễn, giảm thuế TNCN, hoàn thuế TNCN ...........................81
3.1.4. Về các mẫu biểu, tờ khai thuế, quyết toán thuế ..................................83
3.2.
Các giải pháp khác ............................................................................83
3.2.1. Tăng cường các biện pháp quản lý thông tin người nộp thuế.............83
3.2.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và hoàn thiện quy
định pháp luật về nộp thuế điện tử......................................................84
3.2.3. Tích cực tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế và xử lý
vi phạm pháp luật thuế TNCN ............................................................85
3.2.4. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về luật thuế
TNCN và nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ nghiệp vụ của
đội ngũ cán bộ thuế .............................................................................87
3.2.5. Phối hợp đồng bộ giữa các ngành trong công tác quản lý thuế
thu nhập cá nhân.................................................................................. 89
3.2.6. Tăng cường sự hỗ trợ của các cơ quan trung gian trong quản lý
thuế thu nhập cá nhân..........................................................................90
Kết luận chương 3 .........................................................................................92
KẾT LUẬN ....................................................................................................93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................94
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH
CMND
CNTT
Để đảm bảo phát triển kinh tế xã hội ổn định, bền vững và chủ động hội nhập
kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay, việc hoàn thiện các chính sách tài chính trong
đó có hệ thống chính sách thuế nói chung, thuế TNCN nói riêng là việc hết sức cần
thiết, nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ phân bổ nguồn lực đồng thời giải quyết tốt các mối
quan hệ giữa tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng, giữa tăng trưởng với công bằng xã hội và
xoá đói giảm nghèo.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đại hội Đảng lần thứ X về chính sách thuế theo
hướng "Áp dụng thuế TNCN thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo
đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển…", Quốc hội đã thông qua Luật thuế
TNCN ngày 21 tháng 11 năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Luật thuế
TNCN năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013 nhằm mục đích đảm
bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, góp phần hạn chế
khoảng cách về thu nhập trong xã hội và khuyến khích mọi cá nhân lao động, sản xuất
kinh doanh, gia tăng thu nhập để làm giàu chính đáng. Tuy nhiên để luật thuế TNCN
phát huy tính hiệu quả và mục tiêu ban đầu đã được đặt ra thì yếu tố quyết định chính là
công tác quản lý thuế TNCN. Hiện nay, khi nền kinh tế của nước ta đang ngày càng
phát triển, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước để giải quyết các vấn đề an ninh, quốc phòng, an sinh xã hội, phát triển sự
nghiệp giáo dục, y tế,… cũng ngày càng gia tăng; thêm vào đó, việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế dẫn đến việc thu ngân sách cũng thay đổi theo hướng nguồn thu từ tích luỹ trong
nước được tăng dần và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng thu NSNN. Thuế
TNCN cũng như các sắc thuế khác đều góp phần ổn định thu cho NSNN trong quá
trình hội nhập. Vì vậy, việc quản lý thuế TNCN cần phải từng bước thực hiện được việc
quản lý các đối tượng nộp thuế, các khâu trong quá trình thực hiện việc thu thuế, tiến tới
kiểm soát được thu nhập nhưng vẫn phải đảm bảo tính công bằng, minh bạch và công
1
khai, nhằm hướng tới mục tiêu phục vụ cho công tác hoạch định chính sách phát
luật thuế TNCN qua các số liệu, thống kê thu thập được.
Phương pháp hệ thống: coi pháp luật quản lý thuế TNCN là một bộ phận cấu
thành của pháp luật quản lý thuế để tiến hành nghiên cứu.
4
Phương pháp so sánh: Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam và
các quy định của pháp luật nước ngoài về thuế TNCN, qua đó học hỏi kinh nghiệm và
rút ra những "bài học" để sửa đổi các quy định pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế
xã hội của quốc gia mình, trên cơ sở đó nâng cao hiệu quả quản lý thuế TNCN ở Việt
Nam.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Trong lĩnh vực luật thuế TNCN, đã có nhiều những bài viết, những đề tài
nghiên cứu. Nhưng, nội dung chính của những nghiên cứu ấy thường tập trung xoay
quanh những vấn đề chung của luật thuế TNCN, cũng như thường tiếp cận dưới góc độ
quản lý đơn thuần, hoặc một khía cạnh của luật thuế, những bất cập của pháp luật thuế
TNCN; chứ chưa tập trung khai thác sâu dưới góc độ pháp lý về vấn đề quản lý thuế
TNCN. Vì vậy, nội dung nghiên cứu của luận văn này có tính mới hơn so với những đề
tài trước đó, thêm nữa, dựa trên tinh thần của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế
TNCN số 26/2012/QH13 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số
71/2014/QH13, nên trong bài phân tích sẽ tập trung vào các quy định pháp luật mới
được sửa đổi, bổ sung và các số liệu được cập nhật gần với thực tiễn hơn so với những
công trình nghiên cứu trước.
Những đóng góp khoa học của đề tài:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết về hoạt động quản lý thuế TNCN nói
chung và pháp luật về quản lý thuế TNCN nói riêng.
- Làm sáng tỏ thực trạng pháp luật quản lý thuế TNCN của nước ta từ khi luật
thuế TNCN có hiệu lực cho đến nay.
Hiện nay trên thế giới có 02 phương pháp đánh thuế: (1) Có nước tính thuế vào
từng khoản thu nhập thực tế của mỗi cá nhân, (2) có nước tính thuế trên tổng
thu nhập của cả hộ gia đình:
Cách thứ nhất được áp dụng phổ biến ở Anh, Nhật, Thụy Ðiển, các nước Châu
Phi, Liên Xô, Hunggari, Tiệp khắc... Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện,
đảm bảo thu kịp thời vào NSNN. Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân
phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả và đáp ứng
được sự công bằng xã hội và nhất là đối với những cá nhân có nhiều khẩu ăn theo.
Cách thứ hai được áp dụng ở Pháp, Hà Lan...Các chuyên gia cho rằng cách này
công bằng hơn về mặt đạo đức xã hội nhưng không kịp thời vì mỗi gia đình đều có ít
nhất hai người trở lên. Ðã có nhiều người thì sẽ có nhiều khoản thu nhập
6
khác nhau, do đó phải mở sổ sách kế toán, theo dõi từng nguồn thu nhập và phải
đối chiếu với nơi phát sinh thu nhập, vì có nhiều phức tạp nên rất ít quốc gia áp dụng
cách thứ hai.
Như vậy:
Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của từng cá nhân. Do
là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối
tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế TNCN không có khả năng
chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế
[45].
Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối
tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh
thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài;
hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao
gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay
không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo quy định của
sửa đổi bổ sung cho phù hợp. Vì vậy, ngày 22/11/2012, Quốc hội XIII, kỳ họp thứ 4 đã
thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN và Luật số
71/2014/QH13 ngày 26/11/2014 luật sửa đổi bổ sung một số điều của các luật về thuế
để giải quyết phần nào những tồn tại của luật thuế TNCN ở Việt Nam.
1.1.2. Khái niệm quản lý thuế thu nhập cá nhân
Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng là lĩnh vực quản lý
chuyên ngành. Vì vậy, để làm rõ khái niệm quản lý thuế và quản lý thuế TNCN, trước
hết cần tìm hiểu khái niệm quản lý.
Theo từ điển Tiếng Việt, "Quản lý là trông coi và điều khiển các hoạt động nào
đó theo những yêu cầu nhất định". Trong cuốn giải thích thuật ngữ pháp lý Việt Nam thì
giải thích: "Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lý nhằm
đạt được mục tiêu đề ra của tổ chức. Nó nhằm chỉ một tập hợp các hoạt động cần thiết
phải được thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung" [21]. Các khái niệm đều chỉ
ra rằng quản lý là nói đến hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu đã
định thông qua các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và
thúc đẩy hoạt động của những con người trong tổ chức đó.
8
Quản lý thuế là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính
Nhà nước. Trong cuốn "Tài chính công" của Khoa Tài chính Nhà nước Trường Đại học
Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh (2005) thì "Quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ
do cơ quan có chức năng thu NSNN thực hiện"... "Đó là những hoạt động thường xuyên
của cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế đầy đủ, kịp thời và
đúng luật định". Với quan niệm như vậy, quản lý thuế là quản lý thu thuế. Nó bao gồm
xây dựng kế hoạch thu thuế, tổ chức các biện pháp hành thu và tổ chức bộ máy ngành
thuế [47].
Xuất phát từ những phân tích trên, theo tác giả "quản lý thuế là quá trình Nhà
nước sử dụng hệ thống các công cụ và phương pháp thích hợp tác động lên đối tượng
Điều kiện kinh tế
Hiệu quả của pháp luật quản lý thu thuế TNCN phụ thuộc không nhỏ vào
mức độ phát triển kinh tế và đời sống của dân cư. Cùng một đơn vị thu thuế trên một
khu vực, số đối tượng nộp thuế thu nhập nhiều sẽ giảm bớt chi phí trên một đồng thuế
thu được, ngược lại có ít đối tượng nộp thuế và số thuế thu được ít thì chi phí cho một
đồng thuế thu được sẽ cao. Sự phát triển kinh tế sẽ đồng hành với sự phát triển của cơ sở
hạ tầng phục vụ cho công tác quản lý nói chung và công tác quản lý thuế nói riêng, khi
cơ sở hạ tầng tốt thì khả năng quản lý thuế cũng sẽ được đơn giản và hiệu quả hơn. Ở các
nước phát triển, thu nhập bình quân đầu người cao nên thuế TNCN chiếm tỷ trọng lớn
trong tổng thu ngân sách. Việc quản lý đối tượng nộp thuế thông qua việc thanh toán
không dùng tiền mặt chính là yếu tố quan trọng trong công tác quản lý thuế TNCN. Sự
phát triển của hệ thống ngân hàng đi kèm với phát triển hình thức thanh toán qua tài
khoản. Điều này chỉ được thực hiện dễ dàng ở những nước có nền kinh tế phát triển.
Ý thức chấp hành pháp luật của đối tượng nộp thuế
Ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng tỉ lệ thuận
với ý thức và trách nhiệm nộp thuế. Khi người dân có ý thức chấp hành luật thuế tốt, họ
sẽ tự giác trong kê khai, nộp thuế. Hành vi trốn thuế sẽ ít xảy ra. Chính vì vậy, công tác
quản lý thu thuế và thanh tra thuế sẽ gặp nhiều thuận lợi và đạt kết quả tốt hơn. Ý thức
chấp hành pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế là một trong những điều kiện quan
trọng trong thực hiện hoạt động quản lý thuế TNCN.
1.1.3.2. Các yếu tố chủ quan
Cơ sở vật chất của ngành thuế
Nhân tố này có ảnh hưởng mạnh mẽ tới công tác quản lý thuế TNCN. Những
quy định trong chính sách về diện thu thuế (rộng hay hẹp), phương thức kê khai,
11
nộp thuế, quyết toán thuế… phụ thuộc rất nhiều vào khả năng đáp ứng của ngành
thuế. Khả năng này lại phụ thuộc rất lớn vào cơ sở vật chất của ngành thuế. Cơ sở vật
1.2.1. Khái niệm pháp luật quản lý thuế thu nhập cá nhân
Pháp luật quản lý thuế là một bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật
thuế ở mỗi quốc gia, là công cụ chủ yếu được Nhà nước sử dụng để thực hiện công tác
quản lý thuế. Quan hệ thu, nộp giữa Nhà nước và dân cư được thực hiện dựa trên những
căn cứ pháp lý nhất định, đó chính là pháp luật thuế. Trên thế giới có hai xu hướng ban
hành pháp luật về thuế phổ biến: một là quy định gộp các sắc thuế trong một bộ luật
chung về thuế, gọi là thuế vụ; hai là ban hành từng đạo luật riêng cho mỗi loại thuế.
Mỗi xu hướng đều có những ưu, nhược điểm khác nhau và mỗi quốc gia sẽ lựa chọn
một cách xây dựng hệ thống pháp luật phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của
nước mình. Dù được xây dựng, thiết kế theo nguyên tắc nào thì luật quản lý thuế bao giờ
cũng có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý, điều hành chính sách thuế hay
luật quản lý thuế là luật tổ chức thực hiện các luật thuế. Vì vậy, vấn đề hiệu quả của các
luật về chính sách thuế phụ thuộc khá lớn vào luật quản lý thuế. Các đạo luật thuế chính
là pháp luật nội dung, còn pháp luật quản lý thuế là pháp luật thủ tục [23].
Việc đưa ra khái niệm pháp luật quản lý thuế nhằm phân định ranh giới giữa các
nhóm quan hệ xã hội do luật nội dung và luật thủ tục điều chỉnh, qua đó lựa chọn áp
dụng các quy phạm pháp luật phù hợp, đạt được hiệu quả điều chỉnh cao. Tùy theo
những cách hiểu khác nhau mà người ta có thể nhìn nhận và phân tích pháp luật quản lý
thuế theo những căn cứ khác nhau. Từ những phân tích trên, pháp
luật quản lý thuế có thể được định nghĩa như sau:
Pháp luật quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền với NNT và các đối tượng có liên quan nhằm hình thành nguồn thu NSNN phục
vụ cho việc thực hiện các mục tiêu xác định trước.
Để thực hiện hoạt động quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói
riêng, Nhà nước cần ban hành hệ thống quy phạm pháp luật để điều chỉnh. Tuy nhiên:
Ranh giới giữa pháp luật quản lý thuế và pháp luật nội dung các
13
- Xử lý vi phạm pháp luật về thuế.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế [28, Điều 3].
Mỗi sắc thuế lại có những nét riêng trong cách quản lý để phù hợp với thực tiễn
của công tác quản lý chống thất thu thuế. Do đó, pháp luật quản lý thuế TNCN
cần chú trọng nội dung chủ yếu dưới đây:
1.2.2.1. Quản lý các đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu
trừ theo quy định
a. Xác định đối tượng nộp thuế
Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời
là đối tượng nộp thuế. Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan
trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp. Khi tiến
hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là "nơi cư trú"
và "nguồn phát sinh thu nhập".
Theo tiêu thức "nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải
nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một
cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho phần thu nhập
phát sinh tại nước đó.
Theo tiêu thức "nguồn phát sinh thu nhập" lại quy định: một cá nhân phải nộp
thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại
nước đó.
Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và không
cư trú. Đối với cá nhân cư trú thì phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong
một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt
Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú
hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn, có thu nhập chịu thuế
phát sinh bất cứ trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam đều phải nộp thuế, còn cá nhân không
cư trú thì không đáp ứng về điều kiện nêu trên nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh trong
lãnh thổ Việt Nam cũng phải nộp thuế.
chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật, thu nhập từ tiền lương, tiền công.
16
Trong đó thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá
nhân, bình quân tháng trong năm nằm trong giới hạn phải nộp thuế do biểu thuế thu nhập
đối với cá nhân quy định.
Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập phát sinh theo từng
lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, nằm trong mức giới hạn phải nộp
thuế thu nhập, được tính theo biểu thuế toàn phần bao gồm: thu nhập từ đầu tư vốn, tiền
lãi cho vay; lợi tức cổ phần; thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập
từ lãi trái phiếu Chính phủ; thu nhập từ chuyển nhượng vốn; thu nhập từ chuyển nhượng
bất động sản; thu nhập từ trúng thưởng; thu nhập từ bản quyền; thu nhập từ nhượng
quyền thương mại; thu nhập từ nhận thừa kế; thu nhập từ nhận quà tặng [52].
Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được
trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra
thu nhập đó.
c. Xác định các khoản khấu trừ để tính thuế
Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế TNCN là đối tượng tính
thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp
luật. Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ đi các khoản
chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một số giới hạn nhất định. Tùy theo đặc điểm
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà người ta quy định những khoản khấu trừ phù hợp.
Tuy nhiên, về cơ bản có một nguyên tắc chung: Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến
việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được,
sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã hội trước
khi tính thuế. Chẳng hạn như:
Thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh
doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp (các chi phí cần thiết và
nộp thuế
Thanh tra, kiểm tra là yêu cầu tất yếu trong quản lý nhà nước nói chung mà còn
có vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý thuế nói riêng, hoạt động thanh tra, kiểm tra
có nghĩa là tiến hành việc nghiên cứu, thu thập số liệu, đánh giá hoạt động quản lý và
mục đích cuối cùng là tìm hiểu được kết quả tác động của chủ thể quản
18