1
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ THI CÔNG NHÀ CAO TẦNG BÊ TÔNG CỐT THÉP
1.1. Sự phát triển kiến trúc cao tầng trên thế giới
Trong các thập niên cuối thể kỷ 19 đến nay do dân số đô thị ngày càng gia tăng
cộng với sự tiến bộ nhảy vọt của khoa học kỹ thuật, sự xuất hiện của nhiều loại
bê tông và sự phát minh ra thang máy đã dẫn đến sự phát triển với tốc độ nhanh
nhà nhiều tầng ở khắp nơi trên thế giới.
Năm 1885 ở Chicagô đã xây dựng toà nhà Home Insurance Building cao 10
tầng bằng kết cấu thép, năm 1913 tại New York xây dựng toà nhà kiểu Pháp
"Woolworth" 60 tầng cao 214m. Tòa nhà "Trung tâm thương mại thế giới" đã
được hoàn thành tại New York vào năm 1973, ngôi nhà có 110 tầng và cao
420m. Còn toà nhà "Sears Tower" ở Chicago có 109 tầng với chiều cao 442m
đã xây xong năm 1974.
Ở nhiều nước khác trên thế giới như Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore,
Malaysia, Úc, Canađa, Pháp, Anh, Liên xô (cũ)... cũng đã có hàng ngàn ngôi
nhà nhiều tầng cao tới 200, 300m. Burj Dubai được coi là tòa nhà cao nhất thế
giới được khởi công xây dựng năm 2004, chiều cao trên 700m với hơn 160
tầng..
1.2. Thiết bị và máy móc phục vụ thi công.
1.2.1.Những vấn đề thường gặp khi thi công nhà cao tầng:
Cao trình vận chuyển thẳng đứng lớn.
Vật liệu xây dựng, vật tư thiết bị rất đa dạng.
Công nhân làm việc lên xuống giữa các tầng rất lớn.
Vì thế để thi công nhà cao tầng được tiến hành thuận lợi và thu được hiệu quả
kinh tế cao, trước hết phải giải quyết tốt các vấn đề có liên quan nêu trên. Một
trong những mấu chốt là lựa chọn máy móc và công cụ thi công chính xác, thích
hợp và sử dụng chúng một cách hợp lý.
Máy móc và thiết bị thi công nhà cao tầng có thể phân chia thành các loại như
sau:
Các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa cần trục tháp gồm:
Hình dáng mặt bằng của nhà;
Chiều cao công trình;
Khối lượng vận chuyển vật liệu, thiết bị;
Tiến độ thi công;
Điều kiện nền, móng công trình;
Công trình lân cận (như có hay không có những công trình kiến trúc cao
tầng xung quanh, điều kiện giao thông hiện trường, chướng ngại vật cho
việc lắp ráp cần trục);
Điều kiện cung ứng cho cần trục tháp của địa phương.
a/Chọn máy trục tháp cần tuân theo các nguyên tắc sau:
- Tham số hợp lý:
Các tham số chủ yếu của cần trục tháp là: tham số tầm với (Ryc), chiều cao nâng
trục (Hyc), sức trục (Qyc) .
3
Khi lựa chọn tham số hợp lý cho máy trục cần tập trung xem xét chiều dài tính
toán diện tích mặt công tác của trục tháp. Diện tích công tác của trục tháp nói
chung có thể lấy bằng 300-400m2, độ dài tính toán diện tích công tác có thể lấy
bằng 60-80m, con số lựa chọn liên quan đến chiều dài chiều dài tay cần tay của
máy cần trục tháp, đến thời hạn thi công công trình, tốc độ thi công và liên quan
đến số lượng cần trục cần bố trí. Nhìn chung nhà cao tầng hình dáng đơn giản
chỉ cần bố trí một cần trục tháp tự nâng. Trường hợp mặt bằng công trình phức
tạp, khối lượng thi công lớn thì có thể bố trí 2 hoặc nhiều hơn.
Sức trục là tổng hợp của trọng lượng vật và thiết bị treo buộc. Tùy theo dung
lượng thùng chứa bê tông mà xác định sức trục cần yêu cầu khi biên độ tối đa,
nên lấy 1,5-2,5T. Ngoài ra căn cứ theo trọng lượng cấu kiện nặng nhất để lựa
chọn chuẩn.
Chiều cao nâng vật là cự ly thẳng đứng từ mặt ray hoặc mặt nền móng đến trung
Ps = Pk.Kt.Ks (m3/ca).
Với Kt = Hệ số lợi dụng thời gian công tác
Kt = 0,83 cho cần trục tháp
Với Ks- Hệ số sử dụng theo mức độ khó đổ bê tông của kết cấu
Ks = 1 cho sàn phẳng
Ks = 0,9 cho sàn sườn
Ks = 0,5 cho cột và vách
Số lần trục chuyển cần trục tháp trong 1 ca thông thường là 60-70 lần.
1.2.4.Một số vấn đề thi công nhà cao tầng bằng cần trục tháp
1. Về việc đặt vị trí cần trục tháp:
Khi thiết kế tổng mặt bằng thi công, cần thận trọng lựa chọn vị trí đặt cần trục
tháp cho hợp lý và phải thỏa mãn yêu cầu sau:
Vị trí đứng và di chuyển của cần trục phải có lợi nhất về mặt làm việc,
thuận tiện cho việc trục lắp hoặc vận chuyển vật liệu, cấu kiện…có tầm với bao
quát toàn công trình.
Vị trí đứng và di chuyển của cần trục phải đảm bảo an toàn cho cần trục, cho
công trình và cho người lao động, thuận tiện cho việc dựng lắp và tháo dỡ cần
trục.
Đảm bảo tính kinh tế: Tận dụng được sức trục, có bán kính phục vụ hợp lý, năng
suất cao.
Biên độ và trọng lượng trục có thể đáp ứng rất tốt các nhu cầu thi công trong
giai đoạn nền móng, thi công bộ phận trên mặt đất và ngoài ra còn phải lưu lại
một lượng vật liệu dự trữ đầy đủ.
Cần có đường đi vòng xung quanh công trình, tiện cho xe ô tô cần trục bổ trợ
cũng như xe tải, xe chở cấu kiện đi vào công trường.
Vị trí đặt trục tháp gần vị trí máy biến áp càng tốt.
Thuận tiện cho việc tháo dỡ máy và phụ kiện ra khỏi hiện trường.
Nếu đồng thời lắp hai trục tháp thì phải chú ý phân chia diện công tác và sự phối
hợp công tác, phải có biện pháp thỏa đáng đề phòng cản trở lẫn nhau.
Kiểm tra kĩ thuật lại một lần nữa trước khi đưa vào sử dụng.
5. Một số mâu thuẫn giữa tính năng kĩ thuật cần trục tháp và nhu cầu thi công
và cách giải quyết
Về tổng thể, tính năng kĩ thuật của cần trục tháp thích ứng với nhu cầu thi công,
nhưng cũng hạn chế bởi một vài nguyên nhân như vị trí cần trục tháp cố định
không thể xê dịch hoặc không thể tránh được chướng ngại vật, ở góc cạnh xa
6
nhất trong mỗi tầng nhà đều có một hay vài điểm trục vượt quá sức trục.Với
những loại mâu thuẫn đó, ta có những biện pháp khắc phục sau:
Thay đổi thiết kế, giảm nhỏ kích thước cấu kiện và lựa chọn thùng chứa để đảm
bảo không vượt quá sức trục.
Tìm cách tăng sức trục.
Trong thực tiễn thi công, do đặc thù của thiết kế cấu tạo kiến trúc, yêu cầu độ
cao tầng nhà tương đối lớn, có thể xuất hiện mâu thuẫn về nhu cầu độ cao nâng
trục phần trên không đáp ứng đáp ứng được trong khi các thông số khác đều
thỏa mãn. Với những loại mâu thuẫn đó, ta có những biện pháp khắc phục sau:
Đổi dùng loại cần trục khác thích hợp hơn.
Nâng cao thân tháp để tăng thêm chiều cao nâng vật.
1.2.5. Máy vận chuyển thẳng đứng
1. Máy vận thăng:
Căn cứ vào phương thức lắp ghép lồng treo và cột đứng mà phân chia thành:
1.1.Máy vận thăng kiểu một lồng
Hình1.1 Máy vận thăng
7
khỏi chen chúc quá mức và nhanh chóng phân tán dòng người có thể xem xét và
áp dụng biện pháp sau đây: nhà trên 7 tầng thì chỉ dừng ở các tầng
9,12,15,18,21,24; nhà dưới 7 tầng không dừng.
Thậm chí có thể căn cứ vào tiến độ thi công, sắp xếp dùng loại thang điện tốc độ
nhanh không dừng dưới 10 tầng thì lần lượt tìm đường về vị trí công tác của
mình. Đợi hết giờ cao điểm xong lại khôi phục lại chế độ làm việc bình thường.
Căn cứ theo kinh nghiệm thi công, diện tích phục vụ trên tầng nhà của một vận
thăng lồng là 600m2, có thể căn cứ vào con số đó để bố trí vận thăng lồng phục
vụ thi công. Để bớt căng thẳng vào giờ cao điểm và làm giảm mâu thuẫn năng
lực vận chuyển không đủ, nên dùng loại vận thăng 2 lồng.
Tính năng kĩ thuật một số loại vận thăng lồng
Loại hình và số hiệu
ST1000-S
STWT1000/12
T-183
ALIMAK
Tải trọng hộp trục (kg) 1000
1000
1000
1000
Số người lên
0,58
0,58
0,68
1.2.7. Bơm bê tông
Các năm gần đây bơm bê tông được ứng dụng ngày càng rộng rãi trong thi công
nhà cao tầng, nguyên nhân chính là:
Tốc độ đổ bê tông nhanh, hiệu suất cao.
Giảm nhẹ sức lao động cho công nhân.
Quản lý hiện trường dễ dàng.
Có thể thích ứng tốt việc đổ bê tông cho các bộ phận kết cấu cột, dầm nhỏ có
mặt cắt cốt thép dầy mà trong điều kiện thông thường rất khó hoàn thành, có thể
đổ bê tông tạo hình các kết cấu phức tạp cho đến đổ bê tông ở bộ phận khuất
kín.
Có thể nghiên cứu và chế tạo các chất phụ gia phức hợp, hiệu quả cao, tạo được
tính dễ bơm cải thiện được bê tông thương phẩm và nâng cao hiệu ích thi công
bơm đẩy.
Cách lựa chọn dây chuyền công nghệ chuyển đưa và đổ bê tông và cốp pha do
đặc điểm công trình quyết định (loại hình kết cấu, độ cao và số tầng, diện tích
xây dựng, điều kiện hiện trường thi công…), trình độ tổ chức thi công (bao gồm
cách sắp đặt kế hoạch thi công dây chuyền có chặt chẽ hợp lý không, công tác
chuẩn bị thi công có chu đáo tỉ mỉ không, quản lý có khoa học không…) cùng
với các yêu cầu điều kiện khác (như thời hạn, yêu cầu về giá thành và hiệu quả
kinh tế).
Thiết bị bơm bê tông:Theo tính cơ động của bê tông có thể chia ra 2 loại: bơm
tĩnh tại và bơm tự hành:
Bơm tĩnh tại: Có thể là bơm cố định, bơm cố định đặt trên xe móc, bơm cố định
thể phân làm kiểu xả ở đáy và kiểu xả bên.
Việc xác định dung lượng của thùng bê tông có quan hệ với dung tích hữu hiệu
của thùng máy trộn (nếu dùng trạm trộn ở công trường để trộn bê tông), trọng
lượng trục định mức hữu hiệu của thùng xe vận chuyển và trộn bê tông, tốc độ
xả vật liệu của xe, tốc độ đẩy của bơm bê tông và cả tốc độ bê tông.
Hình 1.7 Thùng chứa bê tông
Để nâng cao hiệu suất và suất lợi dụng của xe vận chuyển và trộn bê tông cũng
như xe bơm bê tông, xuất phát từ tăng tốc độ đổ bê tông, nên dùng thùng bê tông
có dung lượng tương đối lớn. Nhưng nếu dùng bê tông chế tạo tại hiện trường
lấy xe đẩy làm phương tiện vận chuyển ngang thì dung lượng của thùng bê tông
không nên vượt quá 0,63 m3 .Không nên dùng thùng vật liệu quá lớn, bình
thường nên dùng thùng có quy cách 0,5-0,7m3 và 1m3.
2. Xe vận chuyển và trộn bê tông:
Công năng của xe vận chuyển và trộn bê tông là vận chuyển bê tông thương
phẩm từ trạm trộn đến hiện trường thi công và vào thùng đổ đã chuẩn bị trước.
Sau đó, cần trục tháp hoặc máy bơm bê tông đưa đến chỗ đổ. Xe vận chuyển và
trộn bê tông trong quá trình hoàn thành việc vận chuyển bê tông, đồng thời tiến
hành không ngừng việc khuấy trộn để tránh cho bê tông khỏi phân tầng và sơ
ninh, cải thiện tính dẻo và tính đồng đều của mẻ trộn bê tông, do đó mà tăng
được chất lượng bê tông.
Hiện nay phổ biến nhất là xe vận chuyển và trộn bê tông có dung tích hữu hiệu
là 6m3 nhập khẩu của Đức, Nhật Bản và nhiều nước khác.
12
Hình 1.8 Xe vận chuyển bê tông
Khi sử dụng xe vận chuyển và trộn bê tông cần chú ý tuân theo các tiêu chuẩn
sau:
công tầng hầm đã được trình bày kỹ trong các môn học trước. Ở đây công nghệ
cọc khoan nhồi, cọc barette, phương pháp top-down, down-up…. được trình bày
tóm tắt các quy trình chính.
1.3.1.Thi công cọc khoan nhồi
1. Xác định tim cọc
2. Hạ ống vách Casing
Hình 1.9. ống vách
3. Khoan tạo lỗ
4. Hạ lồng thép:
5. Thổi rửa đáy hố khoan :
6. Công tác bê tông
Hình 1.10.Gia công lồng thép
14
M¸ng ®æ bª t«ng
E2508
¤ t« trén bª t«ng
KamAZ-5511
(SB-92B)
BÓ thu håi
Bentonite
Van tr−ît
+ Kiểm tra xi măng.
- Kiểm tra bê tông đã trộn
+ Độ sụt không vượt quá độ sụt thiết kế.
+ Cốt liệu và mác phải tuân theo tiêu chuẩn thiết kế.
d. Kiểm tra ống đổ và sàn công tác
- Sàn công tác:
+ Đảm bảo chắc chắn .
+ Hai nửa vành khuyên giữ ống đổ phải đảm bảo
- Ống đổ bê tông:
+ Mối nối các đoạn ống đổ phải chắc chắn .
+ Lòng trong ống đổ phải sạch, nhẵn, trơn, tiết diện trong ống phải tròn đều
+ Ống đổ phải được cách đáy lỗ khoan từ 20÷30 cm.
- Phễu và nút:
+ Kiểm tra liên kết giữa phễu và miệng ống đổ.
+ Nút phải có độ căng đều đảm bảo sự tiếp xúc đều với thành trong các ống đổ .
+ Đảm bảo chức năng như một phanh hãm giữ cho bê tông chứa đầy phễu rơi
xuống từ từ.
Kiểm tra chất lượng cọc nhồi bê tông cốt thép khi thi công xong
- Việc kiểm tra chất lượng cọc sau khi đổ bê tông nhằm đánh giá chất lượng bê
tông cọc tại hiện trường, phát hiện các khuyết tật và sử lý các cây cọc bị hư
hỏng.
1.3.2.Thi công cọc Barette.
1. Đào hố cọc:
a) Thiết bị đào hố: Có thể nói, hiện nay thiết bị đào hố cọc barét rất đa dạng. Nói
chung thì các loại gầu ngoạm để đào hố có tiết diện hình chữ nhật với cạnh ngắn
từ 0,60m đến 1,50m, cạnh dài từ 2,00m đến 4,00m (đại bộ phận là 3,00m), còn
chiều cao thì có thể từ 6,00m đến 12,00m( hình 1.12, 1.13).
17
- Tính chất dung dịch bentonite mới đạt yêu cầu tiêu chuẩn.
Quá trình chế tạo, sử dụng, thu hồi, xử lý và tái sử dụng dung dịch bentonite
(dung dịch khoan, bùn khoan) được thể hiện trên sơ đồ 1.15.
Sử dụng dung dịch bentonite một cách tuần hoàn: Trong khi khoan hoặc đào hố
phải luôn luôn đổ đầy dung dịch khoan trong hố. Dung dịch khoan này là dung
dịch mới. Gầu đào xuống sâu đến đâu thì phải bổ sung dung dịch khoan ngay
cho đầy hố. Trong khi đào thì dung dịch bentonite bị nhiễm bẩn, mà đã nhiễm
bẩn (do đất, cát) thì giữ ổn định thành hố không tốt, do đó phải thay thế. Để làm
việc đó, phải hút bùn bẩn từ hố khoan, đào lên để đưa về trạm xử lý. Có thể
dùng loại bơm chìm đặt ở đáy hố đào hoặc bơm hút có màng lọc để ở trên mặt
đất.
Dung dịch khoan (bùn khoan) được đưa về trạm xử lý (e). Các tạp chất bị
khử đi, còn lại là dung dịch khoan như mới để tái sử dụng.
Dung dịch sau khi được xử lý phải có các đặc tính sau:
- Tỷ trọng dưới 1,2 (trừ loại dung dịch nặng đặc biệt).
- Độ nhớt Marsh nằm giữa 35 và 40 giây.
- Độ tách nước dưới 40cm3.
- Hàm lượng cát ≤ 5%.
d) Đào hố cọc barette bằng gầu ngoạm:
Dùng loại kích thước Gầu đào thích hợp để đảm bảo được kích thước hố đào
đúng với kích thước cọc barét theo thiết kế. Gầu đào phải thả đúng cữ định
hướng đặt sẵn (như hình 1.14). Hố đào phải thả đúng cữ định hướng đặt sẵn.
Hiện nay đã có thiết bị kiểm tra kích thước hình học và độ thẳng đứng của hố
khoan, hố đào . Trong lúc đào, phải cung cấp thường xuyên dung dịch bentonite
(bùn khoan) mới, tốt vào đầy hố đào. Mặt khác, mức cao của dung dịch
bentonite trong hố đào bao giờ cũng phải cao hơn mực nước ngầm ngoài hố đào
tối thiểu là 2 mét. Dung dịch bentonite được tuần hoàn và xử lý để trong hố đào
BÓ chøa b»ng thÐp
§Õn hè ®µo
SILO
18
19
Hình 1.15 : Sơ đồ quá trình chế tạo, sử dụng và xử lý dung dịch bentonite
Khi đào đến độ sâu thiết kế, phải tiến hành thổi rửa bằng nước có áp để làm sạch
đáy hố. Có thể dùng loại bơm chìm để hút cặn lắng bằng đất, cát nhỏ lên. Còn
cát to, cuội sỏi, đá vụn thì dùng gầu ngoạm vét sạch rồi đưa lên. Lượng cặn lắng
thường rất khó vét sạch được hoàn toàn, do đó trong thực tế có thể cho phép
chiều dày lớp cặn lắng dưới đáy hố đào nhỏ thua 10cm.
Để kiểm tra chiều dày lớp cặn lắng có thể dùng giây dọi với quả nặng đủ để
người đo có thể cảm nhận được.
Chú ý là việc thổi rửa đáy hố đào rất quan trọng và phải hết sức cẩn thận. Do đó
phải sử dụng thiết bị chuyên dụng, thích hợp và người thực hiện phải có tay
nghề thành thạo, có kinh nghiệm. Đảm bảo được đáy hố càng sạch, thì sức chịu
tải của cọc càng tốt.
Sau khi đào xong hố cọc barét, phải kiểm tra lại lần cuối cùng kích thước hình
học của nó. Kích thước cạnh ngắn của tiết diện chỉ được phép sai số ± 5cm, kích
thước cạnh dài của tiết diện chỉ được phép sai số ± 10cm, chiều sâu hố chỉ được
sai số trong khoảng ± 10cm và độ nghiêng của hố theo cạnh ngắn chỉ được sai
số trong khoảng 1% so với chiều sâu hố đào.
2. Chế tạo lồng cốt thép và thả vào hố đào cho cọc barét.
Chế tạo lồng cốt thép theo đúng thiết kế. Sai số cho phép về kích thước hình học
Đổ bê tông bằng phễu hoặc máng nghiêng nối với ống dẫn. ẩng dẫn làm bằng
kim loại, có đường kính trong lớn hơn 4 lần đường kính của cốt liệu hạt và
thường ≥ 120mm. Ống dẫn được tổ hợp bằng các đoạn ống có chiều dài khoảng
2 đến 3m, được nối với nhau rất kín khít bằng ren, nhưng đồng thời dễ tháo lắp.
Trước khi đổ bê tông vào phễu hoặc máng nghiêng, phải có nút tạm (bằng vữa xi
măng cát ướt) ở đầu ống dẫn. Khi bê tông đã đầy ắp phễu, trọng lượng bê tông
sẽ đẩy nút vữa xuống để giòng bê tông chảy liên tục xuống hố cọc. Làm như vậy
để tránh cho bê tông bị phân tầng.
Ống đổ bê tông có chiều dài toàn bộ bằng chiều dài cọc. Trước lúc đổ bê tông,
nó chạm đáy, sau đó được nâng lên khoảng 15cm để dòng bê tông (sau khi bỏ
nút tạm) chảy liên tục xuống đáy hố cọc và dâng dần lên trên.
Khi bê tông từ dưới đáy hố dâng lên đân dần, thì cũng rút ống dẫn bê tông dần
dần lên, nhưng luôn luôn đảm bảo cho đầu ống dẫn ngập trong bê tông tươi một
đoạn từ 2m đến 3m. Làm như vậy để bê tông không bị phân tầng và sau khi ninh
kết xong thì bê tông không bị khuyết tật.
Tốc độ đổ bê tông không được chậm quá và cũng không được nhanh quá. Tốc
độ đổ bê tông hợp lý là 0,60m3/phút.
21
Không nên bắt đầu đổ bê tông vào ban đêm, mà nên bắt đầu đỏ bê tông cho mỗi
cọc vào buổi sáng sớm. Phải đổ bê tông liên tục (không được ngưng nghỉ) cho
xong từng cọc trong một ngày.
Phải thường xuyên theo dõi và ghi chép mức cao của mặt bê tông tươi dâng lên
sau mỗi xe ô tô (mích) đổ bê tông vào hố cọc.
Phải tính được khối lượng bê tông cần thiết để đổ xong cho mỗi cọc; như vậy có
thể chủ động được trong việc chuẩn bị số xe bê tông cần thiết một cách hợp lý,
đầy đủ và kịp thời.
Khối lượng bê tông thực tế thường nhiều hơn khối lượng bê tông tính toán (theo
kích thước hình học của hố đào cho cọc) là khoảng từ 5% đến 20%. Nếu quá
+ Bằng 1,8 mét, khi cao độ lý thuyết của mặt phẳng đầu cọc nằm ở chiều sâu
dưới mặt sàn công tác, lớn hơn 5m. Chiều cao tối thiểu để cắt đầu cọc được xác
định bởi người thi công, sao cho bê tông ở đầu cọc thực tế là tốt.
- Khi đào hố thi công cọc và lúc đổ bê tông cọc phải chú ý không được thực hiện
khi trong chiều sâu của cọc có dòng nước ngầm đang chảy, vì nó sẽ làm sụt lở
thành hố và hỏng bê tông. Trong trường hợp này phải báo cho tư vấn thiết kế để
xử lý. Có thể xử lý bằng cách hạ ống vách bằng thép.
4 . Kiểm tra chất lượng bê tông cọc barét:
Quy trình đảm bảo chất lượng thi công cọc ba rét cũng gống như cọc khoan
nhồi. Khi đã ninh kết xong (sau 28 ngày) thì kiểm tra chất lượng bằng phương
pháp không phá huỷ.
Nhờ phương pháp siêu âm truyền qua, người ta đã phát hiện được các khuyết tật
của bê tông trong thân cọc một cách tương đối chính xác.
Sau đây là hai hình ảnh thí nghiệm thực tế; qua kiểm tra bằng siêu âm, người ta
phát hiện được cọc barét bị hỏng nghiêm trọng, rồi quyết định đào ra để xem
(hình 1.18 và hình 1.19).
23
Hình 1.18: Một đoạn cọc barét bị
Hình 1.19: Một đoạn cọc barét bị
mất lớp bê tông bảo vệ và thủng
nhiều chỗ
đứt khúc.
1.3.3.Các phương pháp thi công tầng hầm nhà cao tầng
3. Đảm bảo điều kiện bền, ổn định hệ chống đỡ, và kiểm soát vết nứt dầm sàn
tầng hầm
Tính đoán độ bền và kiểm tra ổn định của hệ thanh chống hố đào. Khi sử dụng
hệ dàn thép để chống đỡ hoặc dùng ngay chính một phần kết cấu tầng hầm làm
hệ chống đỡ thì yêu cầu bắt buộc là phải đảm bảo độ bền.
Khi sử dụng kết cấu sàn tầng hầm làm hệ chống đỡ, việc lựa chọn lỗ mở hợp lý
quyết định đến điều kiện bền và ổn định chung của hệ thống. Ngoài ra, lỗ mở
cần xét đến thuận lợi trong quá trình thi công công tác đất và các hệ kết cấu tầng
hầm.
4.Đảm bảo chuyển vị cho phép
Cần kiểm soát chuyển vị của đất nền trong và xung quanh hố đào do việc thay
đổi ứng xuất trong đất theo quá trình thi công. Các chuyển vị được kiểm soát
bao gồm chuyển vị ngang (cùng chuyển vị của tường chắn) và chuyển vị đứng
(chuyển vị của đáy hố đào và đất xung quanh tường).
Hiện tại chưa có tiêu chuẩn của Việt Nam về khống chế chuyển vị ngang cho
phép của tường chắn, chuyển vị đứng của đáy hố đào và đất nền xung quanh.
Theo tiêu chuẩn BS 8002 thì trạng thái giới hạn sử dụng cho phép của tường
chắn là nhỏ hơn 0,5% chiều sâu hố đào.
Chuyển vị thẳng đứng của đáy nền cũng cần được kiểm tra và khống chế sao
cho không xảy ra hiện tượng bùng nền (chống đẩy trồi của đáy hố đào).
Trong thi công tầng hầm, hiện tượng đẩy trồi hố đào (hay còn gọi là hiện tượng
bùng nền) là một trong các hiện tượng nguy hiểm nhất, gây biến dạng cho hố
đào lớn nhất, diễn biến khó kiểm soát nhất và việc khắc phục cũng tốn kém và
khó khăn nhất. Mặc dù hiện tượng này rất nguy hiểm nhưng nó lại xảy ra tương
đối thường xuyên đối với các công trình có tầng hầm lớn.
5.Kiểm soát nước ngầm, ổn định chống thấm, cát chảy
Tính toán, kiểm tra và kiểm soát nước ngầm, kiểm tra ổn định chống thấm, kiểm
tra ổn định dòng thấm qua đáy hố đào, tính toán khống chế mực nước ngầm và
hiện tượng cát chảy (xói ngầm) đáy hố đào.
Khi đào hố móng, do đất trong hố bị đào đi làm biến đổi trường ứng suất và
khít cao, sử dụng luôn làm một phân kết cấu công trình.
- Nhược điểm: giá thành cao và đòi hỏi máy móc và công nghệ thi công tiên
tiến.
- Phạm vi ứng dụng: dùng cho các công trình có chiều sâu hố đào lớn, điều kiện
địa chất công trình bất lợi.
2. Tường cừ
Hiện nay có hai loại cừ chủ yếu là cừ thép và cừ bê tông cốt thép.
Cừ thép được chế tạo dạng tấm được cán nóng hoặc cán nguội với các hệ thống
rãnh khóa liên động (me cừ) ở phần rìa cừ, các rãnh khóa này cho phép các cây