ĐÁP ÁN THI THỬ THPT QUỐC GIA NĂM 2016
MÔN: NGỮ VĂN
PHẦ
N
CÂU
3.0
1
2
3
4
I
5
6
7
8
NỘI DUNG
ĐỌC HIỂU
Phong cách ngôn ngữ báo chí
Phương thức biểu đạt chính là tự sự
- Hình ảnh súng là biểu tượng của tội ác, chiến tranh, xung đột, lòng
hận thù ... (0.25 điểm)
- Hình ảnh hoa là biểu tượng của tình yêu, hòa bình, lòng yêu thương
giữa con người với con người ... (0.25 điểm)
- Người bố nhắn nhủ người con không nên lùi bước, sợ hãi trước cái
xấu, cái ác (0.25 điểm)
1
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về quan niệm: Có ba
cách để tự làm giàu mình: mỉm cười, cho đi và tha thứ.
a. Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận
Có đủ mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề. Thân bài
triển khai được vấn đề. Kết bài kết luận được vấn đề.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận
Cách để con người làm đẹp tâm hồn, hoàn thiện nhân cách: phải biết
sống lạc quan, sẻ chia, bao dung.
c.Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các
thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài
học nhận thức và hành động.
* Giải thích
- Tự làm giàu mình: tự nuôi dưỡng và bồi đắp tâm hồn mình
Mỉm cười: biểu hiện của niềm vui, sự lạc quan, yêu đời
Cho đi: là biết quan tâm, chia sẻ với mọi người
Tha thứ: là sự bao dung, độ lượng với lỗi lầm của người khác
- Ý cả câu: Tâm hồn con người sẽ trở nên trong sáng, giàu đẹp hơn
nếu biết lạc quan, sẻ chia và độ lượng với mọi người.
3.0
0.25
0.25
0. 5
2
4.0
0.25
0. 5
0.5
* Cảm nhận về nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích :
- Nỗi buồn về cuộc đời nhiều cơ cực.
- Diễn biến tâm trạng của người mẹ khi hiểu ra câu chuyện “nhặt vợ”của
con trai.
- Tình yêu thương, thấu hiểu lẽ đời.
- Niềm tin vào tương lai.
- Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
+ Đặt nhân vật vào tình huống truyện độc đáo.
+ Phân tích tâm lí tinh tế, ngôn ngữ giản dị có sức biểu cảm cao.
* Bình luận về tư tưởng nhân đạo của nhà văn Kim Lân trong tác phẩm
Vợ nhặt :
- Cảm thông, chia sẻ với số phận con người. Từ đó, gián tiếp tố cáo bọn
thực dân, phong kiến, phát xít đã gây ra nạn đói khủng khiếp đối với nhân
dân ta.
- Trân trọng phẩm chất tốt đẹp của người lao động.
- Khẳng định sức sống mãnh liệt trong tâm hồn họ.
- Niềm tin vào tương lai cuộc sống của con người.
d. Sáng tạo
1. 5
Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy nghĩ sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị
luận.
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Văn học 12, Tập một, NXB Giáo dục, 2005, tr.86-87)
PHẦN RIÊNG . Thí sinh chỉ được làm câu III.a hoặc III.b
Câu III.a. Theo chương trình KHÔNG phân ban (3 điểm)
Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam.
Câu III.b. Theo chương trình phân ban (3 điểm)
Nhận xét về nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con
trong gia đình của Nguyễn Thi
ĐÁP ÁN
PHẦN CHUNG CHO TẤT CẢ CÁC THÍ SINH
Câu I (2 điểm)
HS cần trình bày được :
– Hoàn cảnh sáng tác của tâp thơ Nhật kí trong tù : Tháng 8 -1942, Nguyễn Ái
Quốc lấy tên là Hồ Chí Minh lên đường trở lại Trung Quốc với danh nghĩa là đại biểu
của Việt Nam độc lập đồng minh và Phân bộ quốc tế phản xâm lược của Việt Nam để
tranh thủ sự viện trợ của thế giới. Sau nửa tháng trời đi bộ, đến Túc Vinh (Quảng tây,
Trung Quốc), Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam, bị giải đi gần 30 nhà
lao của13 huyện Quảng Tây. Trong 13 tháng ở tù (từ mùa thu 1942 đến mùa thu 1943),
Hồ Chí Minh đã sáng tác 133 bài thơ bằng chữ Hán và đặt tên là Ngục trung nhật ký
tức Nhật ký trong tù.
– Những nội dung chính của tâp thơ Nhật kí trong tù :
+ Phản ánh bộ mặt đen tối của chế độ nhà tù cũng như xã hội Trung Quốc thời Tưởng
Giới Thạch
+ Thể hiện tâm hồn phong phú và cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng vĩ đại (lòng
nhân ái, tinh thần yêu nước, ý chí, nghị lực phi thường, phong thái ung dung tự tại, tâm
đất ) khơi gợi những đặc tính quí báu của con người, dân tộc Việt Nam – vừa chân
chất, giản dị vừa bất khuất, anh hùng. Điểm đặc biệt là cái nhìn phát hiện các yếu tố
truyền thống qua việc cảm nhận những âm thanh vô hình bằng thính giác (Đêm đêm rì
rầm trong tiếng đất / Những buổi ngày xưa vọng nói về).
3. Đánh giá chung :
– Hình ảnh đất nước vừa tươi đẹp vừa giàu truyền thống hiện ra qua niềm vui rạo rực,
qua tâm trạng sảng khoái, qua cái nhìn tự hào của một con người đang ý thức rõ rêt về
sự thay đổi lớn lao của đất nước cũng như những biến chuyển trong lòng mình. Cái
tôi nhỏ bé đã chuyển thành cái ta chung rộng lớn, đang náo nức ngân vang ..
– Nhịp thơ có lúc nhanh mạnh, sôi nổi (2 khổ đầu), có lú trầm lắng, suy tư (khổ cuối),
hình ảnh thơ dân dã khỏe khoắn, câu thơ tự do biến đổi linh hoạt, âm hưởng thơ hào
sảng đậm chất sử thi … tất cả các yếu tố nghệ thuật này đã góp phần mang đến cho
người đọc một bức tranh đất nước trong kháng chiến chống Pháp, ấn chứa niềm tự hào
vô hạn của tác giả.
PHẦN RIÊNG
Câu III.a. Theo chương trình KHÔNG phân ban (3 điểm)
HS cần trình bày được các ý chính sau :
1. Giới thiệu khái quát về tác giả Thạch Lam, về tác phẩm Hai đứa trẻ :
- Thạch Lam là một cây bút truyện ngắn tài hoa xuất sắc trong giai đoạn văn học 1930
-1945. Những truyện ngắn của Thạch Lam được đánh giá như những bài thơ trữ tình
đượm buồn vì vừa đậm chất trữ tình vừa thể hiện cảm quan hiện thực sâu sắc.
- Hai đứa trẻ (in trong tập Nắng trong vườn) là một truyện ngắn đặc sắc của Thạch
Lam, vừa tiêu biểu cho bút pháp của nhà văn, vừa thể hiện giá trị tư tưởng sâu sắc và
mới mẻ.
2. Phân tích giá trị nhân đạo trong truyện ngắn Hai đứa trẻ :
* Giá trị nhân đạo : là một trong những phương diện quan trọng tạo nên giá trị nội dung
tư tưởng của tác phẩm, thể hiện thái độ của nhà văn trước hiện thực cuộc sống (sự thấu
hiểu, cảm thương, trân trọng, bất bình .. ). Với Hai đứa trẻ, Thạch Lam đã cất lên tiếng
1.Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Thi, truyện ngắn Những đứa con trong gia
đình :
– Nguyễn Thi là nhà văn nổi tiếng trong thời kì chống Mĩ. Ông được coi là nhà văn
của người nông dân Nam Bộ bởi lẽ hình ảnh của họ luôn xuất hiện trong các trang viết
của ông với tính cách hồn nhiên, sôi nổi, bộc trực, giàu tình nghĩa với quê hương và gia
đình.
– Những đứa con trong gia đình là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Thi, phản ánh
vẻ đẹp tâm hồn người nông dân Nam Bộ thời chống Mĩ. Nhân vật Việt – nhân vật trung
tâm của tác phẩm, thể hiện khá tập trung những đặc điểm tính cách nhân vật của nhà
văn.
2. Nhận xét nghệ thuật xây dựng nhân vật Việt : chủ yếu ở những phương diện sau :
– Trước hết là lối trần thuật độc đáo : trần thuật theo ngôi thứ ba của người kể chuyện
tự giấu mình nhưng cách nhìn và lời kể lại theo giọng điệu, dòng ý thức của nhân vật
(Việt rơi vào tình huống đặc biệt, bị thương nặng, phải nằm lại ở chiến trường. Anh
nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại). Dòng ý thức khi đứt (lúc nhân vật bị ngất) khi nối (khi
nhân vật tỉnh lại) giúp người đọc hình dung về cuộc sống, suy nghĩ rất riêng của nhân
vật này. Lối trần thuật này đòi hỏi khả năng nhập thân nhân vật một cách tài tình mà
không phải nhà văn nào cũng làm được.
- Nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật mang đậm sắc thái Nam Bộ : Việt hiện lên
trong dòng hồi tưởng là vừa mang những nét hồn nhiên, hiếu động ( thích lang thang
bắn chim, bắt cá, lúc nào cũng có cái ná thun trong người ..), hiếu thắng (hay tranh phần
hơn với chị, kể cả việc ghi tên nhập ngũ), hay ỷ lại vào chị vì quen được chị chiều
chuộng … vừa rất thẳng thắn, bộc trực, giàu tình cảm, ngùn ngụt căm thù, đặc biệt là rất
dũng cảm với cách thể hiện rất Nam Bộ, của người Nam Bộ (chú ý chi tiết ở đơn vị,
Việt giấu biệt chị đi vì sợ người ta lấy mất chị ; chiến trường, cách thể hiện tình cảm
thích đáng nhất của Việt dành cho má, cho chú Năm. cho chị là đánh giặc). ChấtNam
Bộ cũng thể hiện rõ trong hệ thống phương ngữNam Bộ mà nhân vật sử dụng.
- Ngôn ngữ đối thoại xen lẫn với độc thoại nội tâm: trong tác phẩm, ngoài những đoạn
cộng đồng dân tộc và cộng đồng nhân loại này. Sách giúp cho người đọc hiểu được đâu là hạnh phúc,
đâu là nỗi khổ của con người và phải làm gì để sống cho đúng và đi tới một cuộc đời thật sự.
Sách mở rộng những chân trời ước mơ và khát vọng. Ta đồng ý với lời nhận xét mà cũng là
một lời khuyên bảo chí lí của M. Gorki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức, chỉ có kiến thức mới là
con đường sống”. Vì thế, mỗi chúng ta hãy đọc sách, cố gắng đọc sách càng nhiều càng tốt”.
( Trích Về việc đọc sách – Nguồn Internet)
Câu 1. Đoạn trích được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?(0,25 điểm)
Câu 2. Hãy ghi lại câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản trên. (0,5 điểm)
Câu 3. Trong đoạn trích, tác giả chủ yếu sử dụng thao tác lập luận nào? (0,25 điểm)
Câu 4. Anh/chị hãy nêu quan điểm riêng của mình về ý nghĩa của việc đọc sách đối với lớp trẻ
ngày nay. Trả lời trong khoảng 5-7 dòng. (0,5 điểm)
Đọc đoạn thơ sau đây và trả lời các câu hỏi từ Câu 5 đến Câu 8:
Tình ta như hàng cây
Đã qua mùa gió bão.
Tình ta như dòng sông
Đã yên ngày thác lũ.
Thời gian như là gió
Mùa đi cùng tháng năm
Tuổi theo mùa đi mãi
Chi còn anh và em.
Chỉ còn anh và em
Cùng tình yêu ở lại...
- Kìa bao người yêu mới
Đi qua cùng heo may.
(Trích Thơ tình cuối mùa thu – Xuân Quỳnh)
Câu 5: Xác định thể thơ được sử dụng trong đoạn thơ trên. (0,25đ)
Câu 6: Chỉ ra các biện pháp tu từ được sử dụng trong khổ thơ: Tình ta như
hàng cây / Đã qua mùa gió bão / Tình ta như dòng sông / Đã yên ngày thác lũ.(0,5đ)
Câu 7: .Điệp khúc “Chỉ còn anh và em” được tác giả lặp lại hai lần trong đoạn
- HẾT-
HƯỚNG DẪN CHẤM – ĐÁP ÁN – THANG ĐIỂM
ĐỀ THI THỬ THPT QUÔC GIA – LẦN 2
MÔN : NGỮ VĂN
(Hướng dẫn chấm – Đáp án – Thang điểm có 06 trang)
Phần I.
Đọc hiểu
(3,0 điểm)
Câu 1
(0,25)
Câu 2
(0,5)
Cẩu 3
Hướng dẫn chấm
Điểm
Trả lời đúng theo một trong các cách: Phong cách ngôn ngữ chính luận/
Phong cách chính luận/ chính luận.
Trả lời sai hoặc không trả lời
Ghi đúng câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Nói tới sách là nói tới
trí khôn của loài người, nó là kết tinh thành tựu văn minh mà hàng bao thế
hệ tích lũy truyền lại cho mai sau.
Ghi câu khác hoặc không trả lời.
Trả lời đúng theo một trong các cách: Thao tác lập luận phân tích/ thao tác
phân tích/ lập luận phân tích/ phân tích
Trả lời sai hoặc không trả lời
0
0,5
0,25
0
Trả lời đúng 3 biện pháp tu từ trong các biện pháp tu từ được sử dụng:
0,5
0
+ so sánh: Tình ta như hàng cây / Tình ta như dòng sông
+ ẩn dụ: mùa gió bão/ ngày thác lũ
+ điệp cấu trúc: Tình ta như…/ Đã qua… Đã yên…
Trả lời đúng 1 -2 biện pháp tu từ trong số nêu trên.
Câu 7
(0,25)
Câu 8
(0,5)
Trả lời sai hoặc không trả lời
0,25
0
+ Chỉ nêu được quan niệm của tác giả nhưng không nhận xét hoặc
ngược lại;
+ Nêu không đúng quan niệm của tác giả và không nhận xét hoặc nhận
xét không có sức thuyết phục;
+ Câu trả lời chung chung, không rõ ý;
+ Không có câu trả lời.
Câu 1
0
Yêu cầu chung: Thí sinh biết kết hợp kiến thức và kĩ năng về dạng
bài nghị luận xã hội để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy
đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên
kết; không mắc lỗi chính tả, từ ngữ, ngữ pháp.
0,25
0
a. 0,5 đ
b. 0,5 đ
c.1,0 đ
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài,
Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn
đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ
nạn bạo lực học đường hiện nay, những băn khoăn, lo ngại của dư luận xã
hội về tình trạng bạo lực học đường gia tăng và phức tạp và những nỗ lực
của ngành Giáo dục.
+ Làm rõ vấn đề đặt ra: Hiểu “Nói không với bạo lực” là muốn nói đến
thái độ quyết liệt với bạo lực – cụ thể là bạo lực học đường, là quyết tâm
ngăn chặn và đấu tranh giữ cho môi trường học đường thực sự là ngôi nhà
chung ấm áp, thân thiện, an toàn cho tất cả các thành viên.
+ Bàn luận: bày tỏ sự đồng tình đối với vấn đề được nêu: “Nói không
với bạo lực”, đưa được những dẫn chứng mang tính thời sự (vụ đánh hội
đồng ở Cần Thơ, vụ bạo hành khiến nạn nhân mất khả năng nói, vụ cô giáo
rượt đuổi học trò…), phân tích những hậu quả của nó để thấy được ý nghĩa
của vấn đề mà diễn đàn nêu ra và đưa được những giải pháp cụ thể và thiết
thực …. Lập luận phải chặt chẽ, có sức thuyết phục.
+ Bình luận để rút ra bài học cho bản thân và những người xung quanh
làm sao để “ phát huy vai trò của học sinh trong việc ngăn chặn, tố giác
tội phạm, tệ nạn xã hội và hành vi bạo lực xảy ra đối với bản thân, bạn
bè”
d. 0,5 đ
- Cơ bản đáp ứng được các yêu cầu trên, song một trong các luận
điểm (giải thích, chứng minh, bình luận) còn chưa đầy đủ hoặc liên
kết chưa thật chặt chẽ.
- Đáp ứng 1/2 đến 2/3 các yêu cầu trên
- Đáp ứng được 1/3 các yêu cầu trên
- Không đáp ứng được bất kì yêu cầu nào trong các yêu cầu trên
- Sáng tạo: Có nhiều cách diễn đạt độc đáo và sáng tạo (viết câu, sử
dụng từ ngữ, hình ảnh và các yếu tố biểu cảm,...); thể hiện được dấu
0,75
bài nghị luận văn học để tạo lập văn bản. Bài viết phải có bố cục đầy
đủ, rõ ràng; văn viết có cảm xúc; thể hiện khả năng cảm thụ văn học
tốt; diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; không mắc lỗi chính tả,
từ ngữ, ngữ pháp.
- Đảm bảo cấu trúc bài nghị luận: Trình bày đầy đủ các phần Mở bài,
Thân bài, Kết luận. Phần Mở bài biết dẫn dắt hợp lí và nêu được vấn
đề; phần Thân bài biết tổ chức thành nhiều đoạn văn liên kết chặt chẽ
với nhau cùng làm sáng tỏ vấn đề; phần Kết bài khái quát được vấn
đề và thể hiện được ấn tượng, cảm xúc sâu đậm của cá nhân.
Trình bày đầy đủ ba phần Mở bài, Thân bài, Kết luận, nhưng các
phần chưa thể hiện được đầy đủ yêu cầu trên; phần Thân bài chỉ có 1
đoạn văn.
Thiếu Mở bài hoặc Kết luận, Thân bài chỉ có 1 đoạn văn hoặc cả bài
viết chỉ có 1 đoạn văn.
- Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Tính dân tộc của thơ Tố Hữu
qua 8 dòng đầu bài thơ Việt Bắc.
-Xác định chưa rõ vấn đề cần nghị luận, chỉ nêu chung chung. (đoạn
thơ hoặc tính dân tộc trong thơ Tố Hữu)
-Xác định sai vấn đề cần nghị luận, trình bày lạc đề.
- Chia vấn đề cần nghị luận thành các luận điểm phù hợp; các luận
điểm được triển khai theo trình tự hợp lí, có sự liên kết chặt chẽ; sử
dụng tốt các thao tác lập luận để triển khai các luận điểm (trong đó
phải có thao tác phân tích, so sánh); biết kết hợp giữa nêu lí lẽ và
đưa dẫn chứng
- Đảm bảo các yêu cầu trên; có thể trình bày theo định hướng sau:
+ Giới thiệu về tác giả, tác phẩm.
+ Bàn luận về tính dân tộc của thơ Tố Hữu qua đoạn thơ:
Ý1. Sơ lược về tính dân tộc trong thơ Tố Hữu:
- Tính dân tộc là những dấu ấn độc đáo, không lặp lại, biểu hiện những gì
là bản sắc, là những nét riêng biệt đặc thù của một dân tộc. Tính dân tộc
hiện tâm trạng nhớ thương, tình cảm gắn bó, thủy chung của quê hương
Việt Bắc, con người Việt Bắc dành cho người về xuôi.
Bốn câu sau là tiếng lòng của người cán bộ cách mạng về xuôi: tâm trạng
bâng khuâng, bồn chồn đầy lưu luyến, bịn rịn của người kháng chiến đối
với cảnh và người Việt Bắc.
Nghĩa tình sâu nặng của người kháng chiến đối với chiến khu Việt Bắc,
của quần chúng đối với cách mạng trong thơ Tố Hữu là sự kế thừa tình
cảm, đạo lý sống của con người Việt Nam “Uống nước nhớ nguồn”, ân
nghĩa thủy chung.
- Ở phương diện nghệ thuật:
Thể thơ lục bát: Tố Hữu đã vận dụng và phát huy được ưu thế của thể thơ
lục bát, một thể thơ dân tộc có nhạc điệu nhẹ nhàng, uyển chuyển rất phù
hợp để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của kẻ ở, người về.
Kết cấu đối đáp quen thuộc của ca dao.
Sử dụng tài tình đại từ mình – ta.
Lối nói truyền thống được thể hiện qua biện pháp hoán dụ. Câu thơ giàu
nhạc điệu với hệ thống từ láy, cách ngắt nhịp…
Tất cả đã làm nên giọng thơ tâm tình ngọt ngào, tha thiết. Đoạn thơ là
khúc hát ru kỉ niệm, khúc hát ân nghĩa, ân tình.
Ý3 . Đánh giá
- Đoạn thơ nói riêng và bài thơ Việt Bắc nói chung là minh chứng cho sự
thành công của thơ Tố Hữu trong việc kết hợp hai yếu tố: Cách mạng và
Dân tộc trong hình thức đẹp đẽ của thơ ca.
- Tính dân tộc là một trong những đặc điểm nổi bật làm nên phong cách
thơ Tố Hữu. Thơ Tố Hữu mang vẻ đẹp của thơ ca truyền thống nhưng vẫn
mang đậm hồn thơ của thời đại Cách mạng.
d. 0,5
e. 0,5
- Mắc nhiều lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu.
0
-HẾT-
ĐỀ THI – KỲ THI THPT QUỐC GIA NĂM 2015
Môn: Ngữ văn
Thời gian làm bài: 180 phút
ĐỀ SỐ 1
Phần I. Đọc hiểu ( 3,0 điểm)
Đọc kỹ đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi từ Câu 1 đến Câu 6:
“…Người Việt Nam có thể coi là ít tinh thần tôn giáo. Họ coi trọng hiện thế trần
tục hơn thế giới bên kia. Không phải người Việt Nam không mê tín, họ tin có linh hồn,
có ma quỷ, có thần Phật. Nhiều người thực hành cầu cúng. Nhưng về tương lai, họ lo
cho con cháu hơn là linh hồn của mình. Tuy coi trọng hiện thế nhưng cũng không bám
lấy hiện thế, không quá sợ hãi cái chết ( sống gửi thác về). Trong cuộc sống, ý thức về
cá nhân và sở hữu không phát triển cao. Của cải vẫn được quan niệm là của chung,
giàu sang chỉ là tạm thời, tham lam giành giật cho nhiều cũng không giữ được mãi mà
hưởng được. Người ta mong ước thái bình, an cư lạc ngiệp để làm ăn cho no đủ, sống
thanh nhàn, thong thả, có đông con nhiều cháu, ước mong về hạnh phúc nói chung là
thiết thực, yên phận thủ thường, không mong gì cao xa, khác thường, hơn người. Con
người được ưa chuộng là con người hiền lành, tình nghĩa. Không chuộng trí mà cũng
không chuộng dũng. Dân tộc chống ngoại xâm liên tục nhưng không thượng võ (…).
Trong tâm trí nhân dân thường có Thần và Bụt mà không có Tiên. Thần uy linh bảo hộ
quốc dân và Bụt hay cứu giúp mọi người; còn Tiên nhiều phép lạ, ngao du ngoài thế
giới thì xa lạ. Không ca tụng trí tuệ mà ca tụng sự khôn khéo. Khôn khéo là ăn đi trước,
Câu 7. Xác định hai biện pháp tu từ tác giả sử dụng trong đoạn thơ. ( 0,5 điểm)
Câu 8. Hãy cho biết tình cảm tác giả gửi gắm trong bốn câu thơ sau: ( 0,5 điểm)
Ba tháng lẫy, bảy tháng ngồi
Con chơi với đất, con chơi với hầm
Mong ngày, mong tháng, mong năm
Một năm con vịn vách hầm con đi
Trả lời trong khoảng từ 5 đến 7 dòng.
Phần II. Làm văn (7,0 điểm)
Câu 1. (3,0 điểm)
Trong truyện ngắn “Mùa lạc”, nhà văn Nguyễn Khải đã có một triết lí như sau:
“Ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới, điều cốt yếu là
phải có đủ sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy”
Anh/ chị hãy viết một bài văn (khoảng 600 từ) bình luận quan niệm nhân sinh
trên.
Câu 2. (4,0 điểm)
Anh/chị hãy phân tích những đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn “Vợ chồng A
Phủ” của Tô Hoài.
...........Hết..........