Đề thi HSG cấp huyện môn ngữ văn lớp 9 GD - Pdf 37

Đề thi HSG cấp Huyện môn Ngữ văn lớp 9 GD-ĐT
Nghĩa Thành

Phòng GD - ĐT Nghĩa Hành
ĐỀ THI HỌC
SINH GIỎI CẤP HUYỆN
MÔN: NGỮ VĂN - LỚP 9
Thời gian: 150’ ( Kể cả giao đề)

- Câu 1: ( 1.5 đ ) Từ đồng âm và từ nhiều nghĩa đều có
hình thức âm thanh giống nhau. Dựa vào đâu ta phân biệt
được từ đồng âm và từ nhiều nghĩa? Cho ví dụ.
- Câu 2: ( 2 đ ) Cảm nhận của em về câu thơ sau trong
“ Truyện Kiều ” của Nguyễn Du.
“ Cỏ non xanh tận chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”
- Câu 3: ( 2 đ ) Nhận xét về ý nghĩa của việc thay đổi các
đại từ nhân xưng mà nhân vật trữ tình đã sử dụng trong bài
thơ “ Mùa xuân nho nhỏ ” ( Thanh Hải )
- Câu 4: ( 2.5đ ) Tìm điểm chung về quan niệm sống được
biểu hiện trong hai tác phẩm “Lặng lẽ Sa Pa ” ( Nguyễn
Thành Long ) và “ Mùa xuân nho nhỏ ” ( Thanh Hải )


- Câu 5: ( 3 đ ) Viết đoạn văn ngắn với nhan đề“ Tác hại
của trò chơi điện tử ”.
- Câu 6: ( 9 đ ) Có ý kiến cho rằng: Chất liệu hiện thực và
cảm hứng lãng mạn kết hợp một cách hài hoà làm nên vẻ
đẹp độc đáo cho “ Bài thơ về tiểu đội xe không kính ” của
Phạm Tiến Duật. Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.


+ Việc thay đổi đó thể hiện qua quan hệ giữa cái
riêng và cái chung trong cảm xúc, suy nghĩ ( 0.25 đ )
+ Cái riêng “ Tôi ” ; cái chung “ Ta ” từ cá nhân “
Tôi ” đi đến với mọi người “ Ta ” để được hoà nhập, dâng
hiến. ( 1 đ )
- Câu 4: ( 2.5đ )


- Giới thiệu hai tác phẩm. ( 0.25 đ )
- Chỉ ra được các điểm chung:
+ Ước nguyện được cống hiến cho đời. ( 0.5 đ )
+ Sự cống hiến hoàn toàn tự nguyện, âm thầm và
lặng lẽ. ( 0.5 đ )
+ Là cống hiến những gì đẹp đẽ nhất cho đất
nước.

( 0.5 đ )
+ Đây là lý tưởng của một thế hệ thanh niên thời

bây giờ. ( 0.25 đ )
- Cần đan xen ngắn gọn những dẫn chứng trong từng tác
phẩm đềminh hoạ. ( 0.5 đ )
- Câu 5: ( 3 đ ) Học sinh viết được đoạn văn nghị luận
ngắn, đúng nội dung, đềtài, đảm bảo các ý sau:
- Giới thiệu vấn đề- mặt phải, mặt trái của trò chơi điện
tử.
- Phân tích tác hại - nguyên nhân
- Biện pháp khắc phục - bài học bản thân.
- Câu 6:
a) Bài viết đúng yêu cầu về văn nghị luận kết hợp với

đó làm trái qui định: Vượt tường trốn ra ngoài chơi, nhưng vị thiền
sư không nói với ai, mà lặng lẽ đi đến, bỏ chiếc ghế ra rồi quỳ
xuống đúng chỗ đó.
Một lúc sau, quả đúng có một chú tiểu trèo tường vào. Đặt
chân xuống, chú tiểu kinh ngạc khi phát hiện ra dưới đó không
phải là chiếc ghế mà là vai thầy mình, vì quá hoảng sợ nên không
nói được gì, đứng im chờ nhận được những lời trách cứ và cả hình
phạt nặng nề. Không ngờ vị thiền sư lại chỉ ôn tồn nói: “Đêm
khuya sương lạnh, con mau về thay áo đi”. Suốt cuộc đời chú tiểu
không bao giờ quên được bài học từ buổi tối hôm đó.
Bài học từ câu chuyện trên gợi cho em những suy nghĩ gì?
Câu 2:(12đ)
Một trong những phương diện thể hiện tài năng của người nghệ
sĩ ngôn từ là am hiểu và miêu tả thành công thế giới nội tâm của
nhân vật trong tác phẩm văn học. Bằng những kiến thức đã học về
đoạn trích: “Kiều ở lầu Ngưng Bích” (Trích Truyện Kiều của
Nguyễn Du) em hãy làm sáng tỏ điều đó?
--------- Hết --------Họ và tên thí sinh: ………………Số báo danh: ......................
Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm


HƯỚNG D ẪN CH ẤM BÀI THI CH ỌN H ỌC SINH GI ỎI
LỚP 9
Câu 1: (8,0 điểm)
*Yêu cầu về kỹ năng:
- HS biết cách làm bài văn nghị luận xã hội dưới dạng một
câu chuyện.
- Văn phong trong sáng, ngôn từ chọn lọc, lập luận sắc sảo,
chặt chẽ.
*Yêu cầu về kiến thức:

phạt khác. Khoan dung giúp giải thoát những hận thù, tranh chấp
cân bằng cuộc sống, sống hòa hợp hơn với mọi người xung quanh.
- Đối lập với khoan dung là đốkị, ghen tỵ, ích kỉ, định kiến.
- Khoan dung không có nghĩa là bao che cho những việc làm
sai trái.
* Lưu ý: Trong quá trình làm bài, thí sinh cần tìm được
những dẫn chứng sinh động, phù hợp để làm sáng tỏ vấn đề.
3. Rút ra bài học nhận thức: (1 điểm)
- Cần phải sống khoan dung nhân ái.
- Sống khoan dung với người cũng chính là khoan dung với
mình.
Câu 2: (12,0 điểm)
A. Yêu cầu cần đạt:


Bài làm của học sinh cần đảm bảo những yêu cầu sau:
I. Yêu cầu về kỹ năng:
- Biết cách làm bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn
học.
- Kết cấu chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, khuyến khích các bài
viết sáng tạo.
II. Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở những kiến thức đã học về Truyện Kiều, đặc biệt
là đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích” cần làm rõ được sự am hiểu
và miêu tả thành công thế giới nội tâm nhân vật Thúy Kiều là một
phương diện thể hiện tài năng của Nguyễn Du với các nội dung
sau:
1. Giải thích ý kiến: 2đ
- Văn học phản ánh cuộc sống bằng hình tượng nghệ thuật,
chủ yếu là hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Một trong những

- Cảnh thiên nhiên trong 8 câu cuối thực sự là khung cảnh của
bi kịch nội tâm. Mỗi cảnh vật thiên nhiên gợi những tâm trạng
khác nhau trong lòng Kiều. Bức tranh thiên nhiên cũng là bức tranh
tâm trạng.
d. Vai trò của nghệ thuật miêu tả nội tâm trong việc xây dựng
thành công hình tượng nhân vật Kiều: Vẻ đẹp lòng hiếu thảo, thủy


chung, ý thức về danh dự phẩm hạnh và thân phận cô đơn hoảng sợ
của Kiều trướ c một tươ ng lai đầy cạm bẫy.( 1đ)
3- Đánh giá:
Thành công trong việc miêu tả nội tâm nhân vật là một
phương diện để thể hiện tài năng của nhà văn, làm nên sức sống
cho hình tượng nhân vật, cho tác phẩm văn học. Có lẽ Truyện Kiều
sống mãi một phần bởi nghệ thuật miêu tả nội tâm sâu sắc của
Nguyễn Du. (1đ)
* Lưu ý:
- Giám khảo cần vận dụng linh hoạt khi chấm đểđánh giá đúng
bài làm của học sinh.
- Khuyến khích những bài viết sáng tạo.
- Điểm toàn bài cho lẻ đến 0,5.

Đề thi chọn HSG Ngữ Văn 9 của trường Thành Minh
năm 2013-2014
ĐỀ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9
NĂM HỌC 2013 – 2014
MÔN THI: NGỮ VĂN
(Thời gian làm bài 150 phút không kể thời gian giao đề)

Câu 1 (4 điểm):

viết

cảm
xúc.
2.Về
nội
dung:
Đoạn văn chỉ ra đầy đủ và phân tích rõ giá trị của các biện pháp tu
từ được sử dụng ở hai dòng thơ đã cho, từ đó làm rõ tài năng bậc


thầy của đại thi hào Nguyễn Du trong việc sử dụng các biện pháp
nghệ
thuật
độc
đáo
để
miêu
tả
cảnh:
Biện
pháp
nhân
hoá;
Quyên
đã
gọi

-> âm thanh tiếng chim cuốc khắc khoải gọi hè báo hiệu bước đi
của

vì nhan đề này thiếu tính khái quát “Làng Chợ Dầu“là một danh
từ
riêng
chỉ
một
làng
quê
cụ
thể.
Do đó, tình yêu làng được thể hiện cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi
cá nhân ở một làng quê, một địa phương cụ thể mà thôi
- Nhan đề “Làng” có tính khái quát cao. Làng là danh từ chung chỉ
mọi
làng
quê
trên
đất
nước
ta.
Vì vậy, đặt tên truyện là :”Làng“, Kim Lân muốn tác phẩm của
mình không chỉ thể hiện tình yêu làng yêu nước của một nhân vật
ông Hai, mà sâu rộng hơn, tác giả còn muốn nói đến một tình cảm
bao trùm, phổ biến – đó là tình yêu làng quê, yêu đất nước – trong
mọi người dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp trên
khắp mọi miền Tổ quốc.
Câu
3:
Yêu
cầu
chung

cầu
cụ
thể
Bài
làm
cần
đảm
bảo
những
ý
sau:
Mở bài: Dẫn dắt giới thiệu 2 ý kiến trên khái quát được ý nghĩa
của cả 2 câu nói không nên để cho lòng ghen tị tồn tại dù chỉ là
trong
suy
nghĩ
mỗi
người.
Thân
bài:
- Nêu khái niệm về ghen tị và những biểu hiện của lòng ghen tị.
- Phân biệt giữa ghen tị và thi đua: giữa ghen tị và thi đua có một
khoảng xa cách như giữa xấu xa và đức hạnh.
- Tác hại của lòng ghen tị:đừng để cho con rắn ghen tỵ luồn vào
trong
tim.
- Từ đó nhắc nhở mọi người ý thức sống đúng đắn.
Kết
bài:
-Khẳng định lại giữa ghen tỵ và thi đua là một khoảng cách và giá

bếp
lửa.
Thân
bài:
- Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn cảm xúc về bà, về những hồi ức đẹp
đẽ
của
tuổi
thơ,
về
tình

cháu
Bếp
lửa
đời:


+ Là hình ảnh quen thuộc trong mỗi gia đình Việt Nam
+ Gợi sức sống, tình cảm gia đình và sự bình yên, no ấm.
Bếp
lửa
trong
thơ
Bằng
Việt:
+ Hình ảnh bếp lửa gắn liền với bà khiến cho người đọc liên tưởng
đến
mối
quan

bếp
lửa
lòng
người.
(
dẫn
chứng)
+ Từ bếp lửa, tình cảm của bà đã được hình tượng hóa trở thành
ngọn lửa, là một hành trình từ cái đơn sơ giản dị đến những cái
thiêng liêng cao cả, từ cái thực đến cái linh hồn….Bếp lửa trong kí
ức tuổi thơ chính là hiện hữu của một tình yêu nồng nàn, đượm đà


dành
cho
cháu.
+ Trong tình cảm của bà có tình yêu quê hương, đất nước của
những người xa quê, nhớ bà là nhớ quê hương đất nước.
Kết
bài:
- Hành trình từ bếp lửa đời đến bếp lửa trong thơ Bằng Việt là
hành trình của tình yêu, nỗi nhớ, sự biết ơn và sức sống mãnh liệt.
- Bếp lửa trong dòng hồi tưởng nhưng sẽ rực sáng với ngọn lửa
tình yêu và niềm tin mãnh liệt, không bao giờ vụt tắt.


Đề thi chọn HSG Cấp Huyện môn Ngữ Văn 9 - Huyện
Tĩnh Gia 2015-2116
ĐỀ THI CH ỌN H ỌC SINH GI ỎI C ẤP HUY ỆN
TĨNH GIA

chú đó, chú ăn rồi, cháu ăn đi cho đỡđói”. Cậu bé nhận túi
lương khô, khom người cảm ơn. Tôi tưởng em sẽ ăn ngấu
nghiến ngay lúc đó, nhưng thật bất ngờ, cậu mang khẩu phần
ít ỏi ấy đi thẳng đến chỗ những người đang phân phát thực
phẩm, đểtúi thức ăn vào thùng rồi quay lại xếp hàng.
Ngạc nhiên vô cùng, tôi hỏi tại sao cháu không ăn mà
lại đem bỏ vào đó. Cậu bé trả lời: “Bởi chắc còn có nhiều
người bị đói hơn cháu. Cháu bỏ vào đó để cô chú phát
chung cho công bằng.”


(Dẫn theo báo Dân trí điện tử)
Câu 3 (12 điểm).
“Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta
một ánh sáng riêng...”
(Nguyễn Đình Thi, Tiếng nói của văn nghệ)
Em hiểu như thế nào về ý kiến trên? Hãy nói về “ánh
sáng riêng” mà truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn
Thành Long đã “rọi vào” tâm hồn em.

H ƯỚNG D ẪN CH ẤM BÀI
Môn: Ngữ văn – Lớp 9

I. H ƯỚNG D ẪN CHUNG:
- Giám khảo chấm kĩ đểđánh giá một cách đầy đủ,
chính xác kiến thức xã hội, kiến thức văn học và kĩ năng
diễn đạt, lập luận trong bài làm của học sinh, tránh đếm ý
cho điểm.
- Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, có
tính định hướng. Giám khảo vận dụng linh hoạt, sử dụng

Bà không chỉ nhóm lên bếp lửa bằng đôi tay khéo léo để
bếp lửa cháy sáng, đểcó nồi khoai sắn ngọt bùi,có nồi

0,5


xôi gạo mới. Từ công việc nhóm lửa hàng ngày, bà còn
nhóm lên cả những nét đẹp tâm hồn tuổi thơ cháu, bồi
đắp

ước





tình

yêu

thương

cho

cháu.
+ Hoán dụ: khoai sắn ngọt bùi, nồi xôi gạo mới gợi ra

0,5

tình cảm gắn bó với những gì giản dị, gần gũi của quê


1,5

Thể hiện tình yêu thương ấm áp, sự đồng cảm, sẻ
chia giữa những con người đang ở trong hoàn cảnh éo
le, hoạn nạn. Điều này có thể thấy qua nghĩa cử cao đẹp
của nhân vật “tôi” đối với em nhỏ cũng như suy nghĩ,
việc làm đáng trân trọng của em bé bất hạnh.
* Bàn luận về vấn đề tình yêu thương giữa con
người vớ i con người trong cuộc sống:

0,75

- Trong cõi đời, tình yêu thương giữa con người với con 0,75
người là một giá trị cao quý, là điều cần thiết mà ai cũng
0,75
phải hướng tới. (VD minh họa)
- Trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn, lòng nhân ái 0,75
càng cần thiết để sưởi ấm những mảnh đời bất hạnh.
(VD minh họa)
- Lẽ “công bằng” trong khó khăn, hoạn nạn là biểu hiện
cao nhất của tình yêu thương giữa con người với con
người. (VD minh họa)
- Phê phán những kẻ sống vô cảm, ích kỉ, thờ ơ với
cộng đồng.
* Liên h ệ b ản thân và rút ra bài h ọc:
Mỗi người cần biết sống yêu thương, gắn bó, có

1,0


lòng, tinh thần của thời đại… mà nhà văn đã chuyển hoá
vào trong tác phẩm.
- “rọi vào bên trong”: là khả năng kì diệu trong việc tác
động vào nhận thức, tư tưởng, tình cảm của ta, chiếu toả

0,5


soi rọi vào sâu thẳm tâm trí ta, làm thay đổi mắt ta nhìn,
óc ta nghĩ…
- Mỗi tác phẩm mang một ánh sáng riêng in đậm dấu

0,5

ấn, phong cách riêng của nhà văn, từ cách đặt vấn đề,
giải quyết vấn đề, bày tỏ quan điểm, cách nhìn cuộc
sống đều mang nét riêng độc đáo.
2. Chứng minh qua “Lặng lẽ Sa Pa”: (8,0 điểm)
- Lặng lẽ Sa Pa là một truyện ngắn nhẹ nhàng, trong

1,0

trẻo, giàu chất thơ của Nguyễn Thành Long. Đây là một
tác phẩm đẹp từ nội dung đến hình thức nghệ thuật.
Trong tác phẩm nhà văn đã xây dựng được những hình
tượng nhân vật độc đáo, giàu lí tưởng tiêu biểu cho
phẩm chất của con người Việt Nam trong công cuộc lao
động xây dựng quê hương đất nước.
- Trước hết về giá trị nội dung: có thể xem tác phẩm


động chính là mảnh đất màu mỡ để người nghệ sĩ ươm
mầm. (Dẫn chứng và phân tích dẫn chứng)
- Về giá trị nghệ thuật: thứ ánh sáng đặc biệt của Lặng

1,0

lẽ Sa Pa mà người đọc cảm nhận được toả ra từ chất thơ
bàng bạc xuyên suốt tác phẩm.
+ Chất thơ trong cốt truyện, chất thơ thấm đượm trong

1,0


bức tranh phong cảnh thiên nhiên. Mỗi câu mỗi chữ
khắc hoạ bức tranh thiên nhiên đều giàu sức tạo hình,
rực rỡ sắc màu, nhịp điệu êm ái như một bài thơ. Cảm
xúc trước cảnh mới lạ ấy truyền cho người đọc những
rung động thẩm mĩ về vẻ đẹp của tác phẩm, làm dội lên
ước muốn một lần được đặt chân lên Sa Pa. (Dẫn chứng
và phân tích dẫn chứng)
+ Chất thơ trong nét đẹp tâm hồn của nhân vật, trong

1,0

ngôn ngữ và giọng điệu kể chuyện nhẹ nhàng trong
sáng. Ngôn ngữ truyện như dòng nước mát trôi vào tâm
trí người đọc, khơi gợi bao khao khát về một vùng đất
lặng lẽ mà thơ mộng. (Dẫn chứng và phân tích dẫn
chứng)
- Ánh sáng toả ra từ Lặng lẽ Sa Pa là một thứ ánh sáng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status