ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ TÍNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA PHỐI HỢP THUỐC LIỀU CỐ ĐỊNH Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐỘ II VÀ III - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC

NGUYỄN ĐÌNH ĐẠT

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ VÀ TÍNH TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ
CỦA PHỐI HỢP THUỐC LIỀU CỐ ĐỊNH Ở BỆNH
NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP ĐỘ II VÀ III

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ CỦA BÁC SĨ NỘI TRÚ

CHUYÊN NGÀNH NỘI KHOA
Mã số: NT 62 72 20 50

Người hướng dẫn: GS.TS. HUỲNH VĂN MINH

HUẾ 2016


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADA

: Hiệp Hội Đái Tháo Đường Hoa Kỳ

AHA

: Hiệp Hội tim mạch Hoa Kỳ


: Thuốc ức chế thụ thể

WHO

: Tổ chức y tế Thế giới


MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ...................................................................................................1
Chương 1
TỔNG QUAN...................................................................................................3
1.1. Chẩn đoán tăng huyết áp........................................................................3
1.2. Dịch tễ học tăng huyết áp.......................................................................3
1.3. Biến chứng của tăng huyết áp................................................................4
1.4. Điều trị tăng huyết áp.............................................................................5
1.5. Những khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp.....................................5
1.6. Tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị..............................................6
1.7. Các kết hợp thuốc được khuyến cáo hiện nay........................................7
1.8. Vai trò của điều trị phối hợp ở bệnh nhân tăng huyết áp......................8
1.8.1. Tăng hiệu quả hạ huyết áp...................................................................8
1.8.2. Tăng tính an toàn.................................................................................9
1.8.3. Vai trò của viên phối hợp liều cố định trong điều trị tăng huyết áp....9
1.9. Vài nét về thuốc chẹn kênh calci và thuốc ức chế men chuyển trong
điều trị tăng huyết áp...................................................................................10
1.9.1. Thuốc chẹn kênh Calci......................................................................10
1.9.2. Thuốc ức chế men chuyển.................................................................11
1.10. Kết hợp giữa thuốc chẹn kênh Calci và thuốc ức chế men chuyển....12
1.11. Các kết hợp thuốc khác trong điều trị tăng huyết áp..........................14

các nước đã và đang phát triển phải đối mặt. Theo thống kê của Kearney PM thì năm
2000 số người tăng huyết áp chiếm khoảng 26,4% dân số toàn thế giới và dự tính sẽ
tăng lên đến 29,2% vào năm 2025 . Ở Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy
số bệnh nhân mắc tăng huyết áp tăng dần theo xu thế phát triển của nền kinh tế. Về
vấn đề điều trị tăng huyết áp, tỷ lệ nam giới biết mình mắc bệnh tăng huyết áp là
40,6% ở các nước đang phát triển, nhưng chỉ có 29,2% bệnh nhân được điều trị và
9,8% bệnh nhân là có kiểm soát được tăng huyết áp, trong khi đó con số này ở nữ
giới lần lượt là 52,7%; 40,5%; 16,2% . Qua đây có thể thấy tỷ lệ bệnh nhân kiểm soát
được tăng huyết áp vẫn còn chưa cao, điều này phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân
chẳng hạn như chất lượng của hệ thống y tế trong việc phát hiện và theo dõi bệnh
nhân, kiến thức người dân về chế độ sinh hoạt trong tăng huyết áp, sự tuân thủ điều
trị của bệnh nhân,.... Theo nghiên cứu của Dezii CM và cộng sự, tỷ lệ tuân thủ điều
trị trong các bệnh mạn tính khoảng 30%, trong khi đó theo ước tính của WHO năm
2003 thì con số này trong bệnh tăng huyết áp là 50-70% . Kém tuân thủ điều trị là
một nguyên nhân quan trọng của việc không kiểm soát được tăng huyết áp. Dữ liệu từ
sáu nghiên cứu dịch tễ học khác nhau cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp chưa kiểm soát ở
các nước thuộc Châu Á-Thái Bình Dương cao hơn ở Hoa Kỳ và Châu Âu. Rõ ràng
rằng việc tuân thủ điều trị làm cho nhiều bệnh nhân đạt được huyết áp (HA) mục tiêu
hơn theo nghiên cứu trên 1000 bệnh nhân của Yiannakopoulou và cộng sự năm
2005 . Gupta A K và cộng sự công bố công trình nghiên cứu trên tạp chí
Hypertension năm 2010 rằng phối hợp liều cố định giúp tăng tuân thủ điều trị 29% so
với phối hợp thuốc tự do . Hiện nay tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nào về hiệu quả
của kết hợp thuốc liều cố định ở bệnh nhân tăng huyết áp, do đó chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài này với mục tiêu:

1


1. Đánh giá đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân tăng huyết áp độ II
và III.

như Hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA), Hội tim mạch Châu Âu (ESC),...
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu NESH – Điều tra toàn quốc về dịch tễ học
của THA và các yếu tố nguy cơ tại Việt Nam, thực hiện trên 9832 bệnh nhân ≥25
tuổi từ năm 2001- 2008, có 25,1% bệnh nhân có tăng huyết áp, trong đó có 48,4%
người biết mình có mắc tăng huyết áp nhưng chỉ có 61,1% là được điều trị, và trong
số này chỉ có 38,3% bệnh nhân là kiểm soát được tăng huyết áp, một con số quá
thấp. Tỷ lệ mắc tăng huyết áp tại nước chúng ta đang tăng dần theo thời gian, từ 1%

3


năm 1960, lên 11,2% năm 1992, rồi đạt mức 25,1% năm 2008. Rõ ràng tăng huyết
áp cũng đang dần trở thành vấn đề hàng đầu mà nền Y tế chúng ta đang đối mặt. Tỷ
lệ bệnh nhân biết mình mắc tăng huyết áp chưa nhiều, cũng như số bệnh nhân được
kiểm soát huyết áp càng nhỏ. Vấn đề kiểm soát huyết áp tại nước ta gặp nhiều khó
khăn do mạng lưới y tế chưa phát triển đầy đủ, số lượng bác sĩ còn thiếu, nhận thức
người dân còn kém,...
1.3. Biến chứng của tăng huyết áp
Tăng huyết áp là yếu tố chính đóng góp vào nguy cơ của bệnh lý tim mạch.
Khi toàn bộ các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lên gánh nặng bệnh tật được đánh giá, thì
tăng huyết áp là yếu tố quan trọng gây ra 54% bệnh nhân đột quỵ và 47% tỷ lệ bệnh
nhân bị bệnh tim thiếu máu cục bộ . Hậu quả của tăng huyết áp cũng được xác định
từ nghiên cứu dịch tễ học diện rộng. Phân tích từ 61 nghiên cứu quan sát tiến cứu về
huyết áp và tỷ lệ tử vong trên 958074 bệnh nhân được thực hiện bởi Lewington và
cộng sự năm 2003. Trải qua 12 năm theo dõi, có 11940 bệnh nhân tử vong do đột
quỵ, 32283 bệnh nhân mắc bệnh tim thiếu máu cục bộ, 60797 bệnh nhân mắc các
bệnh lý không do mạch máu khác. Tỷ lệ tử vong trong mỗi thập kỷ liên quan đến sự
tăng huyết áp. Từ 40-89 tuổi, mỗi khi tăng huyết áp tâm thu thêm 20mmHg hoặc
huyết áp tâm trương thêm 10mmHg thì nguy cơ tử vong do bệnh tim thiếu máu cục
bộ tăng gấp hai lần, và cũng tăng hai lần tử vong do đột quỵ. Qua đây các tác giả đưa

 Giảm tần số tim, như chẹn beta và chẹn kênh calcium (Verapamin,
Diltiazem).
 Giảm kháng lực mạch, như các thuốc dãn mạch do ức chế hệ renin (ức
chế men chuyển, ức chế thụ thể), dãn cơ trơn (chẹn kênh calcium Dihydropyridine
và chẹn thụ thể alpha) và dãn mạch trực tiếp (hydralazine, minoxidil)
1.5. Những khó khăn trong việc kiểm soát huyết áp
Mặc dù tầm quan trọng của việc phát hiện, điều trị, và kiểm soát huyết áp đã
được nhận ra từ nhiều thập kỷ, song vẫn còn tỷ lệ khá cao bệnh nhân chưa được
kiểm soát tốt huyết áp. Trong nghiên cứu tổng phân tích hệ thống từ các nghiên cứu
định lượng và định tính về những rào cản của bệnh nhân và nhân viên y tế trong
việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp thực hiện năm 2013 được đăng trên tạp chí
PLOS ONE đã cho thấy một vài rào cản. Đầu tiên đó là thiếu kiến thức về tăng
huyết áp. Tiếp theo là những căng thẳng, lo lắng, sự ức chế của bệnh nhân khi biết
mình bị bệnh tăng huyết áp, khi áp dụng liệu trình điều trị dài ngày, khi dùng thuốc
quá nhiều lần trong ngày, những tác dụng phụ của thuốc ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống...Phần lớn bệnh nhân được ghi nhận là quên dùng thuốc trong ngày. Một
số khác không có đủ niềm tin để theo đuổi điều trị do đó đã ngưng thuốc. Số còn lại

5


chuyển sang dùng các loại thuốc không rõ nguồn gốc. Cuối cùng đó chính là sự
giao tiếp giữa bệnh nhân và nhân viên y tế, sự tư vấn kỹ càng về bệnh cũng như liệu
trình điều trị là chưa đầy đủ đã làm ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị. Các tác giả
kết luận trong tình hình hiện nay, tuân thủ điều trị đã trở thành vấn đề nan giải và
cần phải được cải thiện mới mong đạt được kiểm soát huyết áp mục tiêu .
Nhân viên y tế

Thực hành theo
hướng dẫn điều trị

viên
y tế
Tuân thủ điều trị được xác định gồm dùng thuốc đúng, duy trì điều trị, chấp
hành những lời khuyên của bác sĩ (về chế độ ăn uống, tập luyện, kiêng cử...) là tối
quan trọng để bệnh nhân đạt được và duy trì được sự kiểm soát huyết áp. Về lâu dài
sẽ giúp làm giảm tình trạng bệnh tật và tử vong do bệnh tim mạch và cải thiện chất
lượng cuộc sống cũng như giảm chi phí chăm sóc sức khỏe, do giảm tỷ lệ bệnh
nhân nhập viện . Trong một nghiên cứu bao gồm trên 18000 bệnh nhân tăng huyết
áp mới được chẩn đoán, với thời gian theo dõi trung bình 4,6 năm, các tác giả ghi
nhận giảm có ý nghĩa 38% nguy cơ biến cố tim mạch (p = 0.032) ở nhóm bệnh nhân
tuân trị tốt (tỷ lệ ngày dùng thuốc ≥ 80%) so với nhóm bệnh nhân tuân thủ kém (số
ngày dùng thuốc ≤ 40%) . Tương tự, trong một nghiên cứu khác gồm hơn 59000
bệnh nhân THA, những bệnh nhân tuân trị kém (số ngày dùng thuốc
Khác

CCB

ACEs

Trong khuyến cáo của ESC 2013, 4 nhóm thuốc được sử dụng để kết hợp đó là
lợi tiểu, ARB, CCB, ACEs. Trong đó sự kết hợp giữa ACEs và ARB là không được
ủng hộ, các kết hợp còn lại đều mang lại lợi ích hạ huyết áp. Chẹn beta không được
xem là một trong những thuốc đầu tay trong điều trị tăng huyết áp trừ khi có chỉ định
bắt buộc (bệnh mạch vành,...). Điểm này giống với VSH 2014, cũng như JNC VIII.
1.8. Vai trò của điều trị phối hợp ở bệnh nhân tăng huyết áp
1.8.1. Tăng hiệu quả hạ huyết áp
Viên phối hợp hai nhóm thuốc hạ áp với cơ chế tác động bổ sung nhau đã
chứng tỏ một cách thuyết phục là có hiệu quả hạ áp tốt hơn so với khi dùng một thuốc
và tăng liều lên . Một phân tích hồi cứu gần đây với hơn 11000 bệnh nhân THA từ 42
thử nghiệm lâm sàng còn chỉ ra thêm rằng phối hợp hai thuốc (trong bốn nhóm: lợi
tiểu thiazide, chẹn kênh Canci (CCB), ACE-I và ARB) giúp giảm HA nhiều hơn năm
lần so với khi tăng gấp đôi liều một thuốc . Các hướng dẫn điều trị khuyên nên khởi
trị bằng hai thuốc ở một số nhóm bệnh nhân, bao gồm những người có nguy cơ tim
mạch cao. Một thử nghiệm khởi trị bằng viên phối hợp ARB và CCB ở bệnh nhân
THA giai đoạn 1-2 cho thấy phối hợp telmisartan và amlodipine làm giảm huyết áp
lúc hoạt động đáp ứng phụ thuộc liều thuốc, và phối hợp thuốc liều thấp thì tốt hơn so
với khi dùng đơn trị liều cao . Điều này gợi ý nên khởi trị sớm bằng viên phối hợp.
Hơn nữa, tỷ lệ kiểm soát được HA (

9


này hay đi liền với thuật ngữ “viên phối hợp liều cố định” hàm ý không thể chỉnh
liều một cách linh hoạt. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều loại viên phối hợp có nhiều
mức kết hợp phù hợp nên việc chỉnh liều khi kê toa trở nên hoàn toàn linh hoạt, tạo
thuận lợi cho việc khởi trị sớm bằng các viên phối hợp.
1.9. Vài nét về thuốc chẹn kênh calci và thuốc ức chế men chuyển trong điều trị
tăng huyết áp
1.9.1. Thuốc chẹn kênh Calci
Có ít nhất 6 loại kênh calci trong đó hai loại phổ biến là loại L (long-acting)
và loại T (transient). Type L chủ yếu hiện diện ở tế bào cơ trơn thành động mạch
(gây co mạch) và tế bào cơ tim (gây co cơ tim). Trong khi đó type T hiện diện ở các
tế bào tạo nhịp (nút xoang). Phân loại theo cấu trúc hóa học gồm hai nhóm lớn là
Non-dihydropiridine (verapamil và diltiazem) và Dihydropiridine (nifedipine,
amlodipine). Nhóm Dihydropiridine tác động chủ yếu lên kênh calci type L gây hạ
huyết áp. Thế hệ đầu (nifedipine) có tác dụng hạ huyết áp nhanh (do dãn hệ thống
động mạch, chủ yếu lên cơ vòng tiểu động mạch) nhưng có tác dụng phụ là kích
thích phản xạ áp lực gây ra nhịp tim nhanh, do đó không được sử dụng ở bệnh nhân
có bệnh lý mạch vành, hiện nay nhóm này cũng không được khuyến cáo trong điều
trị tăng huyết áp cấp cứu.
Những thế hệ sau của nhóm Dihydropiridine (như amlodipine, lecardipine)
tác dụng kéo dài hơn, gây hạ huyết áp từ từ, do đó hạn chế được phản xạ nhịp
nhanh, được sử dụng phổ biến. CCB Dihydropiridine tác động chủ yếu lên cơ thắt
tiểu động mạch, do đó có thể gây phù do làm ứ đọng dịch. Ngược lại nhóm nondihydropiridine tác động chủ yếu lên nút xoang, nút nhĩ thất, ít tác động lên cơ tim,
do đó có tác dụng giảm nhịp tim .

10


áp. Tác động lên tim làm thúc đẩy quá trình tái cấu trúc, dẫn đến rối loạn về chức
năng và suy tim. Do đó thuốc ức chế men chuyển có vị trí quan trọng trong điều trị
tăng huyết áp. Thuốc ức chế men chuyển được tìm thấy đầu tiên là captopril, sau đó
có nhiều loại được tạo ra. Tác dụng bất lợi của ức chế men chuyển là gây ho dai
dẳng (hay gặp ở nam giới). Phụ nữ có thai không nên dùng thuốc này do nguy cơ
gây bất thường thai nhi .

11


Ức chế giao cảm
gián tiếp

Ức chế men chuyển

Ức chế Aldosteron

Thụ thể áp suất

Kích thích phó giao
cảm

Tác dụng lợi
tiểu

ARB
ARB

SVR ↓
Lợi tiểu

(benazepril / hydrochlorothiazide) về hiệu quả giảm biến cố tim mạch (lần lượt là 113
(2%) so với 215 (37%) biến cố; HR: 0.52; 0.41-0.65, p < 0.0001) . Trong đó, tỷ lệ

Tỷ lệ bệnh nhân có biến cố tiên phát (%)

kiểm soát HA trong nghiên cứu là 73%, đạt được trong vòng 6 tháng đầu tiên.

Tháng
Số bệnh nhân có nguy cơ

Hình 1.3: Đường biểu diễn Kaplan-Meier thời gian xuất hiện các biến cố tiên phát
Viên phối hợp ức chế men chuyển và chẹn kênh Calci còn cho thấy tác dụng
làm chậm lại mức giảm độ lọc cầu thận hàng năm tương đối so với nhóm dùng ức

13


chế men chuyển và hydrochlorothiazide (lần lượt là –0.88 so với –4.22 ml/phút/1.73
m2, p = 0.01) .
1.11. Các kết hợp thuốc khác trong điều trị tăng huyết áp
Từ năm 1999, khuyến cáo của WHO/ISH về điều trị tăng huyết áp đã đề cập
đến 6 nhóm thuốc, và viên kết hợp liều cố định được định nghĩa là sự kết hợp của
hai hay nhiều nhóm thuốc trong một viên. Theo các số liệu thống kê, rất ít bệnh
nhân đạt được huyết áp mục tiêu với đơn trị liệu, do đó nhiều bệnh nhân cần kết
hợp thuốc. Trong cuộc khảo sát về khuynh hướng sử dụng thuốc kết hợp ở Pháp từ
năm 2002-2012, việc sử dụng viên kết hợp tăng từ 19% lên 30% . Trong một vài
nghiên cứu, phần lớn bệnh nhân không thể đạt huyết áp mục tiêu khi dùng 1 nhóm
thuốc, và bác sĩ sẽ cố gắng nâng liều lên, tuy nhiên việc nâng liều chỉ mang lại hiệu
quả rất nhỏ trong việc kiểm soát huyết áp. Các nhóm thuốc có thể kết hợp: ức chế
men chuyển, ức chế thụ thể, chẹn kênh calci, chẹn beta, chẹn alpha giao cảm, lợi

nhân tăng huyết áp được dùng viên phối hợp liều cố định.

15


Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn bệnh
- Bệnh nhân được điều trị ngoại trú tại phòng khám thuộc Trung tâm y học
gia đình Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế và phòng khám Nội tim mạch
Bệnh viện Trung Ương Huế.
- Được xác định là tăng huyết áp độ II và III đang được điều trị bằng đơn trị
liệu như amlodipine, lisinopril ...
- Tình nguyện tham gia nghiên cứu.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
• Tắc nghẽn đường ra thất trái (hẹp cung động mạch chủ, bệnh cơ tim phì
đại, hẹp van động mạch chủ nặng), hẹp van hai lá, hoặc sốc tim.
• Phụ nữ có thai, hoặc cho con bú
• Hẹp động mạch thận hai bên
• Bệnh nhân không hợp tác tham gia nghiên cứu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu lâm sàng, có so sánh đối chứng, tiến cứu.
2.2.2. Cỡ mẫu
Số bệnh nhân tối thiểu của hai nhóm là 30 bệnh nhân
2.2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:
o Thời gian nghiên cứu: dự tính từ tháng 7/2016 đến tháng 6/2018
o Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Y học Gia đình thuộc Bệnh viện Trường
Đại học Y Dược Huế, và phòng khám Nội thuộc Bệnh viện Trung ương Huế.

Cl-Cr (ml/ phút)
• Tiền sử đái tháo đường type 2 được ghi nhận khi bệnh nhân có giấy xuất
viện chẩn đoán đái tháo đường hoặc các thuốc đang được điều trị. Giá trị glucose
máu được ghi nhận qua các lần thăm khám. Chẩn đoán đái tháo đường type 2 trong
lần thăm khám đầu tiên dựa vào tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường type 2 của
ADA 2015 gồm :
o HbA1c ≥6.5%
o Glucose huyết tương đói ≥7.0mmol/L
o Glucose huyết tương hai giờ sau ăn ≥11.1mmol/L

17


o Gluocose máu tĩnh mạch bất kỳ ≥11.1mmol/L kèm các triệu chứng của
tăng glucose máu hoặc có cơn tăng glucose máu cấp.
• Tiền sử gia đình có tăng huyết áp: khai thác ở những người thân cận nhất
(anh chị em ruột, cha hoặc mẹ,...). Các bệnh tim mạch chẳng hạn như tăng huyết áp,
nhồi máu cơ tim, đột tử do tim,...Các bệnh lý thận mạn như suy thận mạn, thận đa
nang, viêm cầu thận mạn,...
• BMI được xác định từ cân nặng (kg) và chiều cao (m) theo công thức :
BMI= cân nặng (kg)/[(chiều cao)2]. Tiêu chuẩn chẩn đoán béo phì được áp dụng
cho người Châu Á trưởng thành WHO 2007 khi BMI ≥23 .
• Ghi nhận các thông số trên điện tâm đồ gồm: nhịp, tần số tim, trục điện học,
có hay không có dày thất trái (áp dụng tiêu chuẩn điện thế của Sokolov-Lyon RV5 (V6)
+ SV1 (V2) >35mm; hoặc tiêu chuẩn điện thế Cornel RaVL+SV3 >28 (nam); >20 (nữ),
có hay không biến đổi đoạn ST-T giữa các lần đo .
• Trên siêu âm tim ghi nhận :
o Chỉ số khối cơ thất trái (LVMI), gọi là dày thất trái khi LVMI
>95g/m2 (nữ), và >115g/m2 (nam).
o Chức năng co bóp của tim (EF).

khỏi nghiên cứu.
Kết thúc quá trình nghiên cứu, xác định mức huyết áp tâm thu trung bình
trước và sau khi điều trị, huyết áp tâm trương trung bình trước và sau khi điều trị.
Tỷ lệ ngày dùng thuốc và ngày bỏ thuốc so với toàn bộ quá trình điều trị. Số viên
thuốc đã dùng so với số thuốc được cấp trong 8 tuần điều trị. Qua đó xác định tỷ lệ
tuân trị. Ghi nhận các tác dụng phụ bệnh nhân than phiền trong thời gian điều trị.
2.2.7. Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả điều trị huyết áp:
Để đánh giá hiệu quả của điều trị huyết áp, tại mỗi lần tái khám, bệnh nhân
đều được đo huyết áp. Huyết áp tại mỗi lần thăm khám được ghi nhận vào bảng.
Được xem là hiệu quả khi huyết áp sau điều trị hạ xuống dưới 140/90mmHg . Lấy
hiệu số của huyết áp tâm thu qua các lần khám, và huyết áp tâm trương qua các lần
thăm khám của mỗi nhóm. Từ đó xác định trung bình của độ giảm huyết áp. So
sánh giữa hai nhóm, nhóm nào có trung bình độ giảm huyết áp nhiều hơn thì có
hiệu quả hơn.
2.2.8. Tiêu chuẩn đánh giá tính tuân trị của bệnh nhân:
Tỷ lệ tuân trị đối với mỗi bệnh nhân thường được báo cáo là phần trăm số thuốc
được kê đơn được sử dụng bởi bệnh nhân trong một thời gian nhất định. Một số nhà
nghiên cứu còn xác định thêm về sự tuân trị bằng cách xác định liều dùng (số viên
thuốc được kê đơn mỗi ngày) và thời gian của mỗi lần dùng (dùng thuốc theo thời gian
được kê đơn). Tỷ lệ tuân trị cao hơn ở những bệnh nhân có tình trạng bệnh lý cấp tính,

19


khi được so sánh với những bệnh nhân có bệnh lý mạn tính (sự tuân thủ ở những bệnh
nhân có bệnh lý mạn tính giảm đáng kể sau 6 tháng đầu tiên của điều trị) .
Tỷ lệ tuân trị trung bình ở một vài nghiên cứu có thể cao đáng kể, do sự chọn
lọc bệnh nhân. Chưa có chuẩn chung về sự tuân trị thích hợp. Một vài nghiên cứu
xem tỷ lệ >80% là có thể chấp nhận, trong khi đó những nghiên cứu khác lấy con số
trên 95%, đặc biệt đối với những bệnh nhân có bệnh lý nặng chẳng hạn như HIV.

trị, do đó chúng tôi lấy tỷ lệ số ngày dùng thuốc/tổng thời gian điều trị >80% (được
nhiều tác giả chấp nhận) để xem là tuân trị .

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status