LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình do chính tôi thực hiện với sự hướng dẫn
của TS. Nguyễn Thọ Khang. Các số liệu, tài liệu nêu trong tiểu luận là hoàn toàn
trung thực.
Sinh viên thực hiện
Lê Thị Mai
QUY ƯỚC VIẾT TẮT
CMXHCN
: Cách mạng xã hội chủ nghĩa
CNTB
: Chủ nghĩa tư bản
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CNXH – DC
: Chủ nghĩa xã hội – dân chủ
CNXHKH
: Chủ nghĩa xã hội khoa học
tiêu lý tưởng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Con đường cách mạng của nước ta từ một nước nông nghiệp tiến lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến đổi về chất của xã hội trên tất
cả các lĩnh vực là sự nghiệp khó khăn, phức tạp. Cho nên thời kỳ quá độ ở nước ta
rất lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính
chất quá độ. Đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng bí thư đầu tiên của Đảng thời kì đổi
mới nhận mạnh : “Nói đổi mới tư duy, điều căn bản là phải đổi mới tư duy lý
luận”. Đồng chí đặt vấn đề để xứng đáng là người lãnh đạo chính trị đối với xã
hội, với niềm tin yêu của dân, Đảng phải không ngừng nâng cao và hoàn thiện sự
lãnh đạo của mình. Công cuộc đổi mới hiện nay đòi hỏi mỗi cán bộ đảng viên phải
không ngừng học tập, nếu thiếu trình độ lý luận, học vấn thì khó mà làm được. Đây
là lĩnh vực đầy rẫy những cấp bách, thậm chí là cấp bách nhất phải đổi mới.
Trải qua gần 15 năm (1986 – 2000), công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do
Đảng ta khởi xướng, lãnh đạo, được nhân dân đồng tình hưởng ứng, đã đạt được
những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Điều đó chứng tỏ đường lối
đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là
phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản, trong bối cảnh toàn
cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, do đó, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội,
đổi mới đất nước cũng có nhiều điểm khác so với thời kỳ trước đây.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986) của Đảng, trong khi khẳng định
tính toàn diện, phạm vi bao quát tất cả các mặt, các lĩnh vực của quá trình đổi mới,
đã đồng thời coi đổi mới tư duy lý luận, tư duy chính trị về các vấn đề của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội là khâu đột phá. Đổi mới tư duy lý luận của Đảng,
là vấn đề cấp thiết với sự lãnh đạo của Đảng đồng thời là vấn đề cơ bản, có ý nghĩa
chiến lược đối với cách mạng nước ta. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
(1996) đã khẳng định "Xét trên tổng thế, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới tư duy
chính trị trong việc hoạch định đường lối chính sách đối nội và đối ngoại. Không
quốc gia, Hà Nội, 2003.
- V.I Lênin, Về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội
H. : Sự thật, 1967.
- Về cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội/ Hồ Chí
Minh - H: Sự thật, 1976.
- " Định hướng XHCN và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam - Nguyễn
Phú Trọng - NXBCTQG Hà Nội, 2000.
- Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII... của Đảng Cộng
Sản Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã đề cấp đến vấn đề quá
trình hình thành, phát triển lý luận về con đường đi lên CNXH của quá trình thực
hiện CMXHCN ở nước ta theo nhiều khía cạnh khác nhau và có nội dung phong
phú. Mặc dù vậy do gắn với lý luận và thực tiễn, để đáp ứng được nhu cầu thực
tiễn trên, tác giả chức có điều kiện đi sâu vào toàn bộ các vấn đề một cách có hệ
thống. Đặc biệt trong đó có việc đi sâu tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn về điều
kiện quốc tế đảm bảo sự thắng lợi cho quá trình hình thành, phát triển lý luận về
các giai đoạn tất yếu của CMXHCN.
Những tác phẩm này đều có những nội dung liên quan đến vấn đề phát triển
tư tưởng lý luận về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam được nhìn nhận theo
những quan điểm khác nhau. Trong đề tài của mình tác giả nghiên cứu vấn đề dưới
góc nhìn của chủ nghĩa xã hội khoa học.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của tiểu luận nhằm làm rõ những tư tưởng, lý luận và
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con đường đi lên CNXH trong giai
đoạn 1986 - 2000, để thực hiện được mục tiêu này tác giả đưa ra ba nhiệm vụ sau
đây:
Thứ nhất, Những lý luận chung về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.
Thứ hai, Qúa trình phát triển tư tưởng và lý luận về con đường đi lên CNXH
CNXHKH hiện đại là CNXKH được xây dựng và phát triển cơ sở nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác - Lênin và được bổ sung, được khái quát từ những nội dung
mới qua sự phản ánh cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân
dân lao động ở các quốc gia, các dân tộc và cuộc đấu tranh chung của nó trên toàn
thế giới trong giai đoạn phát triển của nó.
Mà khái niệm con đường đi lên CNXH ở Việt Nam (theo nghĩa hẹp) là khái
niệm được dùng để chỉ định hướng phát triển đi lên CNXH của cách mạng dưới sự
chỉ đạo của Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ngay sau khi hoàn thành cách
mạng dân tộc dân chủ nhân dân mà không đi con đường lên CNTB. Mà theo nghĩa
rộng, là khái niệm dùng để chỉ quá trình đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt
Nam từ những năm 20 của thế kỷ XX với mục tiêu, nội dung, nhiệm vụ, mô hình,
phương hướng, động lực của nó và thực hiện thông qua các bước đi, những
phương thức, giải pháp thích hợp nhằm xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam,
góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công
nhân quốc tế và các mục tiêu chung của nhân loại vì hòa bình độc lập dân tộc và
tiến bộ xã hội.
Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ
sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, nhưng tiếp thu, kế thừa những
thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa
học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế
hiện đại. Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự biến
đổi về chất của xã hội trên tất cả các lĩnh vực là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp,
cho nên phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình
thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ.
Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội diễn ra sự đan xen và đấu tranh giữa cái
mới và cái cũ. Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất,
nhiều thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau, nhưng cơ cấu, tính
làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng”.
(ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, 2006, tr.6970).
Những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về CNXH và xây dựng CNXH có
giá trị bền vững trong việc tạo ra thế giới quan và phương pháp luận khoa học và
cách mạng cho các Đảng Cộng Sản nhận thức, xác định những mô hình, những đặc
trưng cách thức xây dựng XHCN phù hợp với điều kiện cụ thể của nước mình.
Thực tiễn cách mạng thế giới đã và đang chứng minh sức sống, giá trị bền vững
của những “nguyên lý tổng quát”- những quan điểm thể hiện tính phổ biến về
CNXH và về xây dựng CNXH của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin.
C.Mác và Ph.Ăngghen, với rất nhiều công trình nghiên cứu đã khái quát nên
những đặc trưng (mang tính dự báo) về xã hội xã hội chủ nghĩa, giai đoạn đầu (giai
đoạn thấp) của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản và giai đoạn sau (giai đoạn cao)
của hình thái đó, khi mà “thay thế cho xã hội tư sản cũ, với những giai cấp và đối
kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hợp, trong đó sự phát triển tự do của
mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”. (C.Mác và
Ph.Ăngghen, toàn tập, Nxb CTQG, 1995, tập 4, tr.628)
Đồng thời với việc phác thảo những đặc trưng của CNXH, CNCS, C.Mác và
Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra tính quy luật phổ biến của công cuộc xây dựng CNXH
là: cuộc cách mạng XHCN phải do giai cấp công nhân lãnh đạo thong qua đội tiên
phong của họ là Đảng Cộng Sản; cuộc cách mạng phải được tiến hành thường
xuyên liên tục, không ngừng qua từng thời kỳ với các nhiệm vụ cụ thể; sau khi giai
cấp công nhân đã giành được chính quyền thì phải sử dụng chính quyền phát triển
lực lượng sản xuất, giải quyết tốt các quan hệ lợi ích giữa giai cấp công nhân với
dân tộc, dân tộc và quốc tế…
V.I.Lênin là người kế tục sự nghiệp vĩ đại của C.Mác và Ph.Ăngghen đã vừa
bảo vệ, vừa bổ sung, phát triển những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, cụ
thể hóa quan niệm về CNXH ở nước Nga Xô- viết và cách thức con đường xây
dựng CNXH ở nước Nga. Chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I.Lenin đã cho thấy
thực hiện. Nhưng quan trọng nhất là những quan điểm mang tính chất phương
pháp luận của Người về CNXH và xây dựng CNXH. Trước khi cuộc cách mạng
XHCN tháng Mười Nga nổ ra, từ năm 1916, trong tác phẩm “ Về một sự biếm họa
chủ nghĩa Mác”, V.I.Lênin từng khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi lên chủ
nghĩa xã hội , đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến lên
chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa
đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào
loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác
của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội”.
(V.I.Lênin, toàn tập, tập 30, Nxb Tiến bộ, 1981, tr.160).
Về sau, bằng thực tế sinh động của công cuộc xây dựng CNXH ở nước Nga Xô
- viết, trong tác phẩm: “ Bệnh ấu trĩ tả khuynh trong phong trào cộng sản (1920)
Người còn chỉ rõ: “… nhiệm vụ của những người cộng sản là phải biết áp dụng
những nguyên tắc phổ biến và cơ bản của chủ nghĩa cộng sản vào đặc điểm của
những mối quan hệ giữa giai cấp và các đảng, vào đặc điểm của sự phát triển
khách quan hướng tới chủ nghĩa cộng sản, những đặc điểm riêng của mỗi nước, mà
chúng ta phải biết nghiên cứu, phát hiện và dự đoán”. (V.I.Lênin, toàn tập, tập 41,
Nxb Tiến bộ, 1978, tr.93).
Cơ sở lý luận và phương pháp luận để có những nhận thức mới về CNXH và
xây dựng CNXH là phải biết “kết hợp những nguyên lý phổ biến vào đặc điểm
riêng của từng quốc gia, dân tộc, phải nghiên cứu, phát hiện những nét đặc thù của
CNXH và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở từng nước”. Quan điểm duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin phải được quán triệt, vận dụng sáng
tạo trong xử lý mối quan hệ giữa “cái phổ biến” và “cái đặc thù” ngay trong nhận
thức về CNXH và về con đường đi lên CNXH phù hợp, thiết thực với điều kiện cụ
thể của từng quốc gia, dân tộc.
Những quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH ở Việt Nam là kết quả
vận dụng sáng tạo, phát triển lý luận Mác – Lênin về CNXH và xây dựng CNXH,
trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Người đã xác định đặc điểm của thời kỳ quá
độ lên CNXH và nhiệm vụ quan trọng nhất cần thực hiện: “…đặc điểm to nhất của
ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ
nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa… Vì vậy,
nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là xây dựng nền tảng vật chất và kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp
và nông nghiệp hiện đại, có nền văn hóa và khoa học tiên tiến. Trong quá trình
cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền
kinh tế mới, mà xây dựng là nhiệm vụ chủ chốt và lâu dài”.
Để xây dựng CNXH, Người đã chỉ rõ trách nhiệm lãnh đạo của Đảng, vai trò
quản lý của Nhà nước, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phải phát huy dân
chủ để “dân là chủ”, “dân làm chủ”… Tư tưởng “lấy dân làm gốc” của cha ông ta
đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng trong công cuộc xây dựng CNXH: “Để
giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ
chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”. Về cách thức
tiến hành xây dựng CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn đòi hỏi Đảng, Nhà
nước, đội ngũ cán bộ phải có tri thức, trí tuệ trong tìm hiểu, nắm vững quy luật,
phải đấu tranh chống phiêu lưu, chủ quan, chống tác phong quan liêu đại khái. Phải
xác định lộ trình, bước đi thận trọng, vững chắc để đi lên CNXH: “Tiến nhanh, tiến
mạnh không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững
chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận
những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Kế hoạch phải chắc chắn, cân đối.
Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế. Phải chống bệnh chủ quan,
tác phong quan liêu đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong
mọi công tác cũng như trong khi định ra mọi chính sách của Đảng và Nhà nước”.
Để xây dựng thành công CNXH, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vấn đề xây
dựng Đảng, nâng cao vai trò, sức chiến đấu của Đảng là yếu tố quyết định. Người
đặt ra nhiệm vụ phải tăng cường về mặt tư tưởng và toàn diện về tổ chức, đồng
thức mới về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam hiện nay.
Thực tiễn của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới phản ánh thực tiễn lãnh đạo
của Đảng Cộng Sản Việt Nam với những thành tựu đạt được trong thực hiện hai
nhiệm vụ chiến lược: xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN - đây là cơ sở
thực tiễn quan trọng nhất để tiếp tục có những nhận thức mới về CNXH và xây
dựng CNXH ở nước ta. Có thể cụ thể hóa cơ sở thực tiễn này dựa trên các phương
diện lý luận sau:
+ Thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối
nội, đối ngoại của Việt Nam sau hơn 20 năm đổi mới là cơ sở thực tiễn đã kiểm
chứng, phản ánh thành quả của đổi mới nhận thức về CNXH và xây dựng CNXH ở
Việt Nam trong việc xác định đặc trưng, bản chất của xã hội - XHCN mà nhân dân
ta đang xây dựng, những phương hướng, nội dung, nhiệm vụ cụ thể và cách thức
thực hiện chúng trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam.
+ Những bước phát triển về công tác tư tưởng, lý luận từ năm 1986 đến 2000
và quá trình gắn lý luận với thực tiễn, tổng kết thực tiễn và phát triển về CNXH ở
Việt Nam trên cơ sở những quan điểm Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về
CNXH và con đường xây dựng CNXH.
+ Đó là nhu cầu mới đòi hỏi lý luận phải giải đáp nhiều vấn đề, định hướng cho
hoạt động thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính
sách của Đảng, Nhà nước, bổ sung hoàn thiện “ Cương lĩnh xây dựng đất nước
trong thời kỳ quá độ lên CNXH” ở Việt Nam.
+ Các vấn đề thực tiễn và lý luận đặt ra cần giải đáp một cách thuyết phục liên
quan đến nhận thức về CNXH và xây dựng CNXH ở Việt Nam như: phân tích, dự
báo về sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, các mâu thuẫn lớn của
thời đại và cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng; xu hướng, triển vọng của chủ
nghĩa xã hội, chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân trong bối cảnh toàn cầu hóa
kinh tế; giải quyết như thế nào cho đúng đắn, phù hợp với điều kiện Việt Nam
những mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát triển bền vững, giữa
đời chưa đủ thực lực chiến thắng hoàn toàn cái cũ.
Mà bản chất nhất của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là tính
đan xen giữa cái cũ và cái mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có tính
gay go, phức tạp, lâu dài nhắc nhở chúng ta không được chủ quan, nóng vội, duy ý
chí. Kiểu quá độ của V.I. Lênin là quá độ toàn diện, gián tiếp. Vì từ các nước thuộc
địa đi lên chủ nghĩa xã hội có xuất phát điểm thấp. Nhận thức của Đảng cộng sản
Việt Nam về thời kỳ quá độ lên CNXH từ sau khi miền Bắc được giải phóng thì đã
cụ thể hơn. Chia thời kỳ quá độ thành nhiều chặng đường, nhiều khâu trung gian,
nhiều bước quá độ; bắt đầu thời kỳ quá độ khi giai cấp công nhân và nhân dân lao
động giành được chính quyền bắt tay xây dựng chế độ xã hội mới; nhiệm vụ trung
tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ là xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của nền công
nghiệp cho chủ nghĩa xã hội nhằm cải tạo nông nghiệp tức là công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; độ dài thời kỳ quá độ tùy thuộc vào việc thực
hiện nhiệm vụ trung tâm xuyên suốt thời kỳ quá độ; kết thúc thời kỳ quá độ khi
xây dựng xong cơ sở vật chất kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Để đi đến đường lối
đổi mới toàn diện tại Đại hội VI, Đảng ta, qua thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội, đã trải qua nhiều bước tìm tòi và thử nghiệm.
Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước thống nhất, Đại hội IV của Đảng
họp tháng 12 - 1976 đã đề ra đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước
mà nội dung cơ bản là tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan
hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong
đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt. Nhưng trong quá trình tổ chức thực
hiện, chúng ta đã phạm sai lầm chủ quan, nóng vội, tính sai bước đi. Trong phát
triển lực lượng sản xuất, đã không tập trung phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ mà quá thiên về công nghiệp nặng, làm nhanh, làm nhiều. Về quan hệ sản
xuất, đã chủ trương cải tạo ồ ạt, muốn nhanh chóng xoá bỏ các thành phần kinh tế
tư nhân để xác lập một cách phổ biến các hình thức sở hữu tập thể và toàn dân đối
với tư liệu sản xuất ngay cả khi lực lượng sản xuất còn rất thấp kém. Về quản lý,
Đại hội toàn quốc lần thứ V của Đảng (3-1982) phát triển thêm một bước, đánh
giá một cách khách quan thành tựu và hạn chế trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã
chỉ ra nguyên nhân chủ quan gây nên sự sa sút của nền kinh tế là những khuyết
điểm, sai lầm về lãnh đạo và quản lý. Để góp phần khắc phục tư tưởng nóng vội,
Đại hội đưa ra khái niệm về “chặng đường trước mắt” của thời kỳ quá độ và xác
định trong chặng đường này, nội dung chính của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
là “coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng
tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu hợp lý”. Đại hội cũng khẳng định
sự tồn tại năm thành phần kinh tế trong một thời gian nhất định ở miền Nam.
Tuy nhiên sau đó, Hội nghị Trung ương 5 khoá V (12-1983) lại cho rằng sự
chậm chạp trong cải tạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên nhân của tình
trạng khó khăn về kinh tế, xã hội, từ đó, chủ trương để ổn định tình hình, phải đẩy
mạnh hơn nữa cải tạo xã hội chủ nghĩa; Nhà nước phải nắm hàng, nắm tiền, xoá bỏ
thị trường tự do về lương thực và các nông hải sản quan trọng, thống nhất quản lý
giá...
Hội nghị Trung ương 8 khoá V (6-1985) là bước đột phá thứ hai với chủ
trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện cơ chế một
giá; xoá bỏ chế độ cung cấp hiện vật theo giá thấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất
kinh doanh sang cơ chế hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa... Tháng 9-1985,
cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền được bắt đầu bằng việc đổi tiền, xoá bỏ
hoàn toàn chế độ tem phiếu. Do tư tưởng nóng vội, cuộc tổng điều chỉnh này đã
dẫn tới tình trạng giá cả thị trường có nhiều diễn biến phức tạp; lạm phát bị đẩy lên
tốc độ phi mã. Đầu năm 1986, lại phải lùi một bước, quay trở lại thực hiện chính
sách hai giá...
Mà xuất phát điểm lên chủ nghĩa xã hội còn quá thấp, từ một nền nông
nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chính với lực lượng sản xuất thấp kém, quan hệ sản
xuất manh mún, đại đa số là nông dân mang nặng tư tưởng nho giáo, phong kiến,
tiểu nông. Hậu quả chiến tranh nặng nề, vừa khôi phục, hàn gắn vết thương chiến
thoại.
Ở trong nước, nhân dân ta đã giành thêm được những thành tựu quan trọng trên
nhiều lĩnh vực, cải biến được một phần cơ cấu kinh tế xã hội. Song, chúng ta chưa
tiến xa được bao nhiêu, trái lại còn gặp nhiều khó khăn và khuyết điểm mới. Trong
thời kì thực hiện kế hoạch 5 năm (1981 - 1985), chúng ta không thực hiện được
mục tiêu đã đề ra là ổn định tình hình kính tế- xã hội, ổn định đời sống nhân dân.
Sai lầm về tổng điều chỉnh giá, lương, tiền cuối năm 1985 đã đưa nền kinh tế- xã
hội nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình trên đòi hỏi phải đổi mới
toàn diện để đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và phát triển đi lên. Trong bối
cảnh ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp tại Hà Nội, từ ngày
15 đến ngày 18-12-1976. Tham dự Đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt gắn 1,9 triệu
đảng viên trong cả nước. Nguyễn Văn Linh, Uỷ viên Bộ Chính trị đọc diễn văn
khai mạc Đại hội. Trường Chinh, Tổng Bí thư của Đảng đọc Báo cáo chính trị của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Võ Văn Kiệt đọc Báo cáo về phương hướng,
mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế- xã hội trong 5 năm (1986 - 1990).
Với tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật",
Đại hội khẳng định những thành tựu đã đạt được, đồng thời nêu ra những mặt hạn
chế, yếu kém và vạch rõ những nguyên nhân của sự yếu kém. Từ thực tiễn cách
mạng trong 10 năm vừa qua, Đại hội rút ra bài học kinh nghiệm quan trọng:
Một là, trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy
dân làm gốc", xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động.
Hai là, Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo
quy luật khách quan. Năng lực nhận thức và hành động theo quy luật là điều kiện
bảo đảm sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Ba là, phải biết kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại trong
điều kiện mới.
Bốn là, phải xây dựng Đảng ngang tầm nhiệm vụ chính trị của một đảng cầm
quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.
Trên cơ sở đó, Đại hội khẳng định quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn
quân ta là "... đem hết tinh thần và lực lượng, tiếp tục thực hiện thắng lợi hai nhiệm
nước đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã có nhận thức ngày càng rõ
hơn về “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, có thể thấy rõ những bước cụ thể hoá
về phát triển “bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa”. Đường lối đổi mới của Đảng ta
đã khẳng định đó là “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Đến Đại hội IX, Đảng ta
nhận thức rõ hơn nữa: “bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập
vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa
nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư
bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoa học và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng
sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại”.
Trong thời kỳ quá độ, có nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất, nhiều
thành phần kinh tế, giai cấp, tầng lớp xã hội khác nhau nhưng cơ cấu, tính chất, vị
trí của các giai cấp trong xã hội đã thay đổi nhiều cùng với những biến đổi to lớn
về kinh tế - xã hội. Mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội là quan hệ hợp
tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lợi ích giai cấp công
nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội. Nội dung chủ yếu của thời kỳ quá độ là tiến hành công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại
đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do
Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hoà lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi
tiềm năng và nguồn lực của toàn xã hội.
Nhận thức một cách sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng của tư duy lý luận
trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta lấy đổi mới tư duy lý luận làm khâu
“đột phá” cho toàn bộ sự nghiệp đổi mới của mình. Xuất phát từ tình hình thực tế
xã hội của đất nước vào thập niên 80 của thế kỷ trước; xuất phát từ những khuyết
điểm, sai lầm trong lãnh đạo kinh tế - xã hội của Đảng, xuất phát từ bản chất cách
mạng và khoa học của lý luận Mác - Lênin, đứng trước xu thế toàn cầu hóa và hội
nhập kinh tế thế giới cũng như tác động của “cải cách, mở cửa” hay “cải tổ” đang
thường xuyên của thế giới hiện thực. Nghĩa là nó đòi hỏi tư duy của chúng ta phải
linh hoạt, mềm dẻo, luôn luôn được mài sắc. Mọi giáo điều, xơ cứng trong tư duy
lý luận đều trái với bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác. Lênin
thường nhắc nhở những người cộng sản rằng: “Chúng ta không hề coi lý luận của
Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin
rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ
nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc
hậu đối với cuộc sống” (V.I.Lênin: toàn tập, t.4, tr. 232).
Để đổi mới và phát triển tư duy lý luận một cách có hiệu quả trong giai đoạn
1986- 1990, Đảng ta cho rằng cần phải tạo ra những điều kiện xã hội thuận lợi cho
quá trình đổi mới đó. Trước hết là bầu không khí dân chủ trong xã hội, nhất là
trong sinh hoạt Đảng, trong nghiên cứu khoa học, nghiên cứu lý luận; phải tôn
trọng lẽ phải, tôn trọng chân lý theo tinh thần: nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá
đúng sự thật, nói rõ sự thật; phải tiến hành tự phê bình và phê bình một cách
thường xuyên và nghiêm túc... Có như vậy chúng ta mới khắc phục được những
yếu kém, tính chất trì trệ, bảo thủ, lạc hậu về tư duy lý luận. Thực tiễn sau hơn 20
năm thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta đã chứng minh
điều đó. Phát triển tư duy lý luận của Đảng ta bao quát mọi lĩnh vực khác nhau của
đời sống kinh tế, xã hội. Do đó cần phải có bước đi thích hợp, biết lựa chọn trọng
tâm, trọng điểm, tránh dàn trải. Vận dụng đặc trưng cơ bản đó của quan điểm toàn
diện, Đảng ta cho rằng, trong đổi mới tư duy thì “đổi mới tư duy kinh tế” được coi
là khâu “đột phá”. Tại Đại hội lần thứ VI (12-1986), Đảng ta khẳng định: “Để tăng
cường sức chiến đấu và năng lực tổ chức thực tiễn của mình, Đảng phải đổi mới về
nhiều mặt: đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội
ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác” (Đảng Cộng sản Việt Nam
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb CTQG, tr.124).
Nhận thức những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế cũng như
những nhược điểm, hạn chế của mô hình kinh tế cũ dựa trên cơ chế quản lý tập
trung quan liêu, bao cấp tồn tại (một cách không cần thiết) trong nhiều năm; vận