TIỂU LUẬN TRIẾT - CÁCH MẠNG KHOA học và CÔNG NGHỆ đối với sự PHÁT TRIỂN lực LƯỢNG sản XUẤT HIỆN đại dưới góc NHÌN TRIẾT học - Pdf 38

Khoa học - công nghệ là một trong những vấn đề được nhân loại quan
tâm nhất hiện nay. Có thể nói, sự ra đời và phát triển của khoa học là thành quả
vĩ đại của trí tuệ con người. Khoa học đă và đang giữ một vai trò đặc biệt quan
trọng trong quá tŕnh hoạt động của con người và vai tṛ đó ngày càng được khẳng
định trong tiến tŕnh phát triển của nhân loại.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại nhất là trong giai đoạn phát
triển mới của nă - giai đoạn cách mạng công nghệ, có tác động hết sức sâu sắc
đến mọi lĩnh vực hoạt động của xă hội loài người, buộc mọi người phải đổi mới
cách suy nghĩ, cách giải quyết những vấn đề cơ bản nhất đang được đặt ra. Bước
sang thế kỉ XXI, cuộc cách mạng khoa hoc - công nghệ hiện đại tiếp tục phát
triển với nhịp độ ngày càng nhanh, tạo ra những thành tựu mang tính đột phá,
khó dự báo trước, làm thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ toàn bộ các lĩnh vực sản
xuất, kinh doanh và đời sống xă hội loài người. Nền kinh tế công nghiệp trên thế
giới đang chuyển nhanh sang kinh tế tri thức. Sức mạnh của một quốc gia tuỳ
thuộc chủ yếu vào năng lực khoa học và công nghê. Những quốc gia chậm phát
triển muốn đuổi kịp các nước đi trước phải nhanh chóng nâng cao năng lực khoa
học, nắm bắt và làm chủ các tri thức mới để rút ngắn quá tŕnh công nghiệp hoá,
đi tắt vào kinh tế tri thức.
Hơn bao giờ hết, nghiên cứu sự hình thành và phát triển của khoa học- công
nghệ để tìm ra những quy luật cũng như tính tất yếu của sự phát triển khoa học công nghệ đang là một vấn đề cấp thiết có tính thời đại đối với mỗi quốc gia
nhằm phát huy tiềm năng đất nước, thúc đẩy kinh tế - xă hội phát triển.
1. Cơ sở lí luận của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
1.1. Các khái niệm cơ bản
* Khái niệm về khoa học


Khoa học là mét hệ thống các tri thức được khái quát từ thực tiễn và được
kiểm nghiệm bởi thực tiễn, phản ánh dưới dạng lôgic tŕu tượng những thuộc tính
kết cấu, những mối liên hệ bản chất, những quy luật tự nhiên.
Nhìn lại lịch sử phát triển của xă hội loài người, ta thấy trong quá trình hoạt
động lao động của mình, con người không ngừng nhận thức và cải tạo thế giới.

quan hệ và chức năng xă hội của chúng, khiến cho cơ cấu và động thái phát triển
của các lực lượng sản xuất cũng bị thay đổi hoàn toàn. Trong đó quan hệ nhất là
việc nổi lên vai trò hàng đầu của yếu tố con người trong hệ thống lực lượng sản
xuất dựa trên việc vận dụng đồng bộ các ngành công nghệ mới có hàm lượng
khoa học - công nghệ cao (gọi tắt là hi - tech) như công nghệ thông tin, công
nghệ vật liệu mới, công nghệ sinh học...
Có thể định nghĩa cách mạng khoa học công nghệ một cách khái
quát nhất như sau: cách mạng khoa học công nghệ hiện đại là sự biến đổi tận
gốc lực lượng sản xuất của xă hội hiện đại, được thực hiện với vai tṛ dẫn đường
của khoa học trong toàn bộ chu trình: khoa học - công nghệ - sản xuất - con
người - môi trường.
1.2. Nội dung và đặc điểm của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ
hiên nay
Cho đến nay, thế giới đă trải qua hai lần cách mạng về khoa học và công
nghệ.
Lần thứ nhất với tên gọi là cuộc cách mạng kỹ thuật diễn ra vào cuối thế kỉ
XVIII, được thực hiện đầu tiên ở Anh mà nội dung chủ yếu là thay thế lao động
thủ công bằng lao động cơ khí hoá.
Lần thứ hai với tên gọi là cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại
được bắt đầu từ giữa thế kỉ XX mà nội dung của nó không chỉ dừng lại ở tính
chất hiện đại của các yếu tố tư liệu sản xuất, mà c̣n ở kỹ thuật công nghệ hiện
đại, phương pháp sản xuất tiên tiến...


Hiện nay cuộc cách mạng khoa học công nghệ có nhiều nội dung phong
phó, trong đó có thể chỉ ra một số nội dung chủ yếu sau:
Một là, cách mạng về phương thức sản xuất: đó là tự động hoá, sự thay thế
phần lớn và hầu hết chức năng của con người (cả lao động chân tay lẫn trí óc)
bằng các thiết bị máy móc tự động hoá hoàn toàn trong quá tŕnh sản xuất nhất
định. Ngoài phạm vi tự động như trước đây, hiện nay tự động hoá còn bao gồm

sử dụng rộng răi trong việc chế tạo ra rôbôt, thiết bị tự động và điều khiển sản
xuất tự động bằng máy tính...
Bảy là, cách mạng về hàng không vũ trụ: loài người ngày càng thấy hành
tinh của mình là chật hẹp, do đó ngày càng muốn vươn ra xa trong khoảng
không vũ trụ bao la để tìm hiểu, nghiên cứu, chinh phục và sử dụng khoảng
không đó.
Như vậy, khái niệm công nghệ ngày nay bao gồm một phạm vi rộng, nó
không chỉ là các phương tiện, thiết bị do con người sáng tạo ra mà c̣n là các bí
quyết biến các nguồn lực sẵn có thành sản phẩm. Với ư nghĩa đó, khi nói tới
công nghệ th́ sẽ cũng bao hàm cả kỹ thuật. Đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay,
khoa học và công nghệ luôn luôn gắn bó chặt chẽ với nhau: khoa học là tiền đề
trực tiếp của công nghệ và công nghệ lại là kết quả trực tiếp của khoa học.

1.3. Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và lực lượng sản xuất và
vấn đề khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
* Mối quan hệ giữa khoa học, công nghệ và sản xuất
Bằng quá trình phát triển của nhận thức khoa học, con người đă vẽ lên bức
tranh về thế giới hiện thực. Chính sự đa dạng, muôn màu muôn vẻ, luôn vận
động, biến đổi không ngừng của thế giới tự nhiên và thực tiễn xă hội đă tạo nên
nguồn cảm hứng nhận thức vô tận của con người và điều đó đă tác động mạnh
mẽ đến sự phát triển của khoa học.


Song, con người đi nhận thức thế giới không chỉ để nhận thức thuần tuý,
mà là chủ yếu để thoả măn các nhu cầu về vật chất và tinh thần ngày càng cao
của mình. Do đó, cùng với quá trình nhận thức thế giới, là quá tŕnh biến đổi và
cải tạo thế giới, “nghĩa là thế giới không thoả măn con người, và con người
quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình” (1). Về điều này, C.Mác
cũng đă khẳng định rằng con người phải tác động tích cực, phải chiếm lĩnh thế
giới bên ngoài nhờ sự tác động vào các đối tượng đă biết và bằng cách như vậy,

sản xuất là mối quan hệ thứ nhất giữ vai trò quyết định, mà chính khoa học và
công nghệ đă nằm trong tư liệu sản xuất (đối tượng lao động - giới tự nhiên nói
chung và công cụ lao động). Ngoài ra, các thành tố phần mềm của công nghệ:
con người, thông tin, tổ chức đều là những yếu tố của quan hệ sản xuất. Do vậy,
nếu ai nắm chắc và sử dụng tốt khoa học và công nghệ thì cũng có nghĩa là họ
đă làm chủ được và nắm giữ vai trò thống trị đối với tư liệu sản xuất, nói riêng,
và đối với sản xuất nói chung.
Mối quan hệ thứ hai và thứ ba giữa con người và con người trong sản xuất
là quan hệ về mặt tổ chức, quản lý, phân công lao động. Hai mối quan hệ này
trong xă hội hiện đại ngày nay, nếu không có sự tham gia, sự trợ giúp của khoa
học và công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin (máy vi tính, mạng
Internet) thì chắc chắn không thể kịp thời, chính xác và công bằng, và vì vậy
không thể kích thích trực tiếp vào lợi ích của người lao động, không thúc đẩy
được sản xuất và các quá trình kinh tế - xă hội khác.
Nhưng, bao trùm lên tất cả quá trình sản xuất là con người. Con người vừa
là nguồn lực, vừa là động lực của sản xuất, vừa là sự biểu hiện rõ ràng nhất
tŕnh độ phát triển của một nền sản xuất nhất định. Con người sáng tạo ra khoa
học và công nghệ; tham gia vào quá trình sản xuất (người trực tiếp sản xuất,
người tổ chức quản lý, thông tin, điều khiển); tiêu thụ sản phẩm do mình làm ra.
Tất cả những điều đó chứng tỏ rằng con người vẫn luôn là chủ thể của quá
tŕnh sản xuất xă hội. Đồng thời, trong nền sản xuất hiện đại, con người còn là
khách thể, theo cái nghĩa là con người là đối tượng khai thác trực tiếp của khoa


học, công nghệ nói riêng, và sản xuất nói chung. Những sản phẩm của trí tuệ tri thức đă trực tiếp đi vào quá tŕnh sản xuất với tư cách như những nguyên vật
liệu của sản xuất trước đây.
Qua đó thấy rằng mọi yếu tố của phương thức sản xuất từ lực lượng sản
xuất: tư liệu sản xuất (đối tượng lao động và công cụ lao động), và con người
cho đến quan hệ sản xuất (quan hệ sở hữu tư liêu sản xuất, tổ chức, quản lý,
quan hệ phân phối sản phẩm) đều có quan hệ rất chặt chẽ (hoặc là trực tiếp, hoặc

phát triển của khoa học ngày nay và điều này phù hợp với nhu cầu của thực tiễn
sản xuất hiện đại. Ngày nay, trong khoa học đang diễn ra một quá tŕnh tương tác
mạnh mẽ giữa các khoa học, quá tŕnh liên kết khoa học theo hướng tổng hợp tri
thức của khoa học hiện đại - và đó chính là điều kiện quan trọng và tối cần thiết
để biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Điều kiện thứ ba để khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp, đó
chính là sự quán triệt nguyên lý triết học duy vật biện chứng về sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn, mà nếu ứng dụng vào quá trình sản xuất vật chất, thì
đó chính là sự thống nhất giữa hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động khoa
học. Thực tiễn, trước tiên là thực tiễn sản xuất xă hội, là nguồn gốc, là động lực
của nhận thức khoa học, đồng thời cũng là tiêu chuẩn của chân lý. Do vậy, việc
khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp sẽ là con đường ngắn nhất và
đáng tin cậy nhất để xác định độ chính xác, đúng đắn, tính chân lý của tri thức
khoa học. Sự thống nhất giữa hoạt động sản xuất và hoạt động khoa học là đặc
trưng cơ bản của xă hội hiện đại được xây dựng trên cơ sở của nền sản xuất hiện
đại và khoa học tiên tiến.
* Khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp được biểu hiện dưới
nhiều hình thức:
Trước hết, tri thức khoa học được vật thể hoá thành các công cụ, máy móc
tinh vi, hiện đại như các loại máy vi tính, siêu tính, các loại máy công nghệ tự
động hoá, các thế hệ rôbôt; tạo ra các loại công nghệ mới như công nghệ thông
tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới... Điều này không chỉ mang lại


hiệu quả và năng suất lao động cao hơn, chất lượng tốt hơn mà còn góp phần
quan trọng vào việc tiết kiệm nguyên vật liệu, tạo ra các loại vật liệu mới vốn
không có sẵn trong tự nhiên; giảm thời gian lao động phải chi phí cho một đơn
vị sản phẩm.
Thực tế sản xuất ở các nước công nghiệp phát triển đă cho thấy rằng, tri
thức khoa học ngày càng chiếm một hàm lượng cao trong giá trị sản phẩm,

đổi sâu sắc vị trí con người trong hoạt động sản xuất. Điều này chứng tỏ rằng
khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp là một đặc trưng cơ bản của nền
sản xuất hiện đại, đồng thời khoa học và công nghệ càng ngày càng gắn bó và
đóng vai tṛ quan trọng đối với sự phát triển của xă hội.
1.4. Nguyên tắc, mục đích của việc tiến hành cuộc cách mạng khoa học
và công nghệ.
Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, khoa học và công nghệ đă trở thành yếu tố
cốt tử của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu.
Điều này được phản ánh rơ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược
phát triển khoa học, công nghệ và kinh tế của các nước. Tuy nhiên, tuỳ thuộc
vào tŕnh độ phát triển cụ thể của từng nước, mà mỗi nước xây dựng một chiến
lược hoặc chính sách phát triển khoa học và công nghệ phù hợp với hoàn cảnh
cụ thể của mình. Đường lối phát triển khoa học và công nghệ hết sức đa dạng,
mang tính đặc thù đối với từng nước, cũng như trong mỗi giai đoạn phát triển cụ
thể của từng nước đó. Tuy nhiên, điểm nổi bật là sự phát triển khoa học và công
nghệ là một hướng quan có tính quyết định trong việc phát triển kinh tế mỗi
quốc gia.
Suy cho cùng, cách mạng khoa học và công nghệ dù có phát triển đến đâu
cũng phải đưa vào sản xuất, nhằm phục vụ cho con người, giải phóng con người,
phát triển con người ngày càng toàn diện hơn. Trong xă hội mới, những thành
tựu của khoa học và kỹ thuật được sử dụng vì sự tiến bộ xă hội, vì lợi ích và
hạnh phúc của nhân dân lao động.


Xuất phát từ thực tiễn, gắn chặt với thực tiễn và trở lại phục vụ thực tiễn đó vừa là biện chứng của sự phát triển khoa học, vừa là con đường để khoa học
thâm nhập vào đời sống xă hội và ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp. Nói về mối quan hệ biện chứng giữa khoa học, kỹ thuật với sản xuất và đời
sống xă hội, trong bài phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của
Hội nghị phổ biến khoa học, kỹ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng
định: “Khoa học phải từ sản xuất mà ra và phải trở lại phục vụ sản xuất, phục

thuật) mà trong thành phần cấu trúc của nó phải bao gồm bốn yếu tố cơ bản:
phần cứng của công nghệ (kỹ thuật), và ba yếu tố của phần mềm là con người,
thông tin và tổ chức quản lý. Với việc khoa học - công nghệ trở thành lực lượng
sản xuất trực tiếp và việc khai thác, sử dụng triệt để ba yếu tố phần mềm của
công nghệ đă làm cho cuộc cách mạng khoa học - công nghệ thực sự trở thành
cuộc cách mạng về trí tuệ với vai trò quyết định của tri thức (kinh tế tri thức,
năng lượng tri thức hay trí năng, vật liệu tri thức,v.v..). Sự khai thác nguồn trí
năng còn tiềm tàng bằng công nghệ thông tin là đặc trưng cơ bản của cuộc cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Đó chính là sự biến đổi tận gốc lực lượng
sản xuất xă hội - làm tiền đề, cơ sở cho mọi sự biến đổi khác trogn phương thức
sản xuất và trong đời sống xă hội.
Hai là, với cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại, các yếu tố riêng
biệt của quá tŕnh sản xuất được kết hợp chặt chẽ hữu cơ với nhau thành một hệ
thống liên hoàn: máy công tác --> máy động lực --> các phương tiện vận
chuyển... vừa tiết kiệm được thời gian, công sức, vừa nâng cao hiệu quả và năng
suất lao động.
Ba là, cuộc cách mạng khoa học- công nghệ đă cho ra đời những hệ thống
công nghệ mới, với 4 trụ cột chính: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ năng lượng mới và công nghệ vật liệu mới. Ngoài ra, c̣n có hai hệ
thống công nghệ với tư cách như những “thừa số chung” của bốn hệ thống công
nghệ chủ yếu này, đó là công nghệ vũ trụ và công nghệ bền vững (công nghệ
xanh, công nghệ sạch). Các hệ thống công nghệ đó đă liên kết đồng bộ với nhau,


với vai trò đầu tàu là công nghệ thông tin ( mạng thông tin toàn cầu: internet 1,
internet 2, internet 3, hệ thống tự động hoá bậc cao với các thế hệ rôbôt
1,2,3,4...) để cùng tác động mạnh mẽ, có hiệu quả cao và nhanh chóng lên nền
sản xuất xă hội.
Bốn là, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đă làm thay đổi về chất
quá trình sản xuất. Một trong những thay đổi quan trọng nhất là, con người ngày

những lực lượng vật chất và tinh thần do mình tạo ra. Một mặt là do những
nguyên nhân chủ quan về phía con người, như sự hạn chế về mặt nhận thức của
từng thế hệ, do nhu cầu và lợi ich giai cấp, dân tộc chi phối... Mặt khác là những
nguyên nhân khách quan, như bản thân các thành tựu khoa học, công nghệ,
thông tin, một khi đă trở thành những lực lượng vật chất độc lập, chúng phát
triển theo những quy luật nội tại vốn có của mình. Hơn nữa, chúng còn tương
tác lẫn nhau trong quá trình tác động lên con người, xă hội và tự nhiên, gây nên
những hậu quả tiêu cực không lường trước được.
Một trong những hậu quả lớn nhất và nan giải nhất, có thể ảnh hưởng tiêu
cực đến sự phát triển của thế giới là cuộc khủng hoảng sinh thái cục bộ và nguy
cơ của một cuộc khủng hoảng sinh thái toàn cầu đang đe doạ sự sống trên trái
đất. Bằng vũ khí sinh hoc, kỹ thuật và công nghệ, con người đă chinh phục thiên
nhiên, bất chấp những quy luật tồn tại và phát triển của nó với mục đích mang
lại lợi ích nhiều nhất, nhanh nhất cho con người. Nguy cơ cạn kiệt các nguồn tài
nguyên thiên nhiên như: rừng, đất, nước, khoáng sản, đa dạng sinh học và nạn ô
nhiễm nặng nề môi trường sống, điển hình là các hiện tượng lỗ thủng tầng ô zôn, hiệu ứng nhà kính, mưa a -xít, sa mạc hoá, ô nhiễm đất, không khí, nước,
các chất thải rắn độc hại... là những tai hoạ khủng khiếp do cuộc cách mạng
khoa học - công nghệ tạo ra, mà con người đang phải gồng mình lên gánh chịu
và chống đỡ.
Sai lầm cơ bản của con người, không phải là đă tiêu diệt nhiều loài sinh
vật hay tàn phá một số hệ sinh thái cục bộ, mà là đă can thiệp một cách quá sâu
và thô bạo vào cơ chế thống nhất vật chất của thế giới và những nguyên tắc


hoạt động (nguyên tắc tự tổ chức, tự điều khiển, tự làm sạch, tự bảo vệ theo một
trật tự, liên hoàn chặt chẽ) của chu trình sinh học hay chu trình trao đổi vật
chất, năng lượng, thông tin của sinh quyển - cơ sở tồn tại và phát triển của toàn
bộ sự sống trên trái đất.
Trong bốn trụ cột của công nghệ, công nghệ thông tin và công nghệ sinh
học là những công nghệ có nhiều đóng góp nhất vào sự phát triển mới của thế

trưởng, ăn các loại thức ăn tăng trọng có nhiều chất kích thích, đặc biệt là độc tố
đi - ô - xin, phát triển nhanh chóng, nhưng chúng cũng là nguồn thực phẩm nguy
hiểm, có hại cho con người; là một trong những nguồn gốc gây ra các bệnh nan
y. Hiện nay việc sử dụng phổ biến các loại sản phẩm biến đổi gien cũng đang
còn có sự tranh luận gay gắt, vì tác hại của chúng đối với con người là chưa thể
lường trước được.
Một trong những ảnh hưởng tiêu cực nhất của cuộc cách mạng khoa học công nghệ là những thành tựu của nó được áp dụng trong các cuộc chiến tranh,
các cuộc khủng bố đang lan tràn khắp thế giới. Các loại vũ khí từ bom nguyên tử
đến vũ khí sinh học, vũ khí hoá học,... đă làm cho cuộc chiến giữa con người
với con người ngày càng trở nên tàn khốc hơn, tinh vi hơn, sức tàn phá cũng lớn
hơn và thiệt hại về người và của cải cũng nặng nề hơn
2 Thực tiễn và lý luận trong việc tiến hành cách mạng khoa học công
nghệ ở Việt Nam.
Qua hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại Hội của Đảng, khoa học
và công nghệ nước ta đă có những bước phát triển mới, góp phần quan trọng vào
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Báo cáo kiểm điểm nửa đầu
nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại Hội, Hội nghị trung ương 9 (khoá IX) nhấn
mạnh: khoa học và công nghệ đă có bước phát triển phục vụ thiết thực hơn
nhiệm vụ phát triển kinh tế - xă hội. Đă xuất hiện những nhân tố mới trong quá
tŕnh h́nh thành và phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở nước ta.
Hiện nay, nước ta có trên 1150 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển
công nghệ, với 2,8 triệu người có trình độ đại học và cao đẳng trở lên; trong đó,
có hơn 6 vạn người có trình độ trên đại học (gồm có gần 2 vạn tiến sĩ và hơn 4


vạn thạc sĩ). Năng lực nghiên cứu khoa học cũng như năng lực tiếp thu và áp
dụng công nghệ của đội ng̣ũ khoa học và công nghệ nước ta đă được nâng lên
một bước quan trọng. Trong một số lĩnh vực khoa học, năng lực nghiên cứu của
một số nhà khoa học đă đạt mức tiên tiến trong khu vực. Nếu có môi trường và
điều kiện làm việc tốt, chúng ta có đủ khả năng đuổi kịp các nước trong khu

Công tác quản lý hoạt động khoa học và công nghệ đă được đổi mới một
bước quan trọng, thể hiện ở việc tập trung thực hiện các nhiệm vụ khoa học và
công nghệ trọng điểm của nhà nước và thực hiện cơ chế tuyển chọn đề tài, dự án
theo tinh thần của Luật khoa học và công nghệ. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt
động khoa học và công nghệ vẫn còn những yếu kém và mang nặng tính hành
chính, bao cấp, chưa tạo được cơ chế để phát huy mạnh mẽ khả năng sáng tạo
của các nhà khoa học và gắn kết chặt chẽ hoạt động khoa học và công nghệ với
giáo dục- đào tạo và sản xuất - kinh doanh.
* Hoạt động khoa học - công nghệ đối với ngành giáo dục và đào tạo
Hoạt động khoa học và công nghệ của ngành giáo dục và đào tạo ngày càng
có những đóng góp thiết thực cho sự phát triển khoa học và công nghệ của đất
nước. Sau nhiều năm với sự quan tâm đầu tư của Nhà nước, hệ thống các pḥng
thí nghiệm phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu đă được xây dựng và nâng cấp,
trong đó có nhiều pḥng thí nghiệm tầm cỡ quốc gia và đạt tŕnh độ quốc tế. Ngay
từ những năm 2002, các trường đại học và cao đẳng trong cả nước đă thành lập
được 167 đơn vị nghiên cứu khoa học, bao gồm 20 viện nghiên cứu, 143 trung
tâm nghiên cứu, 7 doanh nghiệp nhà nước trong các cơ sở đào tạo và nghiên
cứu. Trong điều kiện kinh phí đầu tư cho hoạt động khoa học và công nghệ còn
hạn hẹp, song các trường đại học và cao đẳng đă cố gắng tổ chức những hoạt
động khoa học và công nghệ, góp phần đưa nhanh những tiến bộ khoa học và
công nghệ vào cuộc sống.
Trong những năm qua, hoạt động khoa học và công nghệ của các trường đại
học và cao đẳng trong cả nước đă được triển khai trên tất cả các hướng từ nghiên


cứu khoa học giáo dục, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối chính sách phát
triển đất nước, nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ, nghiên cứu cơ bản
trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xă hội, đến các hoạt động chuyển
giao công nghệ vào sản xuất đời sống, các hoạt động tư vấn dịch vụ khoa học và
công nghệ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status