BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
------------------------------------------------------
HOÀNG ANH TUẤN
PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH NN
MTV CƠ KHÍ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI – 2013
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
LỜI CAM ĐOAN
Tác giả của đề tài “Phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát
hệ thống sản xuất tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nhà nước Một thành viên
Cơ khí Hà Nội ” xin cam đoan đây là công trình do tác giả nghiên cứu các tài liệu,
thu thập các thông tin của môi trường vĩ mô, môi trường ngành và quan sát, nghiên
cứu thực trạng kiểm soát hệ thống sản xuất tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nhà
nước Một thành viên Cơ khí Hà nội, nhìn ra điểm mạnh điểm yếu trong công tác
kiểm soát để từ đó đưa ra một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất
cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Nhà nước Một thành viên Cơ khí Hà nội với
mong muốn nâng cao hiệu quả trong sản xuất, giảm chi phí, giúp cho công ty có cơ
1.3.2. Các chức năng của kiểm soát hệ thống sản xuất ......................... 11
1.3.3. Nhiệm vụ và nội dung của kiểm soát hệ thống sản xuất .............. 13
1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát hệ thống sản xuất và các phương
hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất.......................................... 26
1.4.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến kiểm soát hệ thống sản xuất ............ 26
1.4.2. Các phương hướng hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất ....... 28
Kết luận cuối chương 1............................................................................. 29
CHƯƠNG 2. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN
XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH NN MTV CƠ KHÍ HÀ NỘI.....................30
2.1. Quá trình hình thành và phát triển Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà
Nội ........................................................................................................... 30
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty TNHH NN MTV Cơ
khí Hà Nội ............................................................................................ 30
2.1.2. Tổ chức nhân sự của Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội .... 33
2.2. Phân tích thực trạng về kiểm soát hệ thống sản xuất tại Công ty TNHH
NN MTV Cơ khí Hà Nội .......................................................................... 36
2.2.1. Giới thiệu bộ máy kiểm soát hệ thống sản xuất của Công ty TNHH
NN MTV Cơ khí Hà Nội........................................................................ 36
2.2.2. Các quy định chung về hoạt động kiểm soát hệ thống sản xuất của
Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà nội................................................ 37
2.2.3. Giới thiệu các chính sách về khen thưởng, kỷ luật trong hệ thống
sản xuất của Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội .......................... 41
Hoàng Anh Tuấn
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
3.2.2. Giải pháp 2: Hoàn thiện bộ máy, cơ cấu tổ chức kiểm soát hệ
thống sản xuất tại Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội .................. 74
3.2.3. Giải pháp 3: Hoàn thiện hệ thống các định mức, kế hoạch sản xuất
tại Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội .......................................... 82
3.2.4. Giải pháp 4: Hoàn thiện hệ thống thông tin kiểm soát tại Công ty
TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội ............................................................ 84
3.2.5. Giải pháp 5: Hoàn thiện chính sách kỉ luật và khen thưởng tại
Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội ............................................... 87
Kết luận và kiến nghị ................................................................................... 90
Tài liệu tham khảo .................................................................................... 91
PHỤ LỤC................................................................................................. 92
Hoàng Anh Tuấn
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Nền sản xuất vật chất luôn phát triển cùng với nền văn minh của con người, yếu
tố vật chất luôn là cốt lõi của mọi hình thái kinh tế, hoạt động sản xuất vật chất làm
cho khoa học phát triển qua những cải tiến phát minh, sáng chế trong sản xuất.
Chính vì vậy văn minh loài người mới đạt đến trình độ như ngày hôm nay.
Trong nền kinh tế tri thức như hiện nay tỷ trọng nền kinh tế dịch vụ đang chiếm
một tỷ trọng rất lớn nhưng nó luôn cần một nền móng vững chắc để phát triển đó
chính là sản xuất vật chất.
2. Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng trong công
tác kiểm soát hệ thống sản xuất của công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nôi hiện
tại, trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát sản xuất
của công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội nhằm tạo cho công ty có cơ hội phát
triển vững chắc trong tương lai. Đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ trong thời kỳ
hội nhập Quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của hệ thống kiểm soát sản xuất công ty
TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội.
- Phạm vi nghiên cứu: Các hoạt động liên quan tới kiểm soát hệ thống sản xuất
của công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội trong khoảng thời gian từ năm 2009
đến năm 2012, từ đó đưa ra các giải pháp cụ thể tập trung vào những vấn đề nhằm
hoàn thiện hệ thống kiểm soát sản xuất tại Công ty.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Để có cơ sở phân tích, đánh giá và đề ra giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống
sản xuất tại Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà Nội, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin: Các số liệu phục vụ cho luận văn
được thu thập từ các phòng chức năng của Công ty TNHH NN MTV Cơ khí Hà
Nội: Phòng Bán hàng & Kinh doanh Xuất nhập khẩu, Phòng Kế toán Thống kê Tài
chính, Trung tâm Quản lý sản xuất, Phòng cung ứng vật tư…, các website của Tổng
Công ty Máy và thiết bị Công nghiệp, Bộ Công thương…
Phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh trên cơ sở điều tra, quan sát thực tế và
các số liệu thống kê thu thập thông tin từ sách, tài liệu nghiên cứu chuyên ngành có
liên quan để đánh giá tình hình một cách sát thực, làm cơ sở vững vàng để đưa ra
những nhận xét và đề xuất các giải pháp thực hiện.
Hoàng Anh Tuấn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT VÀ KIỂM SOÁT
HỆ THỐNG SẢN XUẤT
1.1. Khái niệm về hệ thống sản xuất
1.1.1. Khái niệm sản xuất
Theo quan niệm phổ biến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là: “quá trình tạo
ra sản phẩm hoặc dịch vụ ” [6, 1].
Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, tinh,
con người, máy móc thiết bị, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn
tài nguyên khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự chuyển đổi này
là hoạt động trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất. Mối quan tâm hàng đầu
của các nhà quản trị hệ thống sản xuất là các hoạt động chuyển hoá của sản xuất.
Đầu vào
- Nguyên nhân lực
- Nguyên liệu
- Công nghệ
- Máy móc, thiết bị
- Tiền vốn
- Khoa học và nghệ
thuật quản trị
Đầu ra
Chuyển hoá
- Hàng hoá
- Dịch vụ
- Biến đổi
- Tăng thêm giá trị
- Sản xuất bậc 3: (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm
thoả mãn nhu cầu đa dạng của con người. Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụ được
sản xuất ra nhiều hơn các hàng hoá hữu hình. Các nhà sản xuất công nghiệp được
cung cấp những điều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn. Các công ty
vận tải chuyên chở sản phẩm của các nhà máy sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán
lẻ. Các nhà buôn bán và nhà bán lẻ cung cấp dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng.
Ngoài ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hoá, bưu điện, viễn thông,
ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn...
1.1.2. Đặc điểm của sản xuất hiện đại.
Quản trị sản xuất ngày nay ngày càng được các nhà quản trị cấp cao quan tâm,
coi đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén. Sự thành công chiến lược của doanh
nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ
chức năng sản xuất. Sản xuất hiện đại có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý, khoa học, có đội
ngũ kỹ sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại.
- Thứ hai, quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản
phẩm. Đây là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển
với mức độ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao.
Hoàng Anh Tuấn
5
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
6
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
dịch vụ cho xã hội. Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng,
nhiệm vụ cơ bản của từng doanh nghiệp. Hình thành, phát triển và tổ chức điều
hành tốt là cơ sở và yêu cầu thiết yếu để mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và
phát triển trên thị trường. “Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch
định, tổ chức điều hành và kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện
mục tiêu sản xuất đã đề ra”.
Cũng giống như những phân hệ khác, hệ thống sản xuất bao gồm nhiều yếu tố
cấu thành, có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau. Toàn bộ phân hệ sản xuất
được biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:
Đột biến
Ngẫu nhiên
Quá trình biến đổi
Đầu vào
Đầu ra
Thông tin
Phản hồi
trong sản xuất. Ngoài những sản phẩm và dịch vụ được tạo ra sau mỗi quá trình sản
xuất, dịch vụ còn có các loại phụ phẩm khác có thể có lợi hoặc không có lợi cho
hoạt động sản xuất kinh doanh, đôi khi đòi hỏi phải có chi phí rất lớn cho việc xử
lý, giải quyết chúng, chẳng hạn: phế phẩm, chất thải......
Thông tin phản hồi là một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống sản xuất của
doanh nghiệp. Đó là những thông tin ngược cho biết tình hình thực hiện kế hoạch
sản xuất trong thực tế của doanh nghiệp.
Các đột biến ngẫu nhiên làm rối loạn hoạt động của toàn bộ hệ thống sản xuất
dẫn đến không thực hiện được những mục tiêu dự kiến ban đầu. Chẳng hạn thiên
tai, hạn hán, lũ lụt, chiến tranh, hoả hoạn .v.v.....
Nhiệm vụ của quá trình sản xuất và dịch vụ là thiết kế và tổ chức hệ thống sản
xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi,
nhưng với một lượng lớn hơn lượng đầu tư ban đầu. Giá trị gia tăng là yếu tố quan
trọng nhất, là động cơ hoạt động của các doanh nghiệp và mọi tổ chức, cá nhân có
liên quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị gia
tăng là nguồn gốc tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập
cho tất cả các đối tượng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như
những người lao động, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn tái đầu tư sản xuất
mở rộng, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp. [2, 5-7]
1.1.4. Mục tiêu của quản trị sản xuất.
Các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu
sinh lời. Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất, mục tiêu cuối cùng của bất kỳ
doanh nghiệp nào khi đầu tư tiền của và sức lực vào các hoạt động kinh doanh trên
thị trường. Quản trị sản xuất đồng thời với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các
yếu tố đầu vào và cung cấp đầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường. Vì vậy, mục tiêu
tổng quát đặt ra là đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử
Hoàng Anh Tuấn
8
Goctr cho rằng: “Sự hoạch định quản trị tìm cách thiết lập những chương trình
thống nhất, kết hợp và rõ ràng” và còn “Sự kiểm soát bắt buộc các công việc phải
theo đúng kế hoạch”.
Từ những quan điểm nói trên về kiểm soát có thể rút ra mục đích cơ bản của
kiểm soát là:
Hoàng Anh Tuấn
9
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
Xác định rõ những mục tiêu, kết quả đã đạt được theo kế hoạch đã định.
Xác định và dự đoán những biến động trong lĩnh vực cung ứng đầu vào, các
yếu tố chi phí sản xuất cũng như thị trường đầu ra.
Phát hiện chính xác, kịp thời những sai xót xảy ra và trách nhiệm của các bộ
phận có liên quan trong quá trình thực hiện, quyết định, mệnh lệnh, chỉ thị.
Tạo điều kiện thực hiện một cách thuận lợi các chức năng: uỷ quyền, chỉ huy
và thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân.
Hình thành hệ thống thống kê báo cáo với những biểu mẫu có nội dung chính
xác, thích hợp.
Đúc rút, phổ biến kinh nghiệm, cải tiến công tác quản lý nhằm mục tiêu đã
định, trên cơ sở nâng cao hiệu suất công tác của từng bộ phận, từng cấp, từng cá
nhân trong bộ máy quản trị kinh doanh. [3, 381 – 382]
1.2.3. Tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát.
1.3. Khái niệm kiểm soát hệ thống sản xuất, chức năng, nhiệm vụ và nội dung
của quá trình kiểm soát hệ thống sản xuất.
1.3.1. Khái niệm kiểm soát hệ thống sản xuất.
Kiểm soát sản xuất bao gồm có các nội dung chính là: thống kê, kiểm tra, phân
tích và điều chỉnh các quyết định sản xuất, nó là giai đoạn cuối cùng của quản lý sản
xuất. Nền tảng để thực hiện các công việc được bắt đầu từ thống kê tác nghiệp.
Nhiệm vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời các hoạt
động sản xuất, thu được các thông tin có độ tin cậy cao về tiến trình thực hiện các
kế hoạch sản xuất của các bộ phận sản xuất, tình hình đảm bảo tất cả các nguồn lực
để kiểm soát kịp thời và điều chỉnh tiến trình sản xuất đang diễn ra, nâng cao chất
lượng quản trị sản xuất nói chung. [1, 1]
1.3.2. Các chức năng của kiểm soát hệ thống sản xuất.
Kiểm soát hệ thống sản xuất bao gồm có ba chức năng đó là: Thống kê, kiểm
tra, phân tích và điều chỉnh thực hiện vai trò phản hồi trong quá trình sản xuất.
- Chức năng thống kê tác nghiệp tiến hành:
Vào sổ các dữ liệu phản ánh hoạt động của các bộ phận sản xuất theo quy định,
tích luỹ, phân loại, hệ thống hoá lại các dữ liệu đó. Những dữ liệu của thống kê tác
nghiệp sẽ được sử dụng trong quá trình kiểm tra, phân tích và điều chỉnh ở các bước
tiếp theo. Yêu cầu cần đảm bảo cho các nhà quản trị sản xuất các thông tin: đầy đủ,
kịp thời và chính xác nhằm đánh giá chính xác quá trình sản xuất và có thể kịp thời
đưa ra các tác động điều chỉnh.
- Chức năng kiểm tra và phân tích:
Hoàng Anh Tuấn
11
Cao học Quản trị kinh doanh
trình sản xuất, dự báo các tình huống của sản xuất với mục tiêu đưa ra các cảnh báo
về sự phát triển bất lợi và loại trừ các tổn thất có thể xảy ra.
- Chức năng điều chỉnh các quyết định sản xuất:
Hoàng Anh Tuấn
12
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
Thực hiện các công việc như đưa ra các quyết định, các biện pháp nhằm loại trừ
các sai lệch, rối loạn trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng không
phải thực hiện sự điều chỉnh để đạt mục tiêu ban đầu bằng bất cứ giá nào vì như thế
sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất. [1, 2-5]
1.3.3. Nhiệm vụ và nội dung của kiểm soát hệ thống sản xuất.
1.3.3.1. Nhiệm vụ và nội dung của thống kê tác nghiệp sản xuất:
Nhiệm vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời các
hoạt động sản xuất, thu được các thông tin có độ tin cậy cao về tiến trình thực
hiện các kế hoạch sản xuất của các bộ phận sản xuất, tình hình đảm bảo tất cả
các nguồn lực để kiểm soát kịp thời và điều chỉnh tiến trình sản xuất đang diễn
ra, nâng cao chất lượng quản trị sản xuất nói chung.
Thống kê tác nghiệp sản xuất cần phải bao quát được tất cả các đối tượng quản
lý: từ khâu chuẩn bị sản xuất, đến các khâu sản xuất chính, phụ và phụ trợ, tất cả
các nguồn lực sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân lực...), tiêu thụ sản
phẩm hoàn chỉnh... Và điều đó có nghĩa là cần thiết thống kê tác nghiệp sản xuất
về tiến trình thực của sản xuất.
Thông tin về tiến trình sản xuất không chỉ phục vụ cho lập kế hoạch sản xuất
mà còn được sử dụng để kiểm soát và điều chỉnh quá trình sản xuất. Nói chung
ngay cả những hệ thống sản xuất rất ổn định thì vẫn có trường hợp xảy ra các thay
đổi, phát sinh trục trặc và cần thiết phải điều chỉnh lại các kế hoạch sản xuất đã lập
ra. Ví dụ như: cung cấp thiếu nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ sản xuất cho các
kho, xuất hiện các sai hỏng hàng loạt chất lượng sản phẩm, thiếu vắng công nhân, vi
phạm thời hạn sửa chữa các máy móc, thiết bị công nghệ...
Để quản lý hiệu quả sản xuất cần có các dữ liệu về hoạt động của các phân
xưởng, bộ phận sản xuất phụ, sản xuất các công cụ, dụng cụ sản xuất, tiến hành các
hoạt động vận tải, sửa chữa... các thông số của thống kê tác nghiệp không chỉ cần
phản ánh quá trình sản xuất đang diễn ra mà còn cần ghi lại tất cả các thay đổi, sai
lệch với các kế hoạch, các định mức, có nghĩa là phản ánh về tình hình của quá trình
sản xuất, cụ thể như:
- Sản lượng đạt được trong thực tế của từng phân xưởng, bộ phận sản xuất trong
đơn vị theo sản phẩm và giá trị.
- Chuyển động của các đối tượng lao động trong quá trình sản xuất, tình trạng
bán thành phẩm.
- Lượng phế phẩm trong sản xuất, các tổn thất phát sinh do ngừng máy móc,
thiết bị và công nhân.
- Số lượng tại các kho và sự vận động của dòng vật chất qua các kho...
Nền tảng thông tin kiểm soát và phân tích là các số liệu thực về tiến trình sản
xuất, các thông tin về kế hoạch và các thông tin định mức tra cứu. Các định mức
có thể liệt kê như: mức thời gian sản phẩm, định mức phục vụ máy móc, thiết bị
Hoàng Anh Tuấn
14
Cao học Quản trị kinh doanh
+ Có khả năng tác nghiệp cao trong thu thập và sử dụng thông tin. Về thực tế
cần thiết đảm bảo có thông tin trong thời gian thực (có thông tin trực tiếp ngay
sau khi kết thúc đăng ký và ghi lại).
+ Loại bỏ sự trùng lặp trong công việc ở mỗi mắt xích của hệ thống.
+ Loại bỏ các thông tin thừa cho người sử dụng.
Hoàng Anh Tuấn
15
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
+ Tối thiểu các số liệu lưu dữ.
+ Đảm bảo khả năng tổng hợp thông tin theo mức độ cần thiết của những
người quản lý.
+ Tối thiểu các lao động thủ công trong thực hiện các tài liệu thống kê sơ cấp.
+ Nâng cao trách nhiệm của những người vào dữ liệu thống kê.
Trong toàn doanh nghiệp và trong từng phân xưởng cần giải quyết nhiệm vụ tính
toán các chỉ tiêu sau: thực hiện các chương trình sản xuất tại các bộ phận theo
từng tháng, quý, năm, theo hai đơn vị: sản phẩm và giá trị, phân chia quỹ lương
cho các xí nghiệp, các bộ phận sản xuất, sự nhịp nhàng của tiến trình sản xuất,
mức độ bán thành phẩm, thời gian còn lại để thực hiện các đơn đặt hàng, phế
phẩm theo số lượng và giá trị, năng suất và tiền lương cho từng nhóm lao động,
giá thành sản phẩm, thời gian thực tế bỏ ra, thực hiện chương trình sản xuất và
các kế hoạch tác nghiệp tại các xí nghiệp, bộ phận sản xuất theo các ca, ngày,
Một số ví dụ về các chỉ tiêu tổng hợp được sử dụng để kiểm soát quá trình sản
xuất:
+ Ở cấp Doanh nghiệp: sản lượng sản xuất tính theo đơn vị sản phẩm và theo
giá trị, sản lượng sản xuất theo từng chủng loại sản phẩm trong danh mục sản xuất
tính theo đơn vị sản phẩm và theo giá trị, số lượng người lao động, quỹ lương, giá
thành sản phẩm.
+ Ở cấp phân xưởng: sản lượng sản xuất tính theo đơn vị sản phẩm và theo giá
trị. Sản lượng sản xuất theo từng chủng loại sản phẩm trong danh mục sản xuất tính
theo đơn vị sản phẩm và theo giá trị. Số lượng người lao động, quỹ lương, giá thành
sản phẩm xuất xưởng, chi phí sản xuất.
+ Ở cấp tổ đội sản xuất: số lượng công nhân, sản lượng sản phẩm sản xuất,
năng suất lao động từng công nhân trong một ca, một ngày, chi phí sản xuất.
Việc lựa chọn tập hợp các chỉ tiêu này cũng là một nhiệm vụ phức tạp bởi phải
thoả mãn yêu cầu phản ánh đầy đủ quá trình sản xuất nhưng đồng thời phải tối thiểu
hoá, dễ thống kê, tính toán và có khả năng tổng hợp theo mỗi cấp quản lý, không
được trùng lặp nhau. Quy mô kiểm soát cũng cần tương ứng với các nhu cầu của hệ
thống quản lý và phân tích thông tin. [1, 5-10]
1.3.3.2. Nhiệm vụ và nội dung của giai đoạn kiểm tra, phân tích
- Nhiệm vụ và nội dung của kiểm tra.
Trong quá trình kiểm tra có thể chia ra các giai đoạn:
+ So sánh giá trị thực của những chỉ tiêu kiểm soát với các giá trị kế hoạch.
+ Xác định ý nghĩa và mức độ sai lệch.
Trong giai đoạn đầu chúng ta cần so sánh các số liệu thực về quá trình sản xuất
đã thu được trong bước thống kê tác nghiệp với các số liệu về kế hoạch, xác định
Hoàng Anh Tuấn
17
Trong quá trình phân tích các nguyên nhân có thể sử dụng mô hình mối quan hệ
nhân - quả. Cùng với tiến trình phân tích hoạt động sản xuất thì rất cần thiết làm rõ
các tiềm năng sản xuất để từ đó xây dựng giải pháp hợp lý hoá sử dụng các nguồn
lực sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Hoàng Anh Tuấn
18
Cao học Quản trị kinh doanh
Luận văn thạc sỹ kỹ thuật
Viện Kinh tế và Quản lý
+ Giai đoạn hai:
Xây dựng các quan hệ nhân - quả phát sinh trong quá trình sản xuất, xác định
các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu hoạt động sản xuất và đo lường ảnh hưởng của
chúng:
Để tìm nguyên nhân đã ảnh hưởng đến các chỉ tiêu của hoạt động sản xuất và
làm rõ những nhân tố gây ảnh hưởng xấu đến việc đạt các mục tiêu kế hoạch của
sản xuất thì rất cần thiết phải xây dựng mô hình mối quan hệ nhân - quả phát sinh
giữa các tham số trong quá trình sản xuất. Mô hình này cần phải đưa vào các chỉ
tiêu chính mà đã sử dụng để đánh giá quá trình sản xuất. (Mô hình hay sơ đồ nhân
quả có thể xây dựng theo sơ đồ xương cá ISHIKAWA - công cụ của quản lý chất
lượng để truy tìm các lỗi và nguyên nhân của lỗi).
Ví dụ cho phần mối quan hệ nhân - quả tại phân xưởng gia công cơ khí:
Hoàng Anh Tuấn
Hỏng công cụ
sản xuất
Tai nạn
Sản xuất
hỏng
Sửa chữa ngoài
kế hoạch
Thiếu nguyên
vật liệu
Thiếu dụng cụ
sản xuất
Mất điện
Chất lượng
nguyên vật liệu
thấp
Tay nghề và ý thức
công nhân kém
Hỏng công cụ ,
dụng cụ sản xuất
Sơ đồ 1-3. Mức độ hoàn thành chương trình sản xuất theo chủng loại
NVL chính
Ý thức làm việc
của công nhân
Tình trạng máy
móc không tốt
Kỷ luật không nghiêm
của nhà máy
Sự đôn đốc, kiểm tra của
quản đốc, trưởng ca
Mức trách nhiệm thấp, thiếu
sự kiểm soát từ cấp trên
Sơ đồ 1 - 4. Sơ đồ kiểm soát năng xuất lò nung clanke
trong nhà máy sản xuất xi măng [1, 9]
+ Giai đoạn ba:
Chuẩn bị các thông tin phân tích cần thiết để đưa ra các quyết định điều chỉnh
sản xuất.
Các nhà quản trị cần phải có đầy đủ các thông tin về đối tượng quản lý và các
công cụ đánh giá hậu quả những quyết định của mình lên các chỉ tiêu của hoạt động
sản xuất, hiệu quả sản xuất. Để đưa ra các quyết định về điều chỉnh quá trình sản
xuất thì các nhà quản trị cần sử dụng thông tin phân tích về nguyên nhân đã dẫn đến
các sai lệch, sự sẵn có các tiềm năng sản xuất để giảm rối loạn sản xuất. Quá trình
lựa chọn các quyết định điều chỉnh có thể thể hiện theo sơ đồ sau: [1, 14]
Hoàng Anh Tuấn