Giáo trình tâm lý học (dùng cho ngành GD mầm non – hệ từ xa) phần 1 - Pdf 38

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
-----------------***-----------------

ThS Dương Thị Thanh Thanh

TÂM LÝ HỌC
(Dùng cho ngành GD Mầm non – hệ Từ xa)

VINH 2011


PHẦN I
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA TÂM LÝ HỌC
CHƯƠNG I.
TÂM LÝ HỌC LÀ MỘT KHOA HỌC.
Thế giới tâm lý của con người vô cùng kỳ diệu và phong phú, được loài
người quan tâm nghiên cứu cùng với lịch sử hình thành và phát triển nhân loại.
Từ những tư tưởng đầu tiên sơ khai về hiện tượng tâm lý, tâm lý học đã hình
thành, phát triển không ngừng và ngày càng giữ một vị trí quan trọng trong
nhóm các khoa học về con người. Đây là khoa học có ý nghĩa to lớn trong việc
phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
I. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ CỦA TÂM LÝ HỌC.
Tâm lý học là một khoa học, tâm lý học có đối tượng, nhiệm vụ và
phương pháp nghiên cứu xác định. Song trước hết cần hiểu tâm lý là gì để từ đó
bàn về khoa học tâm lý ( Tâm lý học ).
1. Tâm lý học là gì?
Những hiện tượng tâm lý của con người.
Loài người ra đời cách đây khoảng gần 10 vạn năm, sau một lịch sử tiến
hoá kéo dài 1500 – 2000 triệu năm. Từ khi con người xuất hiện trên trái đất có
một loại hiện tượng mới - hiện tượng tâm lý người.
Ta thường dùng từ tâm lý để chỉ tâm tư, tình cảm, mong muốn của con

giữa con người với con người trong xã hội loài người.
Tất cả các hiện tượng tâm lý như cảm giác và tri giác, biểu tượng và ý
nghĩ, tình cảm và nguyện vọng, nhu cầu và hứng thú, xu hướng và năng lực,
phẩm chất ý chí và đặc điểm tính cách đều quen thuộc đối với mỗi người đến
nỗi thoạt nhìn tưởng chừng như các hiện tượng ấy đều dễ hiểu. Thực ra, hiểu
chính xác và khoa học tất cả các hiện tượng tâm lý ấy là một trong những vấn
đề trọng đại nhất của tư tưởng loài người.
Tâm lý học là khoa học về các hiện tượng tâm lý, là khoa học về tâm
hồn.

2. Vài nét về lịch hình thành và phát triển Tâm lý học.
Lúc con người xuất hiện trên trái đất cũng là lúc xuất hiện tâm lý con
người. Ngay từ đó con người đã dặt ra biết bao câu hỏi về cái hiện tượng vô
hình kỳ lạ ấy. Tâm lý là gì và phải nghiên cứu nó như thế nào là một trong
những vấn đề khó khăn nhất đối với tri thức con người. Tâm lý là vật chất hay
hay linh hồn thuần tuý? Nếu là vật chất sao không nhìn thấy nó, sờ thấy nó?
Nếu là linh hồn thuần tuý sao có thể sai khiến được bắp thịt cử động và con
người hành động? Tuỳ theo thế giới quan khác nhau mà người ta giải thích vấn
đề này cũng khác nhau. Về cơ bản thì đây là cuộc đấu tranh lâu dài, quyết liệt
giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm giải quyết vấn đề về bản chất các
hiện tượng tâm lý.
* Chủ nghĩa duy tâm cổ đại cho rằng tâm lý là linh hồn mà tạo hoá đặt
vào con người ngay từ lúc ra đời. Linh hồn không do một vật chất nào sinh ra,
nó không cần nằm trong bất cứ bộ phận nào của thân thể, nhưng lại có một
quyền lực đặc biệt điều khiển con người hoạt động. Linh hồn là “bất tử”. Khi
con người chết đi, hồn vẫn còn và lìa khỏi xác, tiếp tục cuộc sống phiêu diêu
của mình.
Ví dụ: - Thuyết “ tâm” của đạo Khổng ở phương Đông.
- Thuyết “ linh hồn” của Platông ( 428 – 348 TCN) ở phương Tây.
Các thuyết này đều tuyệt đối hoá cuộc sống tinh thần của tâm lý, hoàn

vật chất, còn tâm lý, tư duy, ý thức xem như là cái có sau, sản sinh ra từ vật
chất.
* Thế kỷ XVIII: lần đầu tiên xuất hiện tên gọi Tâm lý học trong cuốn
Tâm lý học kinh nghiệm ( 1732) và cuốn Tâm lý học lí trí ( 1734) của Volf, nhà
triết học Đức.
* Thế kỷ XIX: Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập.
Nền sản xuất lớn phát triển ngày càng mạnh mẽ, càng thúc đẩy
khoa học phải phát triển. Nhiều lĩnh vực khoa học phát triển đã góp phần xây
dựng nên một ngành khoa học chuyên nghiên cứu tâm lý. Trong đó có học
thuyết tiến hoá của S. Đacuyn ( 1809 – 1892), nhà duy vật Anh; Thuyết tâm
sinh lý học các giác quan của Hemhôm ( 1821 – 1894), người Đức; Thuyết tâm
vật lý học của Phecsne ( 1801- 1887) và Vebe ( 1795 – 1878), người Anh, các
công trình nghiên cứu tâm thần học của bác sĩ Saccô ( 1875 – 1893) , người
Pháp…

4


Năm 1879, nhà tâm lý học Đức V. Vuntơ (Wundt, 1832 – 1920) đã
sáng lập ra phòng thí nghiệm tâm lý học đầu tiên trên thế giới tại thành phố
Laixic, ghi nhận sự trưởng thành đầy đủ của khoa học tâm lý học.
1879 được lấy làm mốc đánh giá sự ra đời của tâm lý học với tư
cách là một khoa học độc lập.
* Đầu thế kỷ XX, để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, các dòng
phái tâm lý học khách quan ra đời: tâm lý học hành vi, tâm lý học Gestalt, phân
tâm học…

3. Các quan điểm của tâm lý học hiện đại
a. Tâm lý học hành vi.
Tâm lý học hành vi do nhà tâm lý học Mỹ J. Watson ( 1878 – 1958) sáng


Nhận xét:
Hạn chế: Tâm lý học hành vi xuất phát từ một phương pháp luận sai lầm
là phủ nhận ý thức như là hình thức đặc biệt của việc điều chỉnh hành vi, đồng
nhất các nguyên tắc hành động sống của con người và động vật,…
Ưu điểm: phương pháp nghiên cứu là quan sát khách quan, đối tượng
nghiên cứu là hành vi thực của con người, chỉ ra mối quan hệ môi trường và tâm
lý người.
Về sau, chủ nghĩa hành vi mới ra đời, đại diện có Tomen, Hulơ, Skinơ…
đưa vào cấu trúc S – R biến số trung gian O ( nhu cầu, trạng thái…) nhưng về cơ
bản vẫn mang tính thực dụng, máy móc của hành vi cổ điển.
b. Tâm lý học Gestalt ( Tâm lý học cấu trúc).
Tâm lý học Gestalt ra đời ở Đức, do ba nhà tâm lý học Vecthaimơ
(Wertheimer 1880 – 1943), Côlơ ( Kohler, 1887 – 1967), Côpca ( Koffka, 1886
– 1947) sáng lập.
Đây là một trong những dòng tâm lý học duy tâm khách quan chuyên
nghiên cứu tri giác và ít nhiều nghiên cứu tư duy trong mối liên hệ thực giữa sự
vật được tri giác hay hoàn cảnh đòi hỏi tư duy với người tri giác hay tư duy.
Nhờ vậy đã tìm ra tính chất ổn định của tri giác, quy luật hình và nền trong tri
giác, quy luật bổ sung khi tri giác, quy luật bừng hiểu trong tư duy …
c. Phân tâm học.
Phân tâm học do bác sỹ người Áo S. Freud ( 1859 – 1939) xây dựng trên
khái niệm vô thức. Theo Freud: Tất cả các hiện tượng tâm thần người về bản
chất là hiện tượng vô thức. Vô thức là phạm trù chủ yếu trong cuộc sống tâm lý
con người. Mọi hoạt động trong tâm trí đều bắt nguồn trong vô thức và tuỳ theo
tương quan của những lực lượng thôi thúc và ngăn cản được biểu hiện ra theo
những quy luật khác hẳn với ý thức. Trong các loại vô thức thì đam mê tính dục
có vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ đời sống tâm lý của con người.
d. Tâm lý học nhân văn.
Tâm lý học nhân văn do C. Rôgiơ ( 1902 – 1987) và H. Maslow sáng lập.


7


Tâm lý học hoạt động do các nhà tâm lý học Xôviết sáng lập như: L. X.
Vưgôtxki ( 1896 – 1934), X. L. Rubinstein ( 1902 – 1960), A.N. Lêonchiev (
1903 – 1979),…
Tâm lý học hoạt động lấy triết học Mác – Lênin làm cơ sở lý luận và
phương pháp luận. Tâm lý học hoạt động coi tâm lý là sự phản ánh thế giới
khách quan vào não thông qua hoạt động. Tâm lý người mang tính chủ thể, có
bản chất xã hội, tâm lý người được hình thành, phát triển và thể hiện trong hoạt
động và trong các mối quan hệ giao lưu của con người trong xã hội.

4. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học.
Đối tượng của tâm lý học là các hiện tượng tâm lý với tư cách là một hiện
tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não người sinh ra ( gọi
chung là hoạt động tâm lý).
Cụ thể tâm lý học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của
hoạt động tâm lý.
Nhiệm vụ của tâm lý học là nghiên cứu bản chất hoạt động tâm lý, quy
luật nảy sinh và phát triển tâm lý, cơ chế diễn biến và thể hiện tâm lý, quy luật
về mối quan hệ giữa các hiện tượng tâm lý, góp phần hình thành và phát triển
tâm lý người có hiệu quả nhất.

8


II. BẢN CHẤT, CHỨC NĂNG, PHÂN LOẠI CÁC HIỆN TƯỢNG TÂM
LÝ.
1. Bản chất tâm lý người.

Dấu vết để lại có thể là:
+ Vật chất
+ Sinh lý, sinh hoá.
+ Tinh thần ( hình ảnh tâm lý).
Phản ánh diễn ra từ đơn giản đến phức tạp. Có các hình thức phản ánh
sau:
+ Phản ánh cơ học: vết phấn, nước chảy đá mòn, vết giày trên đất.
+ Phản ánh vật lý: soi gương.
+ Phản ánh hoá học: H2 + O 2

H2O

+ Phản ánh sinh học: cây trồng trên đất, cây lấy chất từ đất để phát triển , đất
màu mỡ ( hoặc cằn cỗi hơn).
+ Phản ánh xã hội, trong đó có phản ánh tâm lý.

Phản ánh tâm lý là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người
thông qua chủ thể:

10


Hiện thực khách quan tác động vào hệ thần kinh, não người ( tổ chức vật
chất cao nhất) tạo ra các dấu vết, dưới dạng các quá trình sinh lý, sinh hoá trong
hệ thần kinh và não bộ. Đó chính là hình ảnh tinh thần, tâm lý.

Tác động
Tgkq

não người

bông hoa trong gương không còn nữa.
* Hình ảnh tâm lý mang tính chủ thể, mang đậm màu sắc cá nhân. Sở dĩ
như vậy là vì mỗi người phản ánh hiện thực khách quan thông qua kinh nghiệm
vốn có của mình, thông qua thái độ, cảm xúc riêng của mình đối với hiện thực
đó. Tính chủ thể trong phản ánh tâm lý thể hiện:
- Cùng nhận tác động của hiện thực khách quan nhưng ở những chủ thể
khác nhau sẽ xuất hiện những hình ảnh tâm lý khác nhau.
Ví dụ : “ Cùng trong một tiếng tơ đồng.
Người ngoài cười nụ, người trong khóc thầm.”
( Truyện Kiều - Nguyễn Du)
- Cùng một chủ thể nhưng ở những thời điểm khác nhau sẽ có những
phản ánh tâm lý khác nhau đối với cùng một sự vật, hiện tượng.
Ví dụ : “ Một miếng khi đói bằng một gói khi no”
“ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.
- Chính chủ thể mang hình ảnh tâm lý là người cảm nhận, cảm nghiệm
và thể hiện nó rõ nhất.
Ví dụ : “ Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”.
- Thông qua các mức độ sắc thái tâm lý khác nhau mà chủ thể tỏ thái độ
khác nhau đối với hiện thực.

Tâm lý là chức năng của não. ( Tâm lý có cơ chế phản xạ).

12


Triết học duy vật biện chứng khẳng định: Vật chất sinh ra tinh thần. Tinh
thần tác động trở lại vật chất thông qua cử chỉ, hành vi của con người.
Thế giới khách quan tác động vào não ( vật chất có tổ chức cao nhất), sinh
ra sinh lý và tâm lý.
Thế giới khách quan tác động vào não, ở não diễn ra cơ chế phản xạ ( nói

+ Biết giữ gìn, chăm sóc và bảo vệ cho sự phát triển khoẻ mạnh của bộ
não…

b. Bản chất xã hội - lịch sử của tâm lý người.
Con vật cũng có tâm lý, tâm lý động vật. ( Thậm chí người ta mới nghiên
cứu cây cối cũng có tâm lý, tâm lý thực vật). Nhưng tâm lý của động vật, thực
vật đều mang tính di truyền.
Tâm lý người là sự phản ánh hiện thực khách quan, là chức năng của não,
là kinh nghiệm xã hội - lịch sử biến thành cái riêng của mỗi người.
Tâm lý con người khác xa tâm lý động vật ở chỗ tâm lý người mang bản
chất xã hội, mang tính lịch sử, diễn ra theo cơ chế lĩnh hội chứ không phải theo
cơ chế di truyền.

14


Bản chất xã hội - lịch sử của tâm lý người thể hiện:
- Tâm lý người có nguồn gốc là tgkq ( thế giới tự nhiên và xã hội ), trong đó
nguồn gốc xã hội là cái quyết định.
 Thế giới tự nhiên bao gồm các sự vật, hiện tượng có sẵn trong thiên nhiên
như cây cối, đất đai, khí hậu, môi trường tự nhiên… Thế giới tự nhiên có ảnh
hưởng tới tâm lý người nhưng không quyết định.
Từ khi con người ra đời thì tự nhiên đã không còn là tự nhiên vốn có của nó
nữa mà đã mang dấu ấn của con người, do lao động của con người tạo ra, nói
cách khác thế giới tự nhiên đã được xã hội hoá.
Ví dụ : Đất đai khô cằn; rừng bị xói mòn; khí hậu khắc nghiệt; không khí,
nguồn nước ô nhiễm; môi trường ồn ào…
 Phần xã hội bao gồm các quan hệ xã hội như: quan hệ kinh tế, quan hệ đạo
đức, pháp quyền, các mối quan hệ người - người… các mối quan hệ này
quyết định bản chất tâm lý con người.

có ý thức, làm chủ thể của các quan hệ xã hội.
 Tâm lý là sản phẩm của con người với tư cách là chủ thể xã hội, vì thế tâm lý
người mang đầy đủ dấu ấn xã hội – lịch sử của con người.

- Tâm lý mỗi cá nhân là kết quả của quá trình lĩnh hội, tiếp thu vốn kinh nghiệm
xã hội, nền văn hoá xã hội thông qua hoạt động và giao tiếp, trong đó giáo dục
16


giữ vai trò chủ đạo, hoạt động và giao tiếp của con người trong xã hội có tính
quyết định.
- Tâm lý mỗi người hình thành, phát triển và biến đổi cùng cùng với sự phát
triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc, lịch sử cộng đồng. Vì thế tâm lý mỗi
người chịu sự chế ước bởi lịch sử cá nhân và của cộng đồng.

Nền văn hoá xh

biến thành

Tâm lý cá nhân

kinh nghiệm xh lịch sử
( cái chung)

mỗi người
thông qua hoạt động

( cái riêng)

giao tiếp, quan hệ xh

Hiện thực khách quan quyết định tâm lý người, ngược lại chính tâm lý
con người lại tác động trở lại hiện thực khách quan thông qua hoạt động. Mỗi
hoạt động ấy alị do tâm lý người điều khiển, sự điều khiển này thể hiện các chức
năng của tâm lý:

18


- Tâm lý có chức năng chung là định hướng cho hoạt động thông qua
vai trò của động cơ, mục đích của hoạt động.
- Tâm lý là động lực thúc đẩy con người hoạt động, khắc phục khó khăn
để đạt được mục đích đề ra.
- Tâm lý điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế
hoạch, phương pháp … làm cho hoạt động của con người trở nên có ý
thức và đạt hiệu quả.
- Tâm lý giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với mục tiêu
đã xác định cũng như phù hợp điều kiện và hoàn cảnh thực tế cho
phép.
Nhờ có các chức năng trên mà tâm lý giúp con người không chỉ thích ứng
với hoàn cảnh khách quan mà còn nhận thức, cải tạo, sáng tạo ra thế giới và sáng
tạo ra chính bản thân mình.
Nhờ có chức năng này mà nhân tố tâm lý giữ vai trò cơ bản, có tính quyết
định trong hoạt động của con người.

Ví dụ: Năm 1902 các bác sĩ ở Côpenhaghen (Đan Mạch) đã làm một thí
nghiệm có một không hai trên thế giới: Một phạm nhân bị kết án phải xử bắn.
Do yêu cầu của các bác sĩ và được sự đồng ý của chính phủ, chánh án tuyên bố
rằng án xử bắn được thay thế bằng cách cắt mạch máu cho máu ra hết. Đến ngày
thi hành án, các bác sĩ bịt mắt phạm nhân lại và cắt một lớp da mỏng nhưng
chưa chạm đến mạch máu. Cùng lúc đó, bằng một hệ thống ống dẫn, nước ấm

tâm lý đi kèm với nó.

20


Ví dụ: Sự chú ý, tâm trạng vui vẻ, trạng thái nghi ngờ, chú ý tập trung hay lơ
đãng phân tán, tích cực hoạt bát hay mệt mỏi ủ ê, thắc mắc băn khoăn hay hồ
hởi thoải mái, chần chừ do dự hay quyết tâm say sưa…
 Các thuộc tính tâm lý: là hiện tượng tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành
và khó mất đi, tạo thành nét riêng của nhân cách, chi phối cá quá trình và
trạng thái tâm lý của cá nhân. Các thuộc tính tâm lý đơn giản như tình cảm, ý
chí và các thuộc tính tâm lý phức hợp như xu hướng, tính cách, năng lực…

Sự phân biệt các quá trình, trạng thái, thuộc tính tâm lý chỉ là một sự tách
biệt để phân tích khoa học. Trong thực tế thì các quá trình, trạng thái và thuộc
tính tâm lý luôn luôn quyện chặt vào nhau, chi phối lẫn nhau, thể hiện đời sống
tâm lý toàn vẹn của con người.

III. NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TÂM LÝ.
1. Các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lý học khoa học.
a. Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng.
- Tâm lý có nguồn gốc là thế giới khách quan tác động vào não thông qua “
lăng kính chủ quan” của con người.
- Tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người tác
động trở lại thế giới, trong đó yếu tố xã hội là quan trọng nhất.

b. Nguyên tắc thống nhất tâm lý, ý thức, nhân cách với hoạt động.

21


của người ta. Trên cơ sở đó có thể kết luận về những quá trình tâm lý bên trong.
Ngoài việc sử dụng các giác quan, để thu thập được tài liệu có độ chính
xác khoa học , trong quan sát có thể dùng các kỹ thuật ghi chép như chụp ảnh,
quay phim, ghi âm …
Cũng như đối với nhiều khoa học khác, quan sát là một phương pháp
quan trọng không thể thiếu đối với tâm lý học.
“ Hãy quan sát, quan sát và quan sát nữa” ( Páp- lốp)
+ Ưu điểm: Các hiện tượng trực tiếp quan sát được trong cuộc sống
thượng mang tính chân thực, khách quan.
+ Nhược điểm: Những sự kiện quan sát được không phải lúc nào cũng
phân biệt được sự kiện ngấu nhiên và sự kiện có quy luật, đồng thời việc giải
thích những tài liệu thu thập được mang tính chủ quan của người quan sát. Nói
chung phương pháp này rất mất thời gian và tốn nhiều công sức.

b. Phương pháp thực nghiệm.

23


Thực nghiệm là quá trình tác động vào đối tượng một cách chủ động,
trong những điều kiện đã được khống chế để gây ra ở đối tượng những biểu hiện
về nhân quả, tính quy luật, cơ cấu, cơ chế của chúng, có thể lặp đi lặp lại nhiều
lần và đo đạc, định lượng, định tính một cách khách quan các hiện tượng cần
nghiên cứu.
Có hai loại thực nghiệm cơ bản là thực nghiệm trong phòng thí nghiệm và
thực nghiệm tự nhiên.
- Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được tiến hành dưới điều kiện
khống chế một cách nghiêm khắc các ảnh hưởng bên ngoài, người làm
thực nghiệm tự tạo ra các điều kiện để làm nảy sinh hay phát triển một
nội dung tâm lý cần nghiên cứu.


Xác định rõ mục đích yêu cầu nghiên cứu.
Trước khi trò chuyện, cần tìm hiểu đặc điểm tâm lý của đối tượng.
Chủ động dẫn dắt câu chuyện đến chỗ cần tìm hiểu.
Tránh lối đặt câu hỏi sẵn liểu vấn đáp.
Nên làm cho câu chuyện mang sắc thái tranh luận khi cần thiết.

e. Phương pháp điều tra.
Điều tra là phương pháp dùng một số câu hỏi nhất loạt đặt ra cho một số
đối tượng nghiên cứu nhằm thu thập ý kiến chủ quan của họ về một vấn đề nào
đó.
Phương pháp điều tra có thể trong thời gian ngắn thu thập được một số ý
kiến của rất nhiều người. Tuy nhiên ý kiến đó lại mang tính chủ quan.

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status