Phân biệt 〜てあげる、〜てもらう、〜
てくれる
Đây là 3 cấu trúc mà đc dùng như cơm bữa trong tiếng
Nhật. Phải nói là khi mới học, có rất nhiều người đã
gặp không ít khó khăn với việc làm sao để nắm được
cũng như sử dụng phân biệt 3 cấu trúc ngữ pháp này.
Chính vì lý do này nên mình muốn viết bài này để
chia sẻ cách mình đã học nó như thế nào. Mong rằng
sẽ giúp ích được cho những bạn vẫn đang gặp khó khăn
chỗ này.
あげる…cho, tặng
もらう…nhận
くれる…cho
① A は B に động từ てあげる
A làm một việc(hành động) gì đó cho B. Ở đây A B
là danh từ(thường là) chỉ người. Hành động này dành
cho B nên dùng trợ từ に ngay sau B. B là phía nhận
được hành động.
③ A は ***に động từ
てくれる
A làm cái gì đó cho ***. Ở đây *** sẽ được thay
bằng các danh từ nhân xưng liên quan đến 私(わたし).
Vd như 私、私たち、私の**、おれ,…
Vd: 先生(せんせい)は 私に 本をかしてくれる。Sensei cho
tôi mượn sách.
社長(しゃちょう)は 私たちにほめてくれる。Giám
đốc khen chúng tôi.
CHÚ Ý:
Đây là cấu trúc diễn tả ai đó đã làm
cho mình cái gì đó. Mình là người nhận được hành
động, Không dùng diễn tả người thứ 3 nào đó bởi vì
câu có ý nghĩa biết ơn hành động đó, mà người đó có
biết ơn hay không thì mình ko biết.
* Sẽ có câu hỏi như thế này. Phần 2 và 3 chẳng phải
giống nhau sao? Trả lời: đúng là gần như chẳng khác
gì nhau. Nhưng người nhận hành động ở 2 có thể là
bất cứ ai, mình hoặc 1 người thứ 3 nào đó được. Còn