TRI THỨC là sức MẠNH KHOA học, ưu THẾ QUÂN sự và AN NINH của mỹ - Pdf 38

TRI THỨC LÀ SỨC MẠNH: KHOA HỌC, ƯU THẾ QUÂN SỰ VÀ AN NINH CỦA MỸ
Tác giả: Robert L. Paarlberg
Nguồn: T/c Mỹ "International Security", tập 29, số 1
Liệu nước Mỹ có thể duy trì vị trí đứng đầu thế giới về khoa học, yếu tố then chốt mới
đối với ưu thế quân sự vô song gần đây của Mỹ? với xu thế toàn cầu hoá, tri thức khoa học và kỹ
thuật giờ đây được phổ biến nhanh hơn và rộng ơn khiến cho bất cứ quốc gia nào cũng khó có
thể giữ vững vị trí đứng đầu trong lĩnh vực này. Liệu vị trí dẫn đầu của Mỹ bền vững không hay
chỉ là tạm thời?
Yếu tố quyết định ưu thế quân sự ngày nay là chất lượng chứ không phải là số lượng vũ
khí. Mỗi quân chủng của Mỹ đều có những vũ khí ưu việt, không có trong kho của các nước
khác. Chẳng bao lâu nữa, không quân Mỹ sẽ có 5 loại máy bay tàng hình trong khi không nước
nào có nổi một loại. Khả năng bắt mục tiêu bằng phương tiện đường không của Mỹ dựa vào hệ
thống vệ tinh định vị toàn cầu (GPS), ra-đa cảnh giới và bắt mục tiêu, và phương tiện bay không
người lái là khả năng độc đáo. Trên bộ, Lục quân Mỹ có 9000 xe tăng M1 "Abrams" với hệ
thống điều khiển tác xạ chính xác, có thể phát hiện và diệt xe tăng đối phương từ xa thường là
ngay phát đạn đầu tiên. Trên biển, giờ đây Hải quân Mỹ có tàu ngầm hạt nhân lớp "Seawolf"
chạy nhanh nhất, êm nhất và hoả lực mạnh chưa từng thấy cùng với 9 cụm chiến đấu có tàu sân
bay siêu hạng. Trên mỗi tàu sân bay có hàng chục máy bay có khả năng tiến công chính xác các
mục tiêu ở sâu trong nội địa hàng trăm dặm. Không có hải quân nước nào khác có nổi một cụm
chiến đấu có tàu sân bay.
Đó là những hệ vũ khí đắt tiền, chỉ nước Mỹ mới có thể phát triển và triển khai nhờ nền
kinh tế chiếm tới 22% GDP thế giới; ngân sách quốc phòng của Mỹ chiếm 43% tổng chi phí
quân sự toàn cầu (năm 2002). Tuy nhiên, ngoài ưu thế về kinh tế và ngân sách quốc phòng còn
cần có ưu thế về tri thức khoa học và công nghệ.
Từ giữa thế kỷ 20, cuộc chạy đua vũ trang toàn cầu đã cơ bản trở thành cuộc chạy đua
về khoa học. Trước chiến tranh thế giới thứ 2, chi phí cho nghiên cứu và phát triển (R&D) trong
quân sự chỉ chiếm trung bình dưới 1% tổng chi phí cho quân sự của các nước lớn. Đến những
năm 80, tỉ lệ này đã tăng lên đến 11-13%. Chính trong thời kỳ này, khi mà khoa học trở thành
yếu tố quan trọng hơn của sức mạnh quân sự, nước Mỹ đã nổi lên thành nước đứng đầu thế giới
về khoa học. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, sức mạnh quân sự của Mỹ bắt nguồn từ khả năng
công nghệ (nước Mỹ có thể sản xuất nhiều hơn) hơn là từ khả năng khoa học (châu Âu, đặc biệt

Mỹ tử trận; số thương vong của dân thường thấp hơn (trung bình cứ 35 bom đạn sử dụng mới có
1 dân thường bị thương vong), và số nhà cửa, cầu cống, đường sá bị tàn phá thấp hơn nhiều. Máy
bay oanh tạc của Mỹ thực hiện tới 1000 lần/ chiếc xuất kích mỗi ngày có thể diệt xe tăng và xe
chiến đấu bộ binh của lực lượng vệ binh cộng hoà ngay cả trong bão cát. Với hệ thống GPS rộng
khắp, các hệ thống xen-sơ đến xạ thủ gần như tức thời, và truyền thông nối mạng bằng máy tính,
các lực lượng Mỹ làm chủ 4 yếu tố then chốt của không gian tác chiến hiện đại - tri thức, tốc độ,
độ chính xác, và sức sát thương - và nhanh chóng giành chiến thắng với tổn thất tối thiểu.
Điều mấu chốt của RMA là ứng dụng khoa học và kỹ thuật hiện đại - đặc biệt trong các
lĩnh vực như vật lý, hoá học và công nghệ thông thin - vào việc chế tạo và sử dụng vũ khí. Ưu
thế trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ đã tạo cho Mỹ ưu thế trên chiến trường qui ước.
Mọi chỉ số đều cho thấy ưu thế của Mỹ hiện nay rất lớn, những về sự bền vững thì có thể có hai
điểm yếu. Một là, tri thức khoa học ngày càng được phổ biến nhanh hơn (có thể là từ nước Mỹ)
trong thời đại toàn cầu hoá. Hai là, sự chuẩn bị về khoa học ở nhiều trường học phổ thông của
nước Mỹ còn nhiều nghèo nàn.
Hai nhân tố này không nhất thiết trở thành mối đe doạ đáng kể đối với ưu thế toàn cầu
của nước Mỹ về khoa học và công nghệ, nếu nước Mỹ vẫn có thể thu hút nhiều tài năng và tri
thức từ nước ngoài. Tuy nhiên, nguồn thu tài sản khoa học hết sức quan trọng này đã trở nên khó
khăn hơn do yêu cầu bảo đảm an ninh nội địa từ sau vụ khủng bố 11/9/2001. Nước Mỹ cần có
chiến lược an ninh nội địa không ảnh hưởng đến việc thu hút tài năng khoa học nước ngoài. Một
phần của chiến lược đó phải nhằm ngăn chặn sự phát triển các mối đe doạ khủng bố bằng cách
phát động các chiến dịch qui ước dẫn đến sự phát sinh các đối thủ chính trị mới. Chiến thắng
nhưng gây căm giận sẽ dẫn đến hành động kháng chiến dưới dạng các mối đe doạ phi đối xứng
nhằm vào các mục tiêu mềm, bao gồm cả các mục tiêu ở ngay trên đất Mỹ. Chiến lược này cũng
phải nhằm huy động một cách có hiệu quả hơn khả năng khoa học công nghệ khổng lồ của nước
Mỹ khi đối phó với các mối đe doạ phi đối xứng. Mỹ là nước độc nhất có khả năng đổi mới các
công nghệ "tinh khôn" để bảo vệ các mục tiêu mềm trên đất Mỹ trước các mối đe doạ không phải
bằng lực lượng vũ khí qui ước. Chủ trương biệt lập (pháo đài Mỹ) có nguy cơ làm giảm ưu thế
của Mỹ về khoa học do việc ngăn chặn quá nhiều tài năng khoa học nước ngoài vào nước Mỹ.
Ưu thế khoa học và công nghệ của nước Mỹ lớn đến đâu?
Có thể đánh giá ưu thế của nước Mỹ về khoa học và công nghệ qua sản phẩm khoa học

Thứ hạng công
trình/trích dẫn

Nước

Số lượng công trình

Số lần được trích dẫn

1/1

Mỹ

2.618.154

30.765.049

2/4

Nhật

672.308

4.591.831

3/3

Đức

619.323


288.763

2.245.050

8/17

Nga

255.548

665.442

9/10

Ô-xtrây-li-a

198.006

1523.884

10/20

Trung Quốc

193.006

494.157

Nguồn: Những chỉ số khoa học cơ bản ISI

Mỹ. Toàn thế giới có 46 khu vực được coi là "trung tâm công nghệ", trong đó có 13 trung tâm ở
Mỹ. Trong 17 trung tâm hành đầu, có 8 ở Mỹ. Theo sát nước Mỹ nhất là Anh, có 4 trung tâm
nhưng chỉ chiếm 2 trong 17 trung tâm hàng đầu. Trung Quốc, đối thủ an ninh đáng ngại nhất của
Mỹ có 3 trung tâm, nhưng không có trung tâm nào trong 17 hoặc thậm chí trong 30 trung tâm
hàng đầu.
Đầu tư của nước Mỹ cho R&D
Tổng vốn đầu tư của nước Mỹ cho R&D (của cả khu vực nhà nước và tư nhân) lên tới
trên 250 tỷ USD năm 2000. Đầu tư cho R&D của Mỹ thường được đánh giá là có tác dụng thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và sức cạnh tranh thương mại quốc tế, nhưng cũng giúp cho Mỹ duy trì
ưu thế quân sự.
Đầu tư R&D của Mỹ vượt xa các quốc gia giàu có khác, chẳng hạn nhiều hơn 158% so
với Nhật - nước đứng hành thứ 2 thế giới về đầu tư R&D, nhiều hơn 40% so với đầu tư cho R&S
của 15 nước EU cũ cộng lại. Tổng đầu tư cho R&D năm 2000 của các nước EU tương đương
1,9% GDP trong khi tỷ lệ này của Mỹ là 2,69%. Tháng 6-2003, một thành viên Uỷ ban châu Âu
cảnh báo rằng nước Mỹ chỉ chiếm 4% dân số thế giới nhưng chiếm 50% chi phí cho R&D của cả
thế giới - một con số đáng ngại đối với tương lai kinh tế của châu Âu so với Mỹ cũng như khả
năng cạnh tranh của châu Âu với Mỹ về các công nghệ quân sự chất lượng cao.
Sau chiến tranh lạnh, ngân sách chi cho R&D quân sự của Liên bang giảm 16% trong
khoảng từ 1991-1996. Đến tài khoá 2001, ngân sách R&D của Bộ Quốc Phòng chỉ còn chiếm
43% tổng ngân sách R&D của liên bang (tỷ lệ cao nhất là 63% trong tài khoá 1986). Việc tăng
ngân sách R&D quân sự chỉ được ủng hộ khi Đảng Cộng hoà vào Nhà trắng tháng 1/2001 và
nhất là sau vụ tiến công khủng bố ngày 11/9. Ngân sách quốc phòng tăng đáng kể và tỷ lệ đầu tư
cho R&D quân sự cũng tăng theo. Theo số liệu của Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế Xtốckhôm (SIPRI), năm 2002, ngân sách R&D quân sự của Mỹ đã tăng lên cao hơn cả mức cuối thời
kỳ chiến tranh lạnh năm 1991 (bảng 2). Khuynh hướng này được duy trì sang năm 2003. Dự chi
của Bộ quốc phòng cho nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và đánh giá lên tới 56 tỷ USD. Riêng


ngân khoản dành cho phát triển vũ khí trong ngân sách quân sự Mỹ năm 2003 cũng lớn hơn toàn
bộ ngân sách quân sự của bất kỳ quốc gia nào.
Bảng 2-chi phí cho R&D quân sự ở Mỹ và Tây Âu 1991-2002


42,7

42,6

44,5

50,6

Anh

4,4

3,6

3,7

3,9

3,4

3,7

3,7

-

-

Pháp


1,4

1,3

1,2

-

Toàn
bộEU

14,9

11,1

10,9

10,5

9,8

9,7

9,7

-

-


nghệ quân sự với Mỹ, nhưng khả năng khoa học của họ còn kém xa so với Mỹ. Chẳng hạn, về
công nghệ vi điện tử, các cơ sở tiên tiến nhất của Trung Quốc còn lạc hậu 6-8 năm so với công


nghệ mới nhất và vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Khả năng của Trung Quốc về máy tính
siêu tốc còn hạn chế, còn máy tính cá nhân được lắp ráp chủ yếu bằng linh kiện nhập khẩu; về
viễn thông, Trung Quốc phụ thuộc vào các hãng nước ngoài về công nghệ truyền phát tiên tiến.
Công nghiệp năng lượng hạt nhân của Trung Quốc còn thô sơ; công nghiệp hàng không chủ yếu
dựa vào công nghệ Xô-viết đã lạc hậu; về công nghệ vũ trụ, khả năng phóng của Trung Quốc là
đáng kể đối với một nước đang phát triển, nhưng khả năng của vệ tinh Trung Quốc còn hạn chế.
Theo một đánh giá năm 2001 công nghệ quân sự của Trung Quốc còn ở trình độ tương đối thấp
trong nhiều năm nữa:
Trình độ công nghệ quân sự nói chung của Trung Quốc năm 2020 sẽ vẫn thấp hơn nhiều
so với Mỹ vì nhiều lý do. Một là,..... trình độ trung bình của công nghệ dân dụng Trung Quốc sẽ
vẫn thấp hơn so với trình độ tiên tiến thông thường của thế giới. Hai là, do chu trình phát triển
vũ khí thường dài nên từ khi thiết đến khi hệ vũ khí được đưa vào sử dụng thì công nghệ đã lạc
hậu khoảng 1 thập kỷ hoặc hơn. (Ở Mỹ, một chương trình phát triển vũ khí lớn thường kéo dài
13-15 năm từ khi bắt đầu đến khi đơn vị đầu tiên đưa vào sử dụng). Cuối cùng, quá trình chuyển
khả năng công nghệ dân dụng sang công nghệ quân sự không phải là dễ dàng. Ngay cả các hệ vũ
khí dựa vào các công nghệ căn bản là dân dụng cũng vẫn cần đến các công nghệ quân sự đặc thù.
Hơn nữa, dù có sẵn các công nghệ thành phần của một hệ vũ khí, quá trình tích hợp chúng thành
một hệ hoàn chỉnh, vận hành trơn tru là rất khó khăn. Chẳng hạn, công nghiệp quốc phòng Nhật
đã gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển máy bay tiêm kích F-2.
Nguồn lực khoa học của Trung Quốc đang tăng nhanh, nhưng vẫn còn hạn chế so với
các tiêu chuẩn của nước tiên tiến. Dù là nước lớn, tổng số những nhà khoa học và kỹ thuật mà
Trung Quốc đang đào tạo còn thấp hơn nhiều so với Mỹ. Số người được cấp bằng tiến sĩ trong
các ngành khoa học tự nhiên và kỹ thuật của nước Mỹ gấp 8 lần so với Trung Quốc. Dù kinh tế
tăng trưởng mạnh trong mấy thập kỷ liền, tổng chi phi cho R&D của Trung Quốc vẫn chưa bằng
1/4 tổng chi phí cho R&D của Mỹ (Tính theo sức mua của đồng đô la) và so với Nhật cũng chỉ
bằng 1/2. Tiến bộ khoa học của Trung Quốc phần nhiều không phải do kết quả R&D trong nước

mạng máy tính của Mỹ hay dùng vũ khí la de tiến công các vệ tinh của Mỹ.
Ưu thế của Mỹ về khoa học và công nghệ vững chắc đến mức độ nào?
Cấn xen xét hai mối đe doạ theo giả thuyết đối với ưu thế của Mỹ về khoa học và kỹ
thuật (KH và KT). Một là trong thời đại toàn cầu hoá, các phát minh khoa học đang được phổ
biến qua biên giới với tốc độ nhanh hơn. Liệu đó có phải là điều kiện thuận lợi để các nước chậm
phát triển vượt lên khiến cho Mỹ khó giữ vững ưu thế hay không? Hai là tình trạng yếu kém tiếp
diễn ở các trường phổ thông ở Mỹ về giảng dạy khoa học và toán học. Một bài viết trên trang
đầu của báo New York Times tháng 5/2004 khẳng định rằng nước Mỹ "đã bắt đầu mất đi vị thế
đứng đầu thế giới trong các lĩnh vực khoa học và phát minh quan trọng". Điều này ít nhiều có thể
là sự thật.
Tri thức kỹ thuật được phổ biến ngày càng nhanh
Viễn thông chi phí thấp quả thật đã làm cho khoảng cách địa lý không còn là trở ngại
đối với việc phổ biến tri thức. Tuy nhiên, sự chênh lệch về trình độ công nghệ thông tin giữa các
xã hội có điều kiện và không có điều kiện có thể cản trở sự phổ biến tri thức khoa học và kỹ
thuật, khó khăn này không thể được khắc phục chỉ bằng các đầu tư cho phần cứng. Thu nhận và
sử dụng có hiệu quả là điều phụ thuộc chủ yếu vào sự phát triển xã hội hay các thể chế, và trình
độ học vấn của xã hội về khoa học và công nghệ. Một công trình nghiên cứu cho thấy các xã hội
đạt tỷ lệ dưới 150 công trình khoa học/ 1 triệu dân mỗi năm có rất ít khả năng tiếp thu trị thức
khoa học và kỹ thuật. Ngưỡng này tăng lên cùng với yêu cầu ngày càng cao về tri thức của quá
trình đuổi kịp ngày nay. Với các xã hội ở nấc thang thấp về khả năng khoa học, tuy không thiếu
tri thức từ nguồn bên ngoài nhờ toàn cầu hoá, nhưng yêu cầu để đuổi kịp lại lớn hơn và những gì
mà họ tiếp thu được hay sử dụng có hiệu quả lại quá ít.
Giữa các nước có trình độ khoa học cao, sự chia sẻ tri thức có tác dụng lớn. Từ năm
1981 đến 1995, số bài viết về khoa học và kỹ thuật đồng tác giả quốc tế tăng từ 17 lên 29%. Các
nhà khoa học ở Mỹ cộng tác viết bài với các nhà khoa học quốc tế nhiều hơn các nhà khoa học ở
bất cứ nước nào khác. Các hội khoa học hàng đầu ngày nay là hội quốc tế hơn là hội quốc gia.
Chẳng hạn, trên 1/5 tổng số hội viên Hội vật lý Mỹ là người nước ngoài, và 60% số đặt mua tạp
chí của hội này là các trường đại học và phòng thí nghiệm nước ngoài.
Về cộng tác nghiên cứu khoa học số nhà khoa học nước ngoài đến Mỹ tham gia các dự
án lớn nhiều hơn số nhà khoa học Mỹ ra nước ngoài. Như vậy, các "điểm nút" phát minh vẫn căn

nước nhạy cảm trong khi nhân viên các phòng thí nghiệm này cũng thường đi dự các hội nghị
khoa học và cộng tác ở các phòng thí nghiệm nước ngoài. Liệu những hoạt động cộng tác như
vậy có dẫn đến nguy cơ phổ biến rộng các thành tựu R&D quân sự của Mỹ không? Dĩ nhiên là
dù có áp dụng biện pháp an ninh, những thành tựu đó hầu như chắc chắn sẽ được phổ biến rộng,
nhưng dù có "sao chép", các nước chậm tiến vẫn chưa thể có đầy đủ khả năng tiến hành RMA.
Trước đây, "sao chép" (chế tạo theo mẫu) đã từng là giải pháp hữu hiệu đối với các nước
tiến sau. Chẳng hạn nước Đức chỉ mất 3 năm để đóng thiết giáp hạm lớp Nassau theo mẫu siêu
thiết giáp hạm Dreadnought ra đời năm 1906 của Anh. Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Liên Xô
(và Mỹ) đã lợi dụng được phát minh của Đức về công nghệ tên lửa. Bốn năm sau khi Mỹ sử
dụng bom nguyên tử lần đầu tiên năm 1945, Liên Xô cũng cho nổ thử trái bom nguyên tử đầu
tiên của họ. Năm 1952, Mỹ tiến hành nổ thử nghiệm vũ khí nhiệt hạch (bom H) đầu tiên. Mười
tháng sau Liên Xô cũng tiến hành vụ nổ tương tự.
Ngày nay, nguy cơ các đối thủ của Mỹ sao chép công nghệ quân sự đã giảm đi nhiều vì:
một là số rất ít nước có khả năng sao chép những phát minh ứng dụng trong quân sự dựa vào
công nghệ thông tin không phải là đối thủ của Mỹ. Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, một chỉ
số về khả năng tiếp thu là mật độ sử dụng Internet. Trong 29 nước trên thế giới năm 2000 có trên
20 người sử dụng Internet/1000 dân (mật độ này của nước Mỹ cao gấp 9 lần), thì 25 là các nước
dân chủ trong OECD, có quan hệ liên minh chính thức hay không chính thức với Mỹ. Bốn nước
ngoài OECD là Hồng Công, I-xra-en, Xin-ga-po, và Các Tiểu Vương Quốc A-rập Thống Nhất.
Trong số những người nước ngoài được cấp bằng sáng chế ở Mỹ có 70% là từ bốn nước Pháp,
Đức, Nhật và Anh - tất cả đều là đồng minh của Mỹ. Hai nước đứng hành thứ 5 và thứ 6 là Đài
Loan và Hàn Quốc - cũng là đồng minh của Mỹ.
Các nước thù địch cũng khó sao chép các phát minh khoa học quân sự quan trọng vì
phần cứng không chỉ gồm một bộ phận. RMA đòi hỏi cả một hệ thống hoàn chỉnh cả phần cứng
và phần mềm - các xen-sơ, vệ tinh, mã chương trình, và các hệ thống chỉ huy chứ không phải chỉ
có hệ vũ khí. Hơn nữa, chỉ có các kíp nhân viên có trình độ kỹ thuật cao, được huấn luyện kỹ
lưỡng và thường xuyên thực hành mới có thể điều khiển các hệ vũ khí RMA nối mạng này.
Các đối thủ tiềm tàng như Trung Quốc không thể hy vọng phát triển khả năng RMA
thông qua sao chép những gì đã mua hoặc đánh cắp được. Tình báo Trung Quốc có thể thu thập
được thông tin về đầu đạn W-88 trang bị cho tên lửa chiến lược Trident của Mỹ, và Trung Quốc

lao động ngày càng tăng của họ. Trong khoảng từ năm 1990 đến năm 2000, tỷ lệ người nước
ngoài có bằng tiến sĩ khoa học và kỹ thuật làm việc ở Mỹ tăng từ 24 lên 28% năm 1999, cả 4
người ở Mỹ được giải Nô-ben về vật lý, sinh lý học/y học và kinh tế học đều là người nước ngoài
nhập cư.
Khoảng 1/3 số nhà khoa học nước ngoài đang làm việc ở Mỹ là những người đến nước
Mỹ sau khi đã học xong. Khi nước Mỹ cho phép sinh viên tốt nghiệp các học viện công nghệ
hàng đầu của Ấn Độ vào Mỹ tạm cư, nước Mỹ đã được hưởng không nguồn nhân lực mà chính
phủ Ấn Độ phải chi cho việc đào tạo mỗi sinh viên khoảng 15000-20000USD. Ngược lại, về
phía nước Mỹ, năm 1998 khi quốc hội nới rộng số lượng cấp Visa H-1B hàng năm khoảng
100.000 sinh viên Ấn Độ tốt nghiệp đại học đã vào nước Mỹ, do đó đã tiết kiệm cho nước Mỹ
khoảng 2 tỷ USD chi phí đào tạo mỗi năm.
Những mối đe doạ mới sau sự kiện 11/9: Tiến công phi đối xứng?
Vụ tiến công khủng bố 11/9/2001 cho thấy ưu thế dựa vào khoa học trên chiến trường
sử dụng lực lượng qui ước không ngăn chặn được những đòn tiến công theo kiểu không qui ước
vào các mục tiêu "mềm" không phải ở trên chiến trường, sử dụng máy bay cướp được bằng hành
động không tặc, vi khuẩn gây bệnh than, bom bẩn v.v. Do ưu thế về vũ khí qui ước của Mỹ tăng
lên, các lực lượng căm ghét và chống Mỹ có thể sẽ tăng cường sử dụng kiểu tiến công phi đối
xứng nhằm vào các mục tiêu mềm kể cả các mục tiêu trên lãnh thổ Mỹ. Tuy không có cách nào
loại trừ hoàn toàn, nhưng có nhiều cách hạn chế đe doạ phi đối xứng này.
Một là, bằng khoa học. Trong năm 2002, quỹ khoa học quốc gia đã cấp ngân khoản cho
một loạt chương trình nghiên cứu mới đặc biệt nhằm chống các mối đe doạ khủng bố theo kiểu
phi đối xứng. Các chương trình này nhằm tìm ra những biện pháp mang tính đột phá trong các
lĩnh vực như bảo đảm an ninh điều khiển học, phát hiện và tẩy độc các tác nhân chiến tranh sinh
học hay hoá học. Bộ an ninh nội địa mới thành lập của nước Mỹ đầu tư trên 1 tỷ USD một năm
cho R&D.


Hai là, đánh giá đúng đắn và cân nhắc thận trọng trước khi quyết định sử dụng sức
mạnh quân sự qui ước. Ưu thế khoa học khiến các quan chức Mỹ dễ tính đến việc sử dụng sức
mạnh quân sự qui ước trong những trường hợp có thể giành được thắng lợi quân sự, nhưng lại

những tên không tặc đã chết trong vụ tiến công. Sau vụ này, INS đã được sát nhập vào Bộ An
ninh nội địa và đổi tên thành cơ quan chuyên trách về tư cách công dân và nhập cư.
Từ chỗ quá dễ dãi, giờ đây cơ quan cấp thị thực nhập cảnh Mỹ lại áp dụng các biện
pháp quá nghiêm ngặt. Trước kia, người nước ngoài được chấp nhận sang nghiên cứu khoa học ở
các trường đại học Mỹ chỉ cần trình hộ chiếu, thư mời của trường đại học, và hồ sơ chứng minh
anh ta có thể sinh sống ở Mỹ là có thể được sứ quán Mỹ cấp thị thực nhập cảnh. Sau vụ 11/9, các
nhân viên lãnh sự Mỹ có thể bị qui là tội phạm nếu cấp thị thực nhập cảnh cho người nào sau đó
thực hiện hành động khủng bố ở Mỹ. Kết quả là số lượng lớn đơn xin cấp thị thực nhập cảnh bị
bác hoặc trì hoãn. So với năm 2001, trong năm 2002, số thị thực nhập cảnh cấp cho các học giả,
nhà nghiên cứu, giảng viên, thuyết trình viên giảm 8000. Trong số này có nhiều học giả nổi tiếng
được mời thuyết trình ở các cuộc hội thảo khoa học hoặc giảng dạy ở các trường đại học Mỹ.
Năm 2003 một qui trình mới đòi hỏi hầu hết người xin cấp thị thực nhập cảnh phải qua phỏng
vấn trực tiếp ở cơ quan lãnh sự Mỹ ở nước ngoài càng gây thêm sự chậm trễ.
Theo một báo cáo đầu năm 2003 của viện vật lý Mỹ, số sinh viên nước ngoài tham gia
các chương trình vật lý sau đại học đã giảm gần 15% kể từ sau vụ 11/9. Có trường hợp mấy trăm
sinh viên xuất sắc của Pa-ki-xtan được chính phủ nước này tuyển chọn kỹ lưỡng để đào tạo


thành những người đứng đầu các trường đại học tương lai, và đã được chấp nhận sang Mỹ đào
tạo sau đại học nhưng 90% không được cấp thị thực nhập cảnh. Kết quả là số đơn vị xin cấp thị
thực vào Mỹ của sinh viên Trung Quốc giảm 76% trong khi số đơn xin cấp thị thực vào Ô-xtrâyli-a, Pháp và Anh ngày càng tăng nhanh. Thời gian trung bình mà các sinh viên khoa học và công
nghệ nước ngoài phải chờ cấp thị thực lên đến 67 ngày, có trường hợp 1 năm. Phòng thí nghiệm
máy gia tốc quốc gia Fermi ở bang I-li-noa sử dụng 500 nhà khoa học từ 18 nước khác nhau khi
về thăm gia đình đều gặp khó khăn về thị thực khiến họ không thể trở lại làm việc đúng hạn.
Tháng 5/2003, Bộ An ninh Nội địa còn yêu cầu kiểm soát biên giới bằng phương pháp sinh trắc
học (dùng ảnh và vân tay) đối với khoảng 23 triệu người nước ngoài vào Mỹ hàng năm trong đó
có nhiều sinh viên hoặc nhà nghiên cứu khoa học.
Các biện pháp bảo đảm an ninh nội địa theo kiểu "pháo đài Mỹ" đang gây tác hại cho
việc duy trì ưu thế khoa học và ưu thế quân sự về lâu dài của nước Mỹ.
Tháng 4/2004, David Heyman, giám đốc chương trình an ninh nội địa tại Trung tâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status