Bài 4 các nước đông nam á và ấn độ - Pdf 38

Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ

BÀI 4: CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á VÀ ẤN ĐỘ
I. SỰ HÌNH THÀNH CÁC QUỐC GIA ĐỘC LẬP Ở ĐÔNG NAM Á SAU CHIẾN TRANH
THẾ GIỚI THỨ HAI
1. Khái quát về quá trình đấu tranh giành độc lập
- Trước Thế chiến II, Đông Nam Á là thuộc địa của các đế quốc Âu Mỹ, sau đó là Nhật Bản
(trừ Thái Lan).
- Sau tháng 8/1945, các nước Đông Nam Á đã đứng lên đấu tranh giành độc lập như: Việt
Nam (1945), Inđônêsia (1949), Philippin (7/1946), Miến Điện (1948), Mã Lai (1957), Singapore
(1959), Brunây (1984), ... Nhưng thực dân Âu – Mỹ lại tái chiếm Đông Nam Á, nhân dân ở đây tiếp
tục kháng chiến chống xâm lược và giành độc lập hoàn toàn (Indonesia: 1950, Đông Dương:
1975); hoặc buộc các đế quốc Âu – Mỹ phải công nhận độc lập.
- Đông Timo tách khỏi Inđônêsia 1999, ngày 20/5/2002, trở thành quốc gia độc lập.
Tên quốc gia
Thủ đô
Ngày độc lập
In donesia (In-đô-nê-xi-a)
Jakarta (Gia-các-ta)
17.08.1945
Thái Lan
Bangkok (Băng Cốc)
Singapore (Xing-ga-po)
Singapore city (Xing-ga-po xi-ti)
06.1959
Malaysia (Ma-lay-xi-a)
Kuala Lumpur (Cua la Lum-pua)
31.08.1957
Philippines (Phi-líp-pin)
Manila (Ma-ni-la)
04.07.1946

1946 - 1954
(1946 – 1954)
chiến chống Pháp
Pháp ký Hiệp định Giơnevơ công nhận các quyền dân
7/1954
tộc cơ bản.
Kháng chiến chống Mĩ
Đảng Nhân dân cách mạng Lào thành lập, lãnh đạo
22/3/1955
nhân dân tiến hành kháng chiến chống Mĩ.
(1954 – 1975)
Mĩ và tay sai ký Hiệp định Vientian lập lại hòa bình, thực
21/2/1973
hiện hòa hợp dân tộc ở Lào.
Từ tháng 5
Quân dân Lào nổi dậy giành chính quyền trong cả nước.
– 12/1975
2/12/1975 Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào chính thức thành lập
a. Giai đoạn 1945 – 1954: Kháng chiến chống Pháp
- Tháng 23/8/1945, thừa cơ Nhật đầu hàng Đồng minh, nhân dân Lào nổi dậy và thành lập
chính quyền cách mạng. Ngày 12/10/1945, chính phủ Lào ra mắt quốc dân và tuyên bố độc lập.

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 1


Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
- Tháng 3/1946, Pháp trở lại xâm lược, nhân dân Lào cầm súng bảo vệ nền độc lập. Dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương và sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, cuộc kháng

Sự kiện và kết quả
Kháng chiến chống Pháp
10/1945
Pháp trở lại xâm lược Campuchia
Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia
1951
thành lập, lãnh đạo nhân dân đấu tranh.
Chính phủ Pháp kí hiệp ước trao trả độc
9/11/1953
lập, nhưng quân Pháp vẫn còn chiếm đóng.
Pháp ký Hiệp định Giơnevơ công nhận độc
7/1954
lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
Campuchia.
Chính phủ Xihanuc thực hiện đường lối
Thời kì trung lập
hòa bình trung lập, đẩy mạnh công cuộc
1954 – 1970
(1954 – 1970)
xây dựng kinh tế, văn hóa, giáo dục của đất
nước.
Kháng chiến chống Mĩ
18/3/1970
Mĩ điều khiển tay sai lật đổ chính phủ

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 2



Pari.
Tổng tuyển cử bầu Quốc hội mới, thành
lập Vương quốc Campuchia do Xihanuc
làm Quốc vương.

a. Giai đoạn 1945 – 1954: Kháng chiến chống Pháp
- Tháng 10/1945, Pháp trở lại xâm lược Campuchia. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Đông Dương (từ 1951 là Đảng Nhân dân cách mạng Campuchia), nhân dân Campuchia tiến hành
kháng chiến chống Pháp.
- Ngày 9/11/1953, do sự vận động ngoại giao của vua Xihanuc, Pháp ký Hiệp ước "trao trả
độc lập cho Campuchia" nhưng vẫn chiếm đóng.
- Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, Pháp ký Hiệp định Giơnevơ (7/1954) công nhận độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ Campuchia.
b. Giai đoạn 1954 – 1975
- Giai đoạn 1954 – 1970: Chính phủ Xihanuc thực hiện đường lối hòa bình, trung lập để xây
dựng đất nước, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía miễn là không có điều kiện ràng buộc.
- Giai đoạn 1970 – 1975: Kháng chiến chống Mỹ
+ Ngày 18/3/1970, tay sai Mỹ đảo chính lật đổ Xihanuc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ và tay
sai của nhân dân Campuchia, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam đã phát triển nhanh
chóng.
+ Ngày 17/4/1975, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống
Mỹ.
c. Giai đoạn 1975 – 1979: Nội chiến chống Khơ-me đỏ
- Tập đoàn Khơ-me đỏ do Pôn-Pốt cầm đầu đã phản bội cách mạng, thi hành chính sách diệt
chủng và gây chiến tranh biên giới Tây Nam Việt Nam.
- Ngày 3/12/1978, Mặt trận dân tộc cứu nước Campuchia thành lập, được sự giúp đỡ của
quân tình nguyện Việt Nam, lãnh đạo quân dân Campuchia nổi đậy ở nhiều nơi.
- Ngày 7/1/1979, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, Campuchia bước vào thời kỳ hồi sinh,
xây dựng lại đất nước.
d. Từ năm 1979 đến nay: Thời kỳ hồi sinh và xây dựng đất nước

a. Nhóm các nước Đông Dương
- Phát triển nền kinh tế tập trung, kế hoạch hóa và đạt một số thành tựu nhưng vẫn gặp nhiều
khó khăn. Cuối những năm 1980 – 1990, chuyển dần sang nền kinh tế thị trường.
- Lào: cuối những năm 1980, thực hiện cuộc đổi mới, kinh tế có sự khởi sắc, đời sống các bộ
tộc được cải thiện. GNP năm 2000 tăng 5,4%, sản xuất công nghiệp tăng 4,5%, công nghiệp tăng
9,2%.
- Campuchia: năm 1995, sản xuất công nghiệp tăng 7% nhưng vẫn là nước nông nghiệp.
b. Nhóm 5 nước sáng lập ASEAN: Inđônêxia, Malaixia, Philíppin, Thái Lan và Xingapo
- Những năm 1950 – 1960: Đều tiến hành công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu (chiến lược
kinh tế hướng nội) nhằm xóa bỏ nghèo nàn, lạc hậu, xây dựng nền kinh tế tự chủ. Nội dung chủ yếu
là đẩy mạnh phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng nội địa thay thế hàng nhập khẩu,chú
trọng thị trường trong nước. Chiến lược này đạt một số thành tựu nhưng cũng bộc lộ nhiều hạn chế,
đời sống người dân còn khó khăn.
- Từ những năm 60 – 70 trở đi, chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa lấy xuất khẩu làm
chủ đạo (chiến lược kinh tế hướng ngoại), mở cửa kinh tế, thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật của nước
ngoài, tập trung sản xuất hàng xuất khẩu, phát triển ngoại thương. Sau 30 năm, bộ mặt kinh tế – xã
hội các nước này có sự biến đổi lớn: năm 1980, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 130 tỉ USD, chiếm
14% tổng kim ngạch ngoại thương của các quốc gia và khu vực đang phát triển. Tốc độ tăng trưởng
kinh tế khá cao: Thái Lan 7% (1985 – 1995), Singapore 12% (1968 – 1973)…
c. Các nước Đông Nam Á khác
- Brunei: toàn bộ nguồn thu dựa vào dầu mỏ và khí tự nhiên. Từ giữa những năm 1980,
chính phủ tiến hành đa dạng hóa nền kinh tế.
- Mianma: Trước thập niên 90, thi hành chính sách “đóng cửa”. Đến 1988, chính phủ tiến
hành cải cách kinh tế và “mở cửa”, kinh tế có nhiều khởi sắc.

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 4



Phụ thuộc vốn và thị trường bên
5. Hạn chế
tệ nạn tham nhũng, quan liêu tăng...
ngoài quá lớn, đầu tư bất hợp lí.
- Chưa giải quyết quan hệ giữa tăng
trưởng với công bằng xã hội.
III. SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA TỔ CHỨC ASEAN
1. Bối cảnh thành lập
- Sau khi giành độc lập, nhiều nước Đông Nam Á có ý định thành lập một tổ chức khu vực
nhằm tạo nên sự hợp tác cùng phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, khoa học kĩ thuật, văn hóa và hạn
chế ảnh hưởng của các nước lớn đối với Đông Nam Á, nhất là khi cuộc chiến tranh xâm lược của
Mĩ ở Đông Dương ngày càng khó tránh khỏi thất bại.
- Ngày 8/8/1967, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) được thành lập tại Bangkok
(Thái Lan), gồm 5 nước: Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippine và Thái Lan. Trụ sở đặt ở
Jakarta (Indonesia).
- Hiện nay ASEAN có 10 nước: Brunei (1984), Việt Nam (28/07/1995), Lào và Mianma
(07/1997), Campuchia (30/04/1999).
b. Hoạt động
- Từ 1967 – 1975: Là tổ chức non yếu, hợp tác lỏng lẻo.
- Từ 1976 đến nay: Hoạt động khởi sắc từ sau Hội nghị Bali (Indonesia) tháng 2/1976, với
việc ký Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali), xác định những nguyên tắc cơ
bản: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực với nhau; giải quyết các tranh chấp bằng phương
pháp hòa bình; hợp tác phát triển có hiệu quả trong các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội.
- Sau 1975, ASEAN cải thiện quan hệ với Đông Dương, Tuy nhiên, từ 1979 – 1989, quan hệ
giữa hai nhóm nước trở nên căng thẳng do vấn đề Campuchia. Đến 989, hai bên bắt đầu quá trình
đối thoại, tình hình chính trị khu vực cải thiện căn bản. Thời kỳ này kinh tế ASEAN tăng trưởng
mạnh.

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

- Tăng cường mối quan hệ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa,
khoa học kĩ thuật giữa Việt Nam với các nước trong khu vực.
- Việt Nam có điều kiện rút ngắn khoảng cách về cơ sở vật chất kĩ thuật so với các nước
trong khu vực.
- Có điều kiện để tiếp thu, học hỏi trình độ quản lí của các nước trong khu vực.
- Có điều kiện để tiếp thu những thành tựu khoa học – kĩ thuật tiên tiến trên thế giới để phát
triển kinh tế.
- Kinh tế Việt Nam hội nhập với kinh tế khu vực và vươn ra thế giới, tạo điều kiện để kinh tế
nước ta đuổi kịp kinh tế với kinh tế các nước.
- Mở ra cơ hội giao lưu, hợp tác, thu hút vốn đầu tư, khoa học, công nghệ, văn hóa, trình độ
quản lí, ... để phát triển. Qua đó nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.
* Thách thức: Dễ bị hòa tan, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn vì điều kiện kĩ thuật sản xuất còn
kém hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết
liệt,nhất là về kinh tế. Nếu không tận dụng cơ hội, nền kinh tế Việt Nam có nguy cơ tụt hậu so với
các nước trong khu vực.
* Thái độ: Cần bình tỉnh, tự tin, không bỏ lỡ thời cơ, cần ra sức học tập khoa học kĩ thuật của
các nước để thoát khỏi sự nghèo nàn lạc hậu từng bước tiến vào thời kì hiện đại hóa công nghiệp
hóa đất nước.
IV. ẤN ĐỘ

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 6


Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
1. Phong trào đấu tranh giành độc lập từ 1945 – 1950
- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, cuộc đấu tranh chống Anh đòi độc lập của nhân dân Ấn Độ
do Đảng Quốc Đại lãnh đạo phát triển mạnh mẽ.
- Trước sức ép của phong trào, thực dân Anh phải nhượng bộ, trao quyền tự trị cho Ấn Độ.

- Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Mĩ xâm nhập, hất cẳng Anh, Pháp khỏi Trung Đông. Mâu
thuẫn giữa Mĩ, Anh, Pháp làm cho tình hình Trung Đông luôn luôn căng thẳng, không ổn định.
- Hiện nay, do nhiều nguyên nhân (mâu thuẫn tôn giáo, sắc tộc, sự tranh chấp giữa các nước
lớn), tình hình Trung Đông vẫn căng thẳng.
b. Những sự kiện chính trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Palextin từ
năm 1947 đến năm 2000
- Ngày 29/11/1947: Theo Nghị quyết số 181 của Liên hợp quốc, sự đô hộ của Anh quốc bị
huỷ bỏ và lãnh thổ Palextin bị chia cắt làm hai quốc gia: một của người Ả Rập Palextin, một của
người Do Thái.

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 7


Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
- Ngày 15/5/1948: 7 nước Ả Rập tấn công Ixraen. Từ đó, xung đột giữa Ixraen và Palextin
diễn ra liên miên.
- Ngày 28/5/1964 : Tại Giêruxalem, tổ chức giải phóng Palextin (PLO) được thành lập, đã
đoàn kết rộng rãi các lực lượng yêu nước đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng Palextin.
- Ngày 15/11/1988: Nhà nước Palextin thành lập do Y.Araphát, chủ tịch PLO làm Tổng
thống được hơn 100 quốc gia quan hệ và ngày 15/12/1989 được Liên hợp quốc công nhận là đại
diện của Palextin tại Liên hợp quốc.
- Ngày 26/8/1993: Ixraen chấp nhận đàm phán với PLO trên nguyên tắc “đổi đất lấy hoà
bình”.
- Ngày 28/9/1995: dưới sự chứng kiến của Tổng thống Mỹ B.Clintơn, tại thủ đô Oasinhtơn
(Mỹ), Chủ tịch PLO Y.Araphát và Thủ tướng Ixraen I.Rabin đã chính thức kí hiệp định mở rộng
quyền tự trị của người Palextin ở bờ Tây sông Gioócđan.
- Ngày 23/10/1998: hai bên kí Bản ghi nhớ Oai Rivơ: Ixraen sẽ chuyển giao 27,2% lãnh thổ
bờ Tây sông cho Palextin trong vòng 12 tuần.


Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 8


Bài 4: Các nước Đông Nam Á và Ấn Độ
dân Campuchia tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Lực lượng kháng chiến ngày
càng trưởng thành.
- Ngày 9-11-1953, do cuộc vận động ngoại giao của Quốc vương Xihanúc, chính phủ Pháp
đã ký hiệp ước "trao trả độc lập cho Campuchia". Tuy vậy, quân Pháp vẫn chiếm đóng Campuchia.
- Sau thất bại ở Điện Biên Phủ, thực dân Pháp phải kí hiệp định Giơnevơ về Đông Dương,
công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, Lào, Việt Nam.
* Giai đoạn 1954-1970
- Chính phủ Xihanúc thực hiện đường lối hoà bình, trung lập, không tham gia bất cứ khối
liên minh quân sự hoặc chính trị nào, tiếp nhận viện trợ từ mọi phía, không có điều kiện ràng buộc.
- Sau cuộc đảo chính lật đổ Xihanúc ngày 18-3-1970 của thế lực tay sai Mĩ, Campuchia bị
kéo vào quĩ đạo cuộc chiến tranh thực dân kiểu mới của Mĩ trên bán đảo Đông Dương.
* Giai đoạn 1970-1975
- Cuộc kháng chiến chống Mĩ và tay sai của nhân dân Campuchia, với sự giúp đỡ của bộ đội
tình nguyện Việt Nam phát triển nhanh chóng.
- Từ tháng 9-1973, lực lượng vũ trang Campuchia đã chuyển sang tấn công, bao vây thủ đô
Phnôm Pênh và các thành phố khác.
- Mùa xuân 1975, quân dân Campuchia mở cuộc tấn công vào sào huyệt cuối cùng của địch.
Ngày 17-4-1975, thủ đô Phnôm Pênh được giải phóng, cuộc kháng chiến chống Mĩ của nhân dân
Campuchia kết thúc thắng lợi.
* Giai đoạn 1975-1979
- Ngay sau đó, nhân dân Campuchia lại phải tiếp tục cuộc đấu tranh chống tập đoàn Khơme
đỏ do Pôn Pốt cầm đầu phản bội cách mạng, thi hành chính sách diệt chủng, tàn sát hàng triệu
người dân vô tội.

1945.
- Indonexia
+ Ngày 17 – 8 – 1945, sau khi quân phiệt Nhật đầu hàng Đồng minh, Xucácnô đọc bản
Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố thành lập nước Cộng hoà Inđônêxia. Hưởng ứng Tuyên ngôn Độc
lập, nhân dân cả nước nổi dậy giành chính quyền.
+ Ngày 18 – 8 – 1945, Hội nghị của Uỷ ban trù bị độc lập Inđônêxia, thông qua Hiến
pháp, bầu Xucácnô làm Tổng thống nước Cộng hoà Inđônêxia.
- Việt Nam
+ Tháng 8 – 1945, Đảng và Mặt trận Việt Minh quyết định phát động Tổng khởi nghĩa,
thành lập Uỷ ban Dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Cả dân tộc Việt Nam vùng dậy
tổng khởi nghĩa thắng lợi.
+ Ngày 2 – 9 – 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, thành lập nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
(Đề ĐH – C 2012) Từ năm 1950 đến năm 2000, vị thế ngày càng nâng cao trên trường
quốc tế của Ấn Độ được thể hiện như thế nào trên lĩnh vực kinh tế, khoa học - kĩ thuật và
chính sách đối ngoại?
Trên lĩnh vực kinh tế, khoa học - kĩ thuật:
- Nông nghiệp: Nhờ thành tựu của cuộc “cách mạng xanh” trong nông nghiệp, từ giữa những
năm 70 của thế kỉ XX, Ấn Độ đã tự túc lương thực cho gần 1 tỉ người và có xuất khẩu.
- Công nghiệp: Sản xuất công nghiệp tăng, đặc biệt là công nghiệp nặng. Cơ sở hạ tầng được
xây dựng ngày càng hiện đại.
- Công nghệ: Trong ba thập niên cuối thế kỉ XX, Ấn Độ đầu tư nhiều vào lĩnh vực công
nghệ cao, trước hết là công nghệ thông tin và viễn thông, cố gắng vươn lên hàng các cường quốc về
công nghệ phần mềm, công nghệ hạt nhân, công nghệ vũ trụ.
- Khoa học - kĩ thuật: Từ những năm 90, Ấn Độ thực hiện “cách mạng chất xám”, trở thành
một trong những quốc gia sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới. Các lĩnh vực khoa học - kĩ thuật
khác cũng có những bước tiến nhanh chóng.
Về chính sách đối ngoại:
- Ấn Độ thi hành chính sách hòa bình, trung lập tích cực, ủng hộ các cuộc đấu tranh giành
độc lập của các dân tộc. Ấn Độ là một trong những nước sáng lập Phong trào không liên kết. Ấn Độ

1975

Xingapo là “con rồng” nổi trội nhất trong 4 “con rồng” kinh tế của châu Á.
Việt Nam, Lào, Campuchia kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Hiệp ước thân thiện và hợp tác ở Đông Nam Á được ký kết tại Bali, xác định những
1976
nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các nước ASEAN.
1984
Brunây tuyên bố độc lập, gia nhập ASEAN.
1991
Hiệp định hòa bình về Campuchia được ký kết tại Pari.
1985-1995 Tăng trưởng kinh tế của Malaixia là 7,8%, Thái Lan là 9%...
1992
Việt Nam, Lào tham gia Hiệp ước Bali.
1995-1999 Gia nhập ASEAN: Việt Nam (1995); Lào, Mianma (1997); Campuchia (1999).
Hiến chương ASEAN được ký kết, nhằm xây dựng ASEAN thành một cộng
2007
đồng vững mạnh.
(Nguồn: Lịch sử 12, Nxb. Giáo dục Việt Nam, 2012)
Những biến đổi của Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai:
- Sau chiến tranh thế giới thứ hai, hầu hết các nước trong khu vực đề giành được độc lập.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; Lào tuyên bố độc lập (1945). Các nước được công nhận
độc lập: Philippin (1946), Miến Điện (1948), Inđônêxia (1949), Mã Lai (1957). Xingapo được công
nhận quyền tự trị (1959).
Tuy nhiên, Việt Nam và Lào còn phải tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp, sau
đó là Mĩ, tới năm 1975 mới giành được độc lập, thống nhất trọn vẹn…
- Sau khi giành độc lập, các nước trong khu vực tiến hành xây dựng, củng cố nền độc lập, ra
sức phát triển kinh tế, văn hóa và đạt nhiều thành tựu quan trọng. Singapo là “con rồng” nổi trội
nhất trong 4 “con rồng” kinh tế của Châu Á. Tăng trưởng kinh tế của Malaixia và Thái Lan là 9%.
- Năm 1967, tổ chức ASEAN ra đời với mục tiêu là phát triển kinh tế, văn hóa thông qua

2007 nhằm khẳng định nền tảng pháp lí của ASEAN, tiến tới xây dựng cộng đồng ASEAN về kinh
tế, an ninh và văn hóa vào năm 2015.

Tài liệu ôn tập Lịch Sử 12

Trang 12




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status