Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh quảng ninh - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
ĐÀO VĂN DUY

------------------------------

ĐÀO VĂN DUY

QUẢN TRỊ KINH DOANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THU THUẾ ĐỐI VỚI KHU VỰC THU THUẾ NGOÀI
QUỐC DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ KINH DOANH
KHÓA 2010A

Hà Nội – Năm 2013


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thuế ra đời và phát triển gắn liền với sự hình thành và phát triển của
Nhà nước và là một đòi hỏi khách quan đối với sự tồn tại của Nhà nước đó.
Do vậy, thuế là một khoản đóng góp mang tính bắt buộc, cưỡng chế, pháp lý


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế nói chung và thu thuế ngoài quốc
doanh nói riêng, đảm bảo thực hiện tốt pháp luật thuế và tăng thu ngân sách
địa phương nhằm phát triển kinh tế xã hội tỉnh Quảng Ninh theo kịp sự phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh và của đất nước.
Trong phạm vi của luận văn này chỉ đề cập đến các giải pháp nâng cao
hiệu quả công tác quản lý thu thuế ngoài quốc doanh, mà hẹp hơn là đối với 2
thành phần kinh tế là tư bản tư nhân và kinh tế cá thể tiểu chủ, cụ thể là khu
vực kinh tế này bao gồm các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và các hộ kinh
doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp.
Lý do tác giả chọn đề tài này là do khu vực kinh tế có phạm vi rộng,
nguồn thu chiếm tỷ trọng lớn cho Ngân sách Nhà nước.
Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước và thuế là một
trong những công cụ rất quan trọng trong việc điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Chính sách thuế của Nhà nước luôn có quan hệ chặt chẽ đến việc giải quyết
lợi ích kinh tế giữa các chủ thể trong xã hội, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp
đến các vấn đề vĩ mô như : tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng kinh tế. Việc hoàn
thiện chính sách thuế sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế - xã hội là sự
quan tâm hàng đầu của Nhà nước.
Cùng với sự phát triển của đất nước, hệ thống thuế Việt Nam ngày càng
đổi mới hoàn thiện, phù hợp với nền kinh tế thị trường và hội nhập với thế
giới.
Việc đổi mới chính sách thuế của Nhà nước ta trong thời gian vừa qua
góp phần không nhỏ trong việc khuyến khích đầu tư trong nước và đầu tư
nước ngoài, thúc đẩy sản xuất kinh doanh của các thành phần kinh tế, tạo
nguồn thu lớn cho ngân sách, góp phần hoàn thiện quản lý và điều tiết vĩ mô

luật thuế đã làm ảnh hưởng đến ngân sách địa phương và việc đầu tư cơ sở hạ
tầng nhằm phát triển kinh tế của Tỉnh.
2. Mục đích nghiên cứu
Tổng quan làm rõ những vấn đề lý luận chung về thuế, phân tích đánh
giá tình hình thực tế về công tác quản lý thu thuế trên địa bàn Tỉnh Quảng
Ninh, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu
thuế ngoài quốc doanh của địa phương góp phần thúc đẩy kinh tế của Tỉnh
phát triển.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nội dung của chuyên đề chủ yếu nghiên cứu áp
dụng một số cơ chế chính sách thuế vào thực tiễn và công tác quản lý thuế ở
cấp địa phương trên địa bàn Tỉnh Quảng Ninh.
Phạm vi nghiên cứu: Quản lý thu thuế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
trong 3 năm gần đây.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nội dung và mục tiêu nghiên cứu đề tài, luận văn đã sử
dụng các phương pháp như: phương pháp điều khảo sát, phương pháp thống

Luận văn thạc sĩ

3

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

kê, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và một số phương pháp có

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU THUẾ

1.1. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
1.1.1. Sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Trong quá trình phát triển Nhà nước không thể không quan tâm đến sự
tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của các thành phần kinh tế khác trong
đó có các thành phần kinh tế của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Nước ta
có tiềm lực kinh tế còn chưa mạnh, cơ sở vật chất còn nghèo nàn không đồng
nhất giữa các ngành các vùng, trình độ quản lý kinh tế còn thấp kém. Mâu
thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng của sức sản xuất
đang hết sức gay gắt, sự lựa chọn có phát triển kinh tế nhiều thành phần trong
đó có kinh tế ngoài quốc doanh hay không có tính chất quyết định. Tuy nhiên
chấp nhận sự tồn tại của kinh tế ngoài quốc doanh là để quan hệ sản xuất tồn
tại phục vụ cho các mục đích phát triển kinh tế, đẩy mạnh sự phát triển của
các lực lượng sản xuất, tăng nhanh năng xuất lao động, tăng trưởng kinh tế.
Do đó sự tồn tại khách quan của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong thời
từng thời kỳ đã được khẳng định và nó tiếp tục phát triển trong nền kinh tế thị
trường, kinh tế ngoài quốc doanh là thành phần kinh tế không thể thiếu được
và đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân. Hiện nay
nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, một số
định kiến xã hội trước đây đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vẫn còn
khá nặng nề. Song từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực, môi trường kinh
doanh đã bước đầu được cải thiện, các loại giấy phép bất hợp lý đã được xoá
bỏ, nhiều doanh ngiệp đã phát huy được tính chủ động sáng tạo, tận dụng
được hết năng lực vốn có và tăng vốn đầu tư, mở rộng địa bàn để phát triển
sản xuất, kinh doanh...
Vậy trong quá trình phát triển của đất nước phải khẳng định sự tồn tại

Luận văn thạc sĩ


tiềm năng to lớn của nền kinh tế như tài nguyên, sức lao động, thị trường... mà
vẫn chưa được khai thác một cách hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh
hoạt, nhanh nhậy trong sản xuất để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có
khả năng phát huy nội lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu
của thị trường. Vậy khu vực kinh tế ngoài quốc doanh là khu vực có vai trò
hết sức quan trọng đồng thời là khu vực góp phần vào việc thực hiện các chỉ
tiêu về tăng trưởng kinh tế do Nhà nước đề ra.

Luận văn thạc sĩ

6

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

1.1.2.2. Góp phần giải quyết công ăn việc làm cho người lao động
Nước ta là nước có dân số hơn 85 triệu dân, do đó đối tượng lao động là
rất lớn. Vấn đề thất nghiệp được đặt ra cần được giải quyết. Trong khi khu
vực kinh tế Nhà nước và khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài luôn đòi
hỏi lao động phải có văn hóa, trình độ kỹ thuật nhất định thì mới có thể làm
việc trong khu vực trên dẫn đến một khối lượng lớn lao động đang ở tuổi lao
động không thể làm việc ở trong hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là
so với 2 khu vực trên thì khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có vai trò thu hút
nhiều thành phần lao động, từ những lao động có trình độ cao đến những lao
động thủ công, từ những hợp đồng ngắn hạn đến những hợp đồng dài hạn,
theo mùa vụ hoặc theo thời gian nhất định... Do đó khu vực này góp phần giải

tế, nhờ chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần nên khu vực ngoài quốc
doanh đã hình thành và huy động một lượng vốn đầu tư lớn cho xã hội. Đây
là một nguồn vốn quan trọng, song khai thác chưa hiệu quả. Bên cạnh đó khu
vực kinh tế ngoài quốc doanh càng phát triển thì nhu cầu về vốn ngày càng
gia tăng và có mối quan hệ mật thiết với các ngân hàng, đóng góp vào sự lớn
mạnh của hệ thống ngân hàng trong công tác huy động vốn.
1.1.2.5. Các tác dụng khác
- Khu vực ngoài quốc doanh phát triển thoả mãn một phần nhu cầu tiêu
dùng xã hội, giúp cho Nhà nước trong điều kiện vốn còn hạn hẹp, có thể tập
trung đầu tư vào những ngành nghề mũi nhọn, có tác dụng đến toàn bộ nền
kinh tế và đời sống xã hội, tránh đầu tư phân tán, dàn trải...Thực tiễn cho thấy
có khu vực này nhiều ngành nghề, mặt hàng và lĩnh vực kinh doanh Nhà nước
không cần phải đầu tư hoặc chỉ đầu tư có hạn còn về cơ bản khu vực kinh tế
ngoài quốc doanh đã đảm đương các chức năng bán lẻ các mặt hàng tiêu dùng
và tổ chức các dịch vụ tiêu dùng cho xã hội, đặc biệt ở địa bàn nông thôn và
miền núi.
- Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tồn tại và phát triển góp phần thúc
đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế hàng hóa, tạo ra sự cạnh tranh sống
động trên thị trường, thúc đẩy kinh tế Nhà nước hoàn thiện hạch toán kinh
doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản
phẩm. Trước đây trong điều kiện chỉ có kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác,
sản phẩm hàng hóa dù sản xuất ra với bất kỳ chất lượng nào, giá cả ra sao đều
được tiêu thụ. Nhưng từ khi có kinh tế ngoài quốc doanh với đặc điểm tư hữu
cao, khu vực này rất linh hoạt năng động với tinh thần trách nhiệm rất cao
trong sản xuất, tìm kiếm thị trường đồng thời luôn tập trung cao độ tinh thần
làm việc, phát huy mọi khả năng sẵn có của mình. Để cạnh tranh với khu vực
ngoài quốc doanh thì buộc khu vực kinh tế quốc doanh phải cải tiến hàng hoá

Luận văn thạc sĩ


hữu tư nhân, họ có quyền quyết định phương án sản xuất kinh doanh và chỉ
chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua pháp luật. Cán bộ công chức Nhà
nước không có quyền can thiệp vào công việc kinh doanh của họ. Quan hệ
giữa đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh và công chức Nhà nước là quan hệ bình
đẳng trước pháp luật.
Đối với người lao động và những người quản lý sản xuất kinh doanh,
câu hỏi đặt ra là làm sao thu được lợi nhuận cao nhất. Muốn vậy phải cải tiến

Luận văn thạc sĩ

9

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

sản xuất, kinh doanh, nâng cao trình độ chuyên môn để sản xuất ra hàng hoá
chất lượng cao, giá thành hạ.
Quan hệ giữa người bán hàng dịch vụ và người mua hàng dịch vụ được
thay đổi từ quan niệm “bán như cho” thời bao cấp bằng quan niệm coi “khách
hàng là thượng đế”.
Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển tác động cả vào các cơ
quan quản lý trong việc hoạch định chính sách và cải cách hành chính.
Vậy chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó vai trò của
khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đã đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn và phản
ánh đúng qui luật khách quan của thời kỳ qua độ. Chính sách này được nhân
dân hưởng ứng rộng rãi và đã đi nhanh vào cuộc sống chính sách ấy đã góp

nước, muốn thu hút vốn cho công cuộc CNH-HĐH thì tất yếu phải xây dựng
nên các mô hình kinh doanh đa dạng để mọi ngưòi dân có thể tham gia sản
xuất kinh doanh trong nền kinh tế.
Trong quá trình mở cửa nền kinh tế, sự tồn tại của các DNNQD trở nên
tất yếu bởi đây là hình thức doanh nghiệp phù hợp với các hoạt động hợp tác
đầu tư với những nhà đầu tư nước ngoài, là “ chiếc cầu nối” quan trọng cho sự
hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Vai trò của DNNQD
Là nhân tố chủ yếu thúc đẩy sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong nền
kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nhà nước không công nhận thị trường, giá cả,
cũng không chấp nhận cạnh tranh, do đó không có yêu cầu nâng cao hiệu quả
và sức cạnh tranh của sản phẩm. Ngày nay, khi chấp nhận nền kinh tế thị
trường với nhiều thành phần kinh tế, nhất là trước yêu cầu hội nhập, cạnh
tranh là điều không thể tránh khỏi thì nhân tố thúc đẩy cạnh tranh đương
nhiên thuộc về doanh nghiệp tư nhân, có sự tham gia của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài.
Là khu vực góp phần ngày càng quan trọng vào sự tăng trưởng của tổng
sản phẩm trong nước (GDP). Cho đến nay, mặc dù vẫn chịu nhiều rào cản,
nhiều đối xử bất công và nhũng nhiễu của công chức tiêu cực, kinh tế dân
doanh đã trở thành lực lượng chủ công trong nhịp độ tăng trưởng của nền
kinh tế, trong tất cả các ngành, từ nông nghiệp đến công nghiệp, từ thương
nghiệp nội địa đến xuất nhập khẩu. Vị trí của kinh tế dân doanh mỗi năm
được tăng lên trong đầu tư phát triển cũng như trong tăng trưởng đã trở thành
xu thế tất yếu của nền kinh tế Việt Nam, không chỉ hiện nay mà có ý nghĩa
quyết định cả trong tương lai.

Luận văn thạc sĩ

11


Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường là cần thiết và không
thể thiếu được vì nó dẫn dắt thị trường phát triển theo hướng tích cực và khắc
phục, sửa chữa những già mà cơ chế thị trường chưa đạt được cũng như hậu
quả mà nó gây ra để phát triển nền kinh tế một cách tốt nhất.
1.1.3.1. Quan điểm về phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Luận văn thạc sĩ

12

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

Nước ta hiện nay có các thành phần kinh tế sau:
+ Kinh tế tư bản Nhà nước.
+ Kinh tế cá thể, tiểu chủ.
+ Kinh tế tư bản tư nhân.
+ Kinh tế Nhà nước.
+ Kinh tế Hợp tác.
a. Thành phần kinh tế Nhà nước: là thành phần kinh tế dựa trên chế độ
sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuấtchủ yếu, gồm những đơn vị kinh tế mà
toàn bộ số vốn thuộc về Nhà nước hoặc phần của Nhà nước chiếm phần khống
chế. Kinh tế quốc doanh hiện nay vẫn giữ vững vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nước ta, được hình thành do Nhà nước đầu tư xây dựng các cơ sở kinh
tế trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, ngoài ra còn
được hình thành bằng con đường quốc hữu hoá các xí nghiệp tư nhân.

hoặc công ty cổ phần được luật pháp qui định. Thành phần này có ưu điểm
mạnh về vốn, kỹ thuật, công nghệ, kinh nghiệm và trình độ quản lý. Nó có vai
trò to lớn trong việc phát triển lực lượng sản xuất, giải quyết việc làm, tăng
thu nhập kinh tế quốc dân, nâng cao đời sống.
d. Thành phần kinh tế tư bản Nhà nước: là thành phần kinh tế mà chủ
thể của nó là tư bản Nhà nước cùng góp vốn để hoạt động sản xuất kinh
doanh; gồm các đơn vị kinh tế ở các ngành, các lĩnh vực dưới các hình thức
công ty hợp doanh, gia công, thuê tài sản...Có thể khẳng định rằng trong thời
kỳ quá độ, đây là hình thức kinh tế trung gian thích hợp nhất để chuyển từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta.
e. Thành phần kinh tế tập thể: là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tập
thể, gồm các đơn vị kinh tế do những người lao động tự nguyện góp vốn, góp
sức kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi.
Hợp tác xã là hình thức chủ yếu của nền kinh tế tập thể, bao gồm hợp tác xã
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, tín dụng.
Những loại hình hợp tác xã trên được hình thành với qui mô và mức độ
khác nhau phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, yêu cầu của sản
xuất và đời sống. Xu hướng vận động và phát triển của kinh tế tập thể theo
hướng hình thành những cơ sở, tổ hợp kinh tế công nông nghiệp để đi lên sản
xuất lớn.
Các thành phần kinh tế cơ bản trên tồn tại trên cơ sở ba loại sở hữu chủ
yếu: sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Ngoài ra, còn có
những hình thức tổ chức kinh tế hoạt động không thuộc thành phần kinh tế

Luận văn thạc sĩ

14

Ngành Quản trị kinh doanh


“kinh tế ngoài quốc doanh được chọn hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh,
được thành lập doanh nghiệp không bị hạn chế về qui mô hoạt động trong

Luận văn thạc sĩ

15

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

những ngành nghề có lợi cho quốc kế dân sinh”. Mục đích chính sách kinh tế
của Nhà nước là làm cho dân giàu, nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu
cầu vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính sách kinh tế của Nhà nước còn
nhằm giải phóng năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng của các thành
phần kinh tế thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Bằng các qui định của Hiến pháp, Nhà nước và xã hội đã chính thức
thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, nếu chỉ
công nhận khu vực kinh tế ngoài quốc doanh tồn tại thôi thì chưa đủ mà cần
phải định hướng cho khu vực kinh tế ngoài quốc doanh phát triển theo đúng
đường lối của Đảng, đúng mục đích đã định ra không để kinh tế ngoài quốc
doanh phát triển tự phát, chệch hướng. Vì vậy cần tiếp tục thể chế đường lối
của Đảng, Hiến pháp thành những chính sách cụ thể. Trong những năm qua
Nhà nước đã nghiên cứu, ban hành các chính sách cụ thể tạo hành lang pháp
lý cho kinh tế ngoài quốc doanh phát triển, đồng thời liên tục chỉnh lý cho các
chính sách thật phù hợp với đời sống thực tiễn, khơi dậy mọi tiềm năng của
khu vực kinh tế này. Trong các chính sách đó đáng chú ý là:

phần theo cơ chế thị trường, Nhà nước đã có chính sách thuế thống nhất để
tạo điều kiện cạnh tranh công bằng và bình đẳng. Do đó việc ban hành các
luật thuế áp dụng chung cho mọi cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành
phần kinh tế là kịp thời và cần thiết. Về nguyên tắc chung, hệ thống chính
sách thuế mới đã đảm bảo sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước, khuyến khích sản
xuất phát triển, hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
- Ban hành luật khuyến khích đầu tư trong nước, thể hiện cụ thể về chủ
trương của Đảng và Nhà nước khuyến khích mọi thành phần kinh tế, mọi
người dân bỏ vốn sản xuất kinh doanh. Trong luật khuyến khích đầu tư trong
nước cũng ban hành luôn các danh mục ngành nghề, danh mục các địa bàn
khuyến khích đầu tư và chính sách ưu đãi cụ thể đối với từng ngành nghề và
từng địa bàn. Trong đó đặc biệt là các chính sách ưu đãi miễn giảm thuế được
các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh quan tâm và hoan
nghênh.
Ngoài ra các chính sách về tín dụng như áp dụng chung một mức lãi
suất, chính sách về xuất nhập khẩu qui định mọi cơ sở sản xuất kinh doanh
thuộc mọi thành phần kinh tế đều được tham gia trực tiếp xuất nhập khẩu,
chính sách về lao động qui định mọi công dân đến tuổi lao động ở mọi hình
thức, mọi thành phần kinh tế đều có quyền lợi ngang nhau, chính sách về tiền
lương cũng được ban hành mới và sửa đổi, bổ xung cho phù hợp với chủ
trương phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Đồng thời Nhà nước
cũng chỉ đạo mạnh mẽ việc cải tiến thủ tục hành chính tạo môi trường sản

Luận văn thạc sĩ

17

Ngành Quản trị kinh doanh



- Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có ý thức chấp hành pháp luật rất
kém. Tình trạng kinh doanh không có giấy phép hay vi phạm điều lệ đăng ký

Luận văn thạc sĩ

18

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

kinh doanh tương đối phổ biến. Đa số doanh nghiệp có sử dụng lao động vi
phạm chế độ sử dụng lao động như không đóng bảo hiểm xã hội... Cũng
tương tự như trên có 1 bộ phận không nhỏ số hộ kinh doanh không xin cấp
mã số thuế, không đăng ký nộp thuế đối với các doanh nghiệp ngoài quốc
doanh cũng có tình trạng tương tự, nhiều doanh nghiệp xin thành lập nhưng
không hoạt động, còn tình trạng lập sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ không
đúng thực tế nhằm mục đích trốn thuế diễn ra phổ biến.
- Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh có mô hình tổ chức quản lý và
kinh doanh gọn nhẹ, năng động và nhậy bén, là khu vực chiếm phần đông
trong nền kinh tế song qui mô nhỏ do vốn ít, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ, linh
hoạt, dễ dàng thích ứng nhanh với sự biến động của thị trường và sự tiến bộ
không ngừng khoa học kỹ thuật, đồng thời trong các doanh nghiệp số lượng
lao động ít và thường đảm nhận chức vụ theo kiểu đa năng giúp cho chi phí
nhân công thấp tạo lợi thế cạnh tranh về giá và sản phẩm cung cấp cho thị
trường trong nước nhưng do qui mô quá nhỏ bé dẫn đến khó cạnh tranh được
trên thị trường quốc tế.

tư nhân số 48/LCT/HĐNN năm 1991, Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1994
và 2004, đặc biệt Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 ngày 12/06/1999 đi
vào cuộc sống đã tạo cơ sở nền tảng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp, kéo theo sự phát triển mạnh mẽ của khối doanh nghiệp khu vực
tư nhân. Sự ra đời của Luật Doanh Nghiệp năm 2000 là một bước tiến dài,
hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó, tiêu chí
bảo vệ quyền công dân trong việc thành lập và điều hành hoạt động kinh
doanh tư nhân mà không có sự can thiệp của chính phủ cùng với sự đơn giản
hóa thủ tục hành chính rõ rệt. Cơ chế “đăng ký trước, kiểm tra sau” (cơ chế
hậu kiểm) đã tác động mạnh tới toàn nền kinh tế. Các chính sách phát triển
kinh tế tư nhân được quy định bởi Luật Doanh Nghiệp đã được cải thiện qua
từng giai đoạn, khơi dậy tin thần doanh nhân, huy động nguồn lực trong nước,
tạo sân chơi bình đẳng đối với các loại hình doanh nghiệp. Kết quả là ngày
càng nhiều doanh nghiệp thành lập mới và đi vào hoạt động. Tiếp theo Luật
Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 có hiệu lực vào ngày 1/1/2006
đánh dấu một bước tiến mạnh mẽ trong việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh
doanh, xoá bỏ cơ bản các rào cản đăng ký gia nhập thị trường đối với doanh
nghiệp.
Luật Doanh nghiệp ra đời và đi vào thực tiễn đã tạo môi trường thông
thoáng cho hoạt động kinh doanh, tạo bước đột phá về cải cách hành chính,
nâng cao đáng kể tính nhất quán, tính thống nhất, minh bạch và bình đẳng của
khuôn khổ pháp luật về kinh doanh ở nước ta. Bằng việc đơn giản hoá thủ tục

Luận văn thạc sĩ

20

Ngành Quản trị kinh doanh



tăng trường kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam.

Luận văn thạc sĩ

21

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

Viện Kinh tế & Quản lý

Số lượng DN khu vực tư nhân trong nước đăng ký hoạt động tăng
trưởng nhanh, tăng khoảng 15 lần sau 9 năm (2011 so với 2002). Cho đến hết
năm 2011, số doanh nghiệp khu vực tư nhân thực tế đang hoạt động là
196.779 doanh nghiệp, chiếm 95,7% tổng số doanh nghiệp, gấp 5,6 lần năm
2002 và tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp bình quân hàng năm là 24,1%.
Cùng với sự gia tăng về số lượng, quy mô vốn bình quân trên một doanh
nghiệp cũng tăng lên nhanh chóng, tăng từ 962 triệu đồng/doanh nghiệp vào
năm 2002 lên 3,14 tỷ đồng/doanh nghiệp vào năm 2009 (gấp khoảng 3,2 lần),
năm 2010 là 8,1 tỷ/doanh nghiệp, năm 2011 là 8,7 tỷ/doanh nghiệp. Tính
chung cả giai đoạn 2002-2011, quy mô vốn đăng ký trung bình một doanh
nghiệp tăng gấp 9 lần.
1.2. Nội dung quản lý thu thuế đối với khu vực kinh tế ngoài quốc
doanh
1.2.1. Sự ra đời và phát triển của thuế
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra
đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại của Nhà nước.
Mỗi Nhà nước ở mỗi giai đoạn lịch sử có bản chất, chức năng và nhiệm vụ cụ

Thuế có thể được thu bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng ngày công lao
động. Với sự mở rộng không ngừng chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và sự
phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng hóa - tiền tệ; hệ thống thuế của các quốc gia
đã không ngừng phát triển và thuế thu bằng tiền trở thành hình thức thu phổ
biến.
Như vậy có thể khẳng định Nhà nước và thuế là hai phạm trù gắn bó
hữu cơ với nhau. Nhà nước tồn tại tất yếu phải có thuế để đảm bảo điều kiện
vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của mình. Đồng thời, sự phát triển hệ
thống thuế của các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển chức năng nhiệm
vụ của Nhà nước và sự phát triển của kinh tế hàng hóa -tiền tệ.
Về quan hệ giữa Nhà nước và thuế, Mác đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế
của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn cơ bản để kho bạc thu được tiền hay sản
vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi chi tiêu của Nhà nước”.
Ăng ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng
góp của công dân cho Nhà nước, đó là thuế”.
Như vậy, thuế luôn gắn chặt với sự ra đời và phát triển của Nhà nước,
bản chất của Nhà nước qui định bản chất giai cấp của thuế.
Trong thời chiếm hữu nô lệ, thuế là công cụ tạo nguồn cho thu Ngân
sách Nhà nước để nuôi bộ máy Nhà nước của mình.
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ của Ngân sách
Nhà nước mà còn là một công cụ điều chỉnh một bộ phận của cải từ các chủ

Luận văn thạc sĩ

23

Ngành Quản trị kinh doanh


Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội

mình nhằm tập trung một bộ phận quyền lực, của cải xã hội vào Ngân sách

Luận văn thạc sĩ

24

Ngành Quản trị kinh doanh



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status