Phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty TNHH panasonic electronic devices việt nam - Pdf 39

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
--------------------------------------HOÀNG ĐỨC THẮNG

PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT TẠI CÔNG TY TNHH
PANASONIC ELECTRONIC DEVICES VIỆT NAM

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. TRẦN SỸ LÂM

HÀ NỘI - NĂM 2012


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh "Phân tích đề xuất một
số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty TNHH Panasonic
Electronic Devices Việt Nam" là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được công bố trong bất kỳ công trình nào khác từ trước đến nay.
Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2012

HOÀNG ĐỨC THẮNG


LỜI CẢM ƠN


HIỆU

TÊN

TRANG

1

Sơ đồ 1-1

Quá trình sản xuất

3

2

Sơ đô 1-2

Hệ thống sản xuất/ tác nghiệp

6

3

Sơ đồ 1-3

4

Sơ đồ 1-4

19
20
30
31
45

Sơ đồ bộ máy kiểm soát hệ thống sản xuất
9

Sơ đồ 3-1

tại công ty TNHH Panasonic Electronic Devices Việt
Nam

67


DANH MỤC BẢNG BIỂU

1


HIỆU
Bảng 2.1

2

Bảng 2.2

STT

5

Bảng 3.2

Mẫu sổ giao ca

71

6

Bảng 3.3

Mẫu báo cáo sản xuất ca

72

7

Bảng 3.4

Mẫu báo cáo sản xuất hàng ngày cấp phân xưởng

73

Bảng 3.5

Số lượng trang thiết bị cần thiết để phục vụ công tác thu
thập và xử lý thông tin trong kiểm soát hệ thống sản
xuất tại công ty TNHH Panasonic Electronic Devices
Việt Nam

9

10

11

49


Hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động sản xuất vật chất tự cung tự cấp đã tồn tại phát triển cùng với nền văn
minh của con người từ hàng nghìn năm nay, yếu tố vật chất luôn là cốt lõi của mọi
hình thái kinh tế và nó làm cho khoa học phát triển qua những cải tiến phát minh,
sáng chế. Chính vì vậy văn minh loài người mớiđạtđến trìnhđộ như ngày hôm nay.
Trong nền kinh tế tri thức hiện nay ngành dịch vụ đang chiếm một tỷ trọng rất lớn
nhưng nó luôn cần một nền móng vững chắc để phát triển đó chính là sản xuất vật
chất, sản xuất hàng hóa.
Hơn lúc nào hết khi trìnhđộ khoa học kỹ thuật của con người đạt tớiđỉnh cao cộng với
sự toàn cầu hoá giúp cho những thành tựu khoa họcđóđến với từng cá nhân trên khắp
thế giới nhờ chuyển giao công nghệ. Sự cạnh tranh khốc liệt khi sân chơi có nhiều
đối thủ khiến các doanh nghiệp sản xuất phải không ngừng đầu tư nghiên cứu từ công
nghệ cho đến khoa học quản lý nhằm cung cấp cho khách hàng những sản phẩm tốt
với giá thành hợp lý mới có thể tồn tại và phát triểnđược.
Ngành công nghiệp sản xuất linh kiện điện tử cũng không nằm ngoài vòng xoáy cạnh
tranh khốc liệt đó, với rất nhiều nhà máy sản xuất linh kiện điện tử lớn và nổi tiếng
của thế giớiđang hiện diện tại Việt Nam như: Samsung, Sony, GE, Intel... thìđề tài : “
Phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuấttại

Luận vănđược chia thành 3 chương như sau:
Chương 1 : Cơ sở lý luận về sản xuất và kiểm soát hệ thống sản xuất.
Chương 2: Phân tích Thực trạng kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty
TNHH Panasonic Electronic Devices Việt Nam.
Chương 3: Một số đề xuất Hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất cho công
ty TNHH Panasonic Electronic Devices Việt Nam.

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

2


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SẢN XUẤT
VÀ KIỂM SOÁT HỆ THỐNG SẢN XUẤT
1.1. Khái niệm về hệ thống sản xuất
1.1.1. Khái niệm sản xuất
Theo quan niệm phổ bến trên thế giới thì sản xuất được hiểu là: “ quá trình
tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ ”
Một hệ thống sản xuất sử dụng các yếu tố đầu vào là nguyên vật liệu thô, con
người, máy móc, nhà xưởng, kỹ thuật công nghệ, tiền mặt và các nguồn tài nguyên
khác để chuyển đổi nó thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Sự chuyển đổi này là hoạt động
trọng tâm và phổ biến của hệ thống sản xuất. Mối quan tâm hàng đầu của các nhà
quản trị hệ thống sản xuất là các hoạtđộng chuyển hoá của sản xuất.
Chuyển hoá

Đầu vào
- Nguồn nhân lực
- Nguyên liệu


còn ở dạng tự nhiên như khai thác quặng mỏ, khai thác lâm sản, đánh bắt hải sản,
trồng trọt..
- Sản xuất bậc 2 (Công nghiệp chế biến): là hình thức sản xuất, chế tạo, chế
bến các loại nguyên liệu thô hay tài nguyên thiên nhiên biến thành hàng hoá như gỗ
chế biến thành bàn ghế, quặng mỏ chế biến thành sắt thép. Sản xuất bậc 2 bao gồm
cả việc chế tạo các bộ phận cấu thành dùng để lắp ráp thành sản phẩm tiêu dùng và
sản phẩm công nghiệp.
- Sản xuất bậc 3: (công nghiệp dịch vụ): Cung cấp hệ thống các dịch vụ nhằm
thoả mãn nhu cầuđa dạng của con người. Trong nền sản xuất bậc 3, dịch vụđược sản
xuất ra nhiều hơn các hàng hoá hữu hình. Các nhà sản xuất công nghiệp được cung
cấp nhữngđiều kiện thuận lợi và dịch vụ trong phạm vi rộng lớn. Các công ty vận tải
chuyên chở sản phẩm của các nhà máy sản xuất từ nhà máy đến các nhà bán lẻ. Các
nhà buôn bán và nhà bán lẻ cung cấp dịch vụ đến người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài
ra còn nhiều loại dịch vụ khác như: bốc dỡ hàng hoá, bưu điện, viễn thông, ngân
hàng, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, nhà hàng, khách sạn...
1.1.2. Đặc điểm của sản xuất hiện đại
Quản trị sản xuất ngày nay ngày càngđược các nhà quản trị cấp cao quan tâm, coi
đó như là một vũ khí cạnh tranh sắc bén. Sự thành công chiến lược của doanh nghiệp
phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh giá, tạo dựng, phát triển các nguồn lực từ chức năng
sản xuất. Sản xuất hiệnđạ có nhữngđặcđiểm sau:
- Thứ nhất, sản xuất hiện đại yêu cầu phải có kế hoạch hợp lý khoa học, có đội
ngũ kỹ sư giỏi, công nhân được đào tạo tốt và thiết bị hiện đại.
- Thứ hai, quan tâm ngày càng nhiều đến thương hiệu và chất lượng sản
phẩm.Đây là một tất yếu khách quan khi mà tiến bộ kỹ thuật ngày càng phát triển với
mứcđộ cao và yêu cầu của cuộc sống ngày càng nâng cao.
- Thứ ba, càng nhận thức rõ con người là tài sản quý nhất của công ty. Yêu cầu
ngày càng cao của quá trình sản xuất, cùng với sự phát triển của máy móc thiết bị,
vai trò năngđộng của con người trở nên chiếm vị trí quyết định cho sự thành công cho
trong các hệ thống sản xuất.

phân hệ chính có ý nghĩa quyếtđịnhđến việc tạo ra sản phẩm và cung cấp dịch vụ cho
xã hội. Quản lý hệ thống sản xuất sản phẩm, dịch vụ là chức năng, nhiệm vụ cơ bản
của từng doanh nghiệp. Hình thành, phát triển và tổ chức điều hành tốt là cơ sở và
yêu cầu thiết yếuđể mỗi doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển trên thị trường.
“Quản trị sản xuất chính là quá trình thiết kế, hoạch định, tổ chức điều hành và
kiểm tra theo dõi hệ thống sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất đã đề ra“.
Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

5


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

Cũng giống như những phân hệ khác, hệ thống sản xuất bao gồm nhiều yếu tố cấu
thành, có mối quan hệ khăng khít, chặt chẽ với nhau. Toàn bộ phân hệ sản xuất được
biểu diễn bằng sơđồ sauđây:
Đột biến
Ngẫu nhiên
Quá trình biếnđổi
Đầu vào

Đầu ra
Thông tin
Phản hồi

Thông tin
Kiểm tra

Phản hồi


Nhiệm vụ của quá trình sản xuất và dịch vụ kế là thiết kế và tổ chức hệ thống
sản xuất nhằm biến đổi đầu vào thành các yếu tố đầu ra sau mỗi quá trình biến đổi,
nhưng với một lượng lớn hơn lượng đầu tư ban đầu. Giá trị gia tăng là yếu tố quan
trọng nhất, làđộng cơ hoạtđộng của các doanh nghiệp và mọi tổ chức, cá nhân có liên
quan trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giá trị gia tăng là
nguồn gốc tăng của cải và mức sống của toàn xã hội; tạo ra nguồn thu nhập cho tất cả
các đối tượng có tham gia đóng góp vào hoạt động của doanh nghiệp như những người
laođộng, chủ sở hữu, cán bộ quản lý và là nguồn táiđầu tư sản xuất mở rộng, đảm bảo
cho sự tồn tại và phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
1.1.4. Mục tiêu của quản trị sản xuất
Các doanh nghịêp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu
sinh lời. Lợi nhuận tối đa là mục tiêu chung nhất, mục tiêu cuối cùng của bất kỳ
doanh nghiệp nào khiđầu tư tiền của và sức lực vào các hoạtđộng kinh doanh trên thị
trường. Quản trị sản xuấtđồng thời với tư cách là tổ chức quản lý sử dụng các yếu tố
đầu vào và cung cấpđầu ra phục vụ nhu cầu của thị trường, vì vậy, mục tiêu tổng quát
đặt ra là đảm bảo thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng trên cơ sở sử dụng hiệu quả
nhất các yếu tố sản xuất. Nhằm thực hiện mục tiêu này, quản trị sản xuất có các
mục tiêu cụ thể sau:
- Bảo đảm chất lượng sản phẩm và dịch vụ theo đúng yêu cầu của khách hàng.
- Giảm chi phí sản xuất tới mức thấp nhất để tạo ra một đơn vị đầu ra.
- Rút ngắn thời gian sản xuất sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ.
- Xây dựng hệ thống sản xuất của doanh nghiệp có độ linh hoạt cao.

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

7


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic



Phát hiện chính xác, kịp thời những sai xót xảy ra và trách nhiệm của các
bộ phận có liên quan trong quá trình thực hiện, quyết định, mệnh lệnh, chỉ
thị.

-

Tạođiều kiện thực hiện một cách thuận lợi các chức năng: uỷ quyền, chỉ huy
và thực hiện chếđộ trách nhiệm các nhân.

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

8


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

-

Hình thành hệ thống thống kê báo cáo với những biểu mẫu có nội dung
chính xác, thích hợp.

-

Đúc rút, phổ biến kinh nghiệm, cải tiến công tác quản lý nhằm mục tiêu đã
định, trên cơ sở nâng cao hiệu suất công tác của từng bộ phận, từng cấp,
từng cá nhân trong bộ máy quản trị kinh doanh.
1.2.3. Tầm quan trọng của hoạt động kiểm soát

- Từ những thập niên 90 của thế kỷ XX, kiểm soát đã trở thành công cụ được các

xuất. Nền tảng để thực hiện các công việc được bắt đầu từ thống kê tác nghiệp. Nhiệm
vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời các hoạt động sản
xuất, thuđược các thông tin cóđộ tin cậy cao về tiến trình thực hiện các kế hoạch sản
xuất của các bộ phận sản xuất, tình hìnhđảm bảo tất cả các nguồn lựcđể kiểm soát kịp
thời và điều chỉnh tiến trình sản xuất đang diễn ra, nâng cao chất lượng quản trị sản
xuất nói chung.
1.3.2. Các chức năng của kiểm soát hệ thống sản xuất
Kiểm soát hệ thống sản xuất bao gồm có ba chức năngđó là: Thống kê; kiểm tra,
phân tích vàđiều chỉnh thực hiện vai trò phản hồi trong quá trình sản xuất.
- Chức năng thống kê tác nghiệp tiến hành:
Vào sổ các dữ liệu hản ánh hoạtđộng của các bộ phận sản xuất theo quyđịnh, tích
luỹ, phân loại, hệ thống hoá lại các dữ liệu đó. Những dữ liệu của thống kê tác
nghiệp sẽ được sử dụng trong quá trình kiểm tra, phân tích và điều chỉnh ở các bước
tiế theo. Yêu cầu cần đảm bảo cho các nhà quản trị sản xuất các thông tin: đầyđủ, kịp
thời và chính xác nhằmđánh giá chính xác quá trình sản xuấtvà có thể kịp thời đưa ra
các tácđộngđiều chỉnh.
- Chức năng kiểm tra và phân tích:
Đóng vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị các thông tin phân tíchđể từđó có thểđưa ra
các quyết định điều chỉnh quá trình sản xuất. Trong quá trình kiểm tra và phân tích đó
cần thiết phải tiến hành phân tích và đánh giá toàn diện các đối tượng quản lý, phân
tích các nguyên nhân phát sinh các sai lệch giữa tiến trình thực tế so với kế hoạch,
tìm ra những tiềm năng của hệ thống sản xuất, đưa ra các phương án khác nhau của
các quyết định quản lý nhằm điều chỉnh quá trình sản xuất (ví dụ: khi điều chỉnh lịch
trình sản xuất, có thể xem xét các phương án sử dụng các tiềm năng bên trong và huy
động các nguồn lực bên ngoàiđểđảm bảo hiệu quả cao nhất cho quá trình sản xuất).

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

10



Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

11


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

Nhiệm vụ quan trọng của thống kê là phản ánh khách quan và kịp thời các
hoạt động sản xuất, thu được các thông tin có độ tin cậy cao về tiến trình thực
hiện các kế hoạch sản xuất của các bộ phận sản xuất, tình hình đảm bảo tất cả
các nguồn lực để kiểm soát kịp thời và điều chỉnh tiến trình sản xuất đang diễn
ra, nâng cao chất lượng quản trị sản xuất nói chung.
Thống kê tác nghiệp sản xuất cần phải bao quátđược tất cả các đối tượng quản lý:
từ khâu chuẩn bị sản xuất, đến các khân sản xuất chính, phụ và phụ trợ, tất cả các
nguồn lực sản xuất (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, nhân lực... ), tiêu thụ sản
phẩm hoàn chỉnh... và điều đó có nghĩa là cần thiết thống kê tác nghiệp sản xuất phải
phản ánhđầyđủ và kịp thời các phương diện hoạtđộng của doanh nghiệp.
Ví dụ như: thông tin dành cho nhà quản trị tác nghiệp về chuẩn bị sản xuất cần
phải có về tình hình thực hiện kế hoạch chuẩn bị sản xuất trên toàn doanh nghiệp và
cho từng bộ phận sản xuất, từng người thực hiện, các thống kê về sự tương thích với
cácđịnh mức tiêu hao nguyên vật liệu, chi phí nhân công, thời gian thực chạy của các
máy móc thiết bị sản xuất, thống kê về tình hình thực hiện các biện pháp nhằm ứng
dụng kỹ thuật mới, tình hình chuẩn bị sản xuất các sản phẩm mới, tăng chất lượng
các sản phẩm đang sản xuất. Trong lĩnh vực đảm bảo vật tư và kỹ thuật cho sản xuất
cần thiết có thông tin về thực hiện các kế hoạch cung ứng nguyên vật liệu, bán
thành phẩm mua ngoài, thông tin về sự vận động của dòng vật chất trong các xưởng
và sử dụng chúng trong sản xuất, ...
Thống kê tác nghiệp sản xuất bao gồm tính toán theo các nguyên công của quy
trình công nghệ tại các xưởng: vận động của đối tượng lao động trong các kho của các

thành phẩm.
- Lượng phế phẩm trong sản xuất, các tổn thất phát sinh do ngừng máy móc,
thiết bị và công nhân.
- Số lượng tại các kho và sự vậnđộng của dòng vật chất qua các kho...
Nền tảng thông tin kiểm soát và phân tích là các số liệu thực về tiến trình sản
xuất , các thông tin về kế hoạch và các thông tin định mức tra cứu. Các định mức
có thể liệt kê như: mức thời gian sản phẩm,định mức phục vụ máy móc, thiết bị công
nghệ, định mức sử dụng công suất máy (phụ tải máy), định mức tiêu hao nguyên vật
liệu, năng lượng điện... Từ đó có thể thấy, thống kê tác nghiệp cũngđồng nghĩa với thu
thập thông tin về kết quả làm việc của các phân xưởng, bộ phận sản xuất, trong một
khoảng thời gian nhất định để kiểm tra và điều chỉnh quá trình sản xuất ở bước tiếp
theo. Những thông tin này còn được tổng hợp lại và dùng với mục đích hoạch định sản
xuất trong các giaiđoạn dài hơn: cho các tháng, các quý...

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

13


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

Như vậy trong hệ thống quản lý Doanh nghiệp thống kê tác nghiệp đóng vai
trò:
- Là nguồn thu nhận liên tục các thông tin về kết quả làm việc của nhà máy
nói chung và từng các thành phần nói riêng, về tình hình đảm bảo vật tư và các
nguồn lực khác cho quá trình sản xuất.
- Là phương tiện kiểm soát hàng ngày và mang tính hệ thống tiến trình thực
hiện các chương trình sản xuất (kế hoạch) và thực hiện kịp thời các điều chỉnh
cần thiết.
- Là nguồn dữ liệu để phân tích kinh tế và phát hiện các tiềm năng để nâng

lương cho các phân xưởng, các bộ phận sản xuất, sự nhịp nhàng của tiến trình
sản xuất, mức độ bán thành phẩm, thời gian còn lại để thực hiện các đơn đặt
hàng, phế phẩm theo số lượng và giá trị, năng suất và tiền lương cho từng nhóm
lao động, giá thành sản phẩm, thời gian thực tế bỏ ra, thực hiện chương trình
sản xuất và các kế hoạch tác nghiệp tại các phân xưởng, bộ phận sản xuất theo
các ca, ngày, tuần, tình hình thực hiện các đơn hàng xuất khẩu, thực hiện các kế
hoạch dự trữ, tình hình chuyển giao các chi tiết sản phẩm giữa các kho, số lượng
tồn kho thực tế, số lượng thừa, thiếu chi tiết...
• Thứ tự đăng ký và chế biến các thông tin:
+ Đăng ký các thông tin sơ cấp về tình trạng sản xuất tại hệ thống máy tính
của phân xưởng.
+ Tổng hợp thông tin ở các phân xưởng và chuyển cho quản đốc phân xưởng,
bộ phận điều độ sản xuất và đưa về trung tâm máy tính chung của Doanh
nghiệp.
Để tổ chức hiệu quả hệ thống thống kê tác nghiệp cần thiết phải giải quyết bài
toán hệ thống mã hoá và mã hoá thông tin (mã hoá các sản phẩm, chi tiết cấu
thành, các nguyên công công nghệ, các vật tư, nguyên vật liệu sản xuất, các bán
thành phẩm, phân xưởng, bộ phận sản xuất, máy móc thiết bị công nghệ, các
nhóm lao động theo các nghề khác nhau,...)
• Lựa chọn các chỉ tiêu phản ánh quá trình sản xuất :
Trong quá trìnhđánh giá cần thiết phải đánh giá đầyđủ quá trình sản xuất. Nhữngđặc
điểm khách quan về dòng chảy của quá trình sản xuất, đó là các chỉ tiêu kinh tế. Các
chỉ tiêuđó có thể thuộc vào các loạiđịnh tính vàđịnh lượng.
Một số ví dụ về các chỉ tiêu tổng hợp được sử dụng để kiểm soát quá trình sản
xuất:

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

15


những cảm nhận của chính mình. Trong trường hợp phát sinh một loạt các sai lệch
trên các chỉ tiêu khác nhau thì cần thiết phải đưa ra các dự báo tác nghiệp về quá
Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

16


Một số giải pháp hoàn thiện kiểm soát hệ thống sản xuất tại công ty Panasonic

trình sản xuất và kết quả thực hiện các chương trình sản xuất, đánh giá phương án
thực hiện kế hoạch sản xuất mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất.
- Nhiệm vụ và nội dung của phân tích hoạt động sản xuất.
Nhiệm vụ phân tích hoạtđộng sản xuất có thể chia ra làm ba giaiđoạn sau:
+ Giai đoạn một:
Xác định nguyên nhân và những đối tượng chịu lỗi gây ra những sai lệch giữa
thực tế và kế hoạch, làm rõ các tiềm năng sản xuất:
Những nguyên nhân có thể chia ra thành hai nhóm: bên trong và bên ngoài. Bên
ngoài không phụ thuộc vào hoạt động của các đối tượng quản lý, (ví dụ như: mất điện,
chậm cung ứng nguyên vật liệu,...), còn bên trong: dừng máy móc, thiết bị, thiếu
công nhân, vi phạm mức tiêu hao các nguồn lực đã quy định... Trong mỗi trường hợp
cụ thể cần tìm rõ nguyên nhân và đối tượng chịu lỗi, là người chịu trách nhiệm về
những tổn thất cho quá trình sản xuất, ví dụ như: máy ngừng thì có thể là do thợ
không cung ứngđủ nguyên vật liệu tại bộ phận sản xuất.
Trong quá trình phân tích các nguyên nhân có thể sử dụng mô hình mối quan hệ
nhân - quả. Cùng với tiến trình phân tích hoạt động sản xuất thì rất cần thiết làm rõ
các tiềm năng sản xuất để từ đó xây dựng giải pháp hợp lý hoá sử dụng các nguồn lực
sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
+ Giai đoạn hai:
Xây dựng các quan hệ nhân - quả phát sinh trong quá trình sản xuất, xácđịnh các
yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu hoạt động sản xuất và đo lường ảnh hưởng của chúng.Để


Không đủ kế
hoạch sản xuất

Hỏng công cụ
sản xuất

Tai nạn

Sản xuất
hỏng

Thiếu
công nhân

Sửa chữa
ngoài

Thiếu nguyên
vật liệu

Thiếu dụng cụ
sản xuất

Thiếu điện

Chất lượng
Nguyên vật liệu
thấp
Tay nghề và ý thức

Chất lượng

ý thức làm
việc của
công nhân

NVL chính

Tình trạng
máy móc

Kỷ luật không
nghiêm của nhà
máy

Sựđônđốc, kiểm tra của
quảnđốc, trưởng ca
Mức trách nhiệm
thấp, thiếu sự kiểm
soát từ cấp trên

Sơ đồ 1 - 4. Sơ đồ kiểm soát năng xuất lò nung clanke
trong nhà máy sản xuất xi măng
+ Giai đoạn ba:
Chuẩn bị các thông tin phân tích cần thiếtđểđưa ra các quyếtđịnhđiều chỉnh sản
xuất.
Các nhà quản trị cần phải có đầy đủ các thông tin về đối tượng quản lý và các
công cụđánh giá hậu quả của những quyếtđịnh của mình lên các chỉ tiêu của hoạtđộng
sản xuất, hiệu quả sản xuất.Đểđưa ra các quyếtđịnh vềđiều chỉnh quá trình sản xuất thì
các nhà quản trị cần sử dụng thông tin phân tích về nguyên nhân đã dẫn đến các sai

vềđiều chỉnh quá trình sản xuất
Dự báo về kết quả của từng
phương án quyếtđịnh

Phân tích



Kết quả có tốt
không?
Không
Điều chỉnh

Sơ đồ 1-5: Nguyên tắc về quá trình
ra các quyết định và phân tích tiến trình sản xuất.

Hoàng Đức Thắng – Luận văn Thạc sĩ

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status