VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THANH BÌNH
GIẢI PHÁP THU HÚT KHU VỰC TƢ NHÂN VÀO
PHÁT TRIỂN KẾT CẤU HẠ TẦNG
CẢNG BIỂN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số
: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN CÔNG MỸ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác
và trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố
trong bất kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
PHẠM THANH BÌNH
BOT:
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
DWT:
Deadweight tonnage
Tấn khối lượng do tàu biển chuyên chở
FDI :
Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GTVT:
Giao thông vận tải
KCHT:
Kết cấu hạ tầng
PPP:
Hình thức hợp tác công tư
VTS:
Hệ thống kiểm soát lưu thông trên biển
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kết cấu hạ tầng phát triển là điều kiện tiền đề quan trọng để thúc đẩy phát
triển kinh tế - xã hội.Một hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hiện đại sẽ
tạo không gian phát triển kết nối giữa các vùng, miền để biến các lợi thế so sánh của
từng vùng thành lợi thế cạnh tranh.
Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2011-2010 xác định cần phát triển nhanh
kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông. Hình thành cơ bản hệ thống kết cấu hạ
tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại là một đột phá chiến lược, là yếu tố
quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng
trưởng.
Thực hiện một trong các đột phá chiến lược, ngày 16/01/2012 Hội nghị lần thứ
4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI có Nghị quyết số 13-NQ/TW về Xây
dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đối với kết cấu hạ tầng cảng biển
đã được định hướng “Ưu tiên đầu tư đồng bộ, hiện đại hai cảng biển cửa ngõ quốc
tế Lạch Huyện (Hải Phòng) và cảng Cái Mép - Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu)”. Định
hướng này, tiếp tục được xác định và quyết tâm thực hiện tại Nghị quyết số 16/NQCP của Chính phủ ngày 08/6/2012 về ban hành Chương trình hành động của Chính
phủ thực hiện Nghị quyết số 13-NQ/TW và đề án tái cơ cấu ngành giao thông vận
tải phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển bền vững giai
đoạn 2013-2020 (tại Quyết định số 1210/QĐ-TTg ngày 24/7/2014 của Thủ tướng
Chính phủ).
Trên thực tế kinh nghiệm và khung pháp lý để thu hút và sử dụng nguồn lực tư
nhân cho phát triển kết cấu hạ tầng (đặc biệt hạ tầng cảng biển) đã được hình thành tại
Việt Nam nhưng việc triển khai thu hút nguồn lực vốn từ khu vực này còn hạn chế. Vì
vậy, việc xây dựng các giải pháp cụ thể để thu hút thành công nguồn lực tư nhân cho
phát triển hạ tầng cảng biển là hết sức quan trọng và cấp thiết.
1
2
những giải pháp áp dụng vào Việt Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Đề tài luận văn được viết từ việc nghiên cứu lý luận đến
thực tiễn tại Việt Nam. Đầu tiên là những khái niệm chung về cảng biển, bao gồm:
khái niệm, đặc điểm, lý thuyết nghiên cứu liên quan. Từ đó trình bày tình hình xây
dựng và khai thác cảng biển ở một số nước trên thế giới để rút ra bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam. Để rút ra mặt được, chưa được và nguyên nhân của những
mặt chưa được. Cuối cùng là một số đề xuất về giải pháp thu hút khu vực tư nhân
vào phát triển KCHT cảng biển Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau: thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích, tổng hợp, hệ thống…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn đã nghiên cứu tổng hợp một số lý luận chung về
khái niệm và đặc điểm về xây dưng KCHT cảng biển Việt Nam; một số lý thuyết
liên quan đến phát triển hạ tầng cảng biển. Đồng thời,luận văn đã hệ thống những
nét cơ bản của hệ thống cảng biển đang được áp dụng trên thế giới để phục vụ
nghiên cứu, tìm hiểu về tình hình cảng biển của Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng phát triển
KCHTcảng biển phù hợp với tình hình thực tế và kinh nghiệm từ nước ngoài.
7. Cơ cấu của luận văn
Từ mục tiêu nghiên cứu của luận văn, nội dung nghiên cứu được chia thành 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận chung về sự tham gia của khu vực tư nhân trong
phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển.
Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng cảng biển hiện nay.
Chương 3: Giải pháp thu hút đầu tư tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng
“Vùng đất cảng” là vùng đất được giới hạn để xây dựng cầu cảng, kho, bãi,
nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ thống giao thông, thông tin liên lạc, điện, nước,
các công trình phụ trợ khác và lắp đặt trang thiết bị.
4
“Vùng nước cảng” là vùng nước được giới hạn để thiết lập vùng nước trước
cầu cảng, vùng quay trở tàu, khu neo đậu, khu chuyển tải, khu tránh bão, vùng đón
trả hoa tiêu, vùng kiểm dịch; vùng để xây dựng luồng cảng biển và các công trình
phụ trợ khác.
“Bến cảng” bao gồm cầu cảng, kho bãi, nhà xưởng, trụ sở, cơ sở dịch vụ, hệ
thống thông tin, giao thông liên lạc, điện, nước, luồng vào bến cảng và các công
trình phụ trợ khác.
“Cầu cảng” là kết cấu cố định thuộc bến cảng, được sử dụng cho tàu biển neo
đậu, bốc dỡ hàng hóa, đón, trả hành khách và thực hiện các dịch vụ khác.
Chức năng, vai trò của cảng biển
Chức năng cảng biển
Cảng biển có những chức năng cơ bản như: Cung cấp các phương tiện, thiết
bị, nhân lực cần thiết cho tàu biển neo đậu, bốc dỡ hàng hóa, đón trả khách, cung
cấp luồng hàng hải, đường giao thông trong cảng kết nối với hệ thống giao thông
bên ngoài, cung cấp dịch vụ cung ứng, hỗ trợ tàu thuyền, sửa chữa… Bên cạnh đó,
cảng biển có chức năng bổ sung như: Bảo đảm an toàn cho tàu thuyền ra vào cảng,
bảo đảm vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ.
Ngoài ra, cảng biển có những chức năng cá biệt: Kiểm tra, giám sát tiêu chuẩn
an toàn của tàu thuyền kiểm soát ô nhiễm môi trường; đăng ký tàu thuyền, khảo sát
thủy đạc, lập hải đồ; thực hiện dịch vụ kinh tế, thương mại: Dự án khu công nghiệp,
hậu cần sau cảng, dịch vụ tư vấn…
Vai trò, vị trí của cảng biển
Cảng biển là đầu mối trong vận chuyển hàng hóa, hành khách, là hạt nhân
kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu kinh tế
đất nước đặt ra trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.
Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về kinh tế được thực hiện thông qua cả ba
loại cơ quan là cơ quan hành pháp, cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp bằng các
quyền mà luật pháp trao cho mỗi cơ quan.
Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước về kinh tế được hiểu là hoạt động quản lý
kinh tế của cơ quan hành pháp, tức Chính phủ đối với nền kinh tế quốc dân trên cơ
quản các quyền của Chính phủ mà luật pháp trao cho và quốc hội giao nhiệm vụ.[6]
6
Hoạt động quản lý nhà nƣớc về kinh tế có tính chất khoa học vì những
lý do sau:
Hoạt động quản lý của nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí
chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào mà phải dựa trên
các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và dựa trên các quy luật
kinh tế khách quan cũng như tùy thuộc vào tình hình kinh tế cụ thể của mỗi quốc
gia vào từng tình hình quản lý nhất định.
Để quản lý nhà nước về kinh tế đảm bảo tính khoa học và để công tác quản lý
nhà nước về kinh tế có hiệu quả, Nhà nước cần đảm các yếu tố sau:
Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng kết thực tiễn để nhận thức
các nguyên lý trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về kinh tế.
Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của Nhà nước trên thế
giới để đúc rút ra những bài học cho quốc gia.
Nghiên cứu đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn ở mặt
kinh tế-kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý tức là phải giải
quyết tốt vấn đề mà thực tế nền kinh tế đặt ra.
Về phƣơng pháp, Nhà nƣớc thực hiện công tác quản lý nhà nƣớc về kinh
tế thông qua các phƣơng pháp cơ bản là:
dục, có khả năng nhận thức và thay đổi các hoạt động kinh tế của mình theo hướng
tích cực, tuân thủ pháp luật.
Phương pháp giáo dục có thể được thực hiện kết hợp với các phương pháp
quản lý Nhà nước về kinh tế khác một cách uyển chuyển, linh hoạt để tạo nên tác
động quản lý tổng thể hiệu quả lên các đối tượng chịu tác động quản lý Nhà nước về
kinh tế.
1.1.3. Quan niệm, khái niệm về quản lý nhà nước trong phát triển kết cấu hạ
tầng, hạ tầng cảng biển
Xuất phát từ khái niệm quản lý Nhà nước về kinh tế, về cảng biển và hạ tầng
cảng biển, có thể hiểu khái niệm Quản lý nhà nước về hạ tầng và hạ tầng cảng biển
là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền Nhà nước lên các hoạt động của các
tổ chức trong hệ thống hạ tầng nói chung và hạ tầng cảng biển nói riêng nhằm sử dử
dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có để
đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế tại các khu vực cảng biển nhất định nằm
8
trong tổng thể kinh tế quốc gia, trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc
tế.
Công tác quản lý cảng biển được chia làm 2 lĩnh vực: Quản lý Nhà nước cảng
biển và quản lý khai thác cảng biển.
Quản lý Nhà nước cảng biển
Quản lý Nhà nước cảng biển là việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật
quản lý cảng biển và hoạt động tại cảng biển; ban hành chiến lược và chính sách phát
triển cảng biển; lập và công bố quy hoạch phát triển cảng biển, giám sát thực hiện quy
hoạch cảng biển, quản lý việc đầu tư xây dựng phát triển cảng biển.
Quản lý cảng biển còn là ban hành và tổ chức thu các loại phí, lệ phí cảng
biển. Đồng thời, quản lý cảng biển là thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa,
phương tiện tại cảng biển; điều động tàu thuyền ra vào, hoạt động tại cảng biển; thủ
địa phương;
Hai là, định hướng về QLNN trong phát triển kết cấu hạ tầng và hạ tầng cảng
biển qua việc xây dựng và triển khai thực hiện các chiến lược, kế hoạch phát triển
đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở
Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực kết cấu hạ tầng trong
phạm vị cả nước, từng vùng, ngành, từng khu vực, các Bộ quản lý ngành, lĩnh
vựchạ tầng và UBND tỉnh, thành phố phê duyệt các đề án và kế hoạch phát triển kết
cấu hạ tầng của từng lĩnh vực cụ thể.
Việc triển khai thực hiện các quy hoạch, đề án và các chương trình phát triển kinh
tế-xã hội là những công cụ QLNN quan trọng, định hướng các mục tiêu, các chỉ tiêu,
giải pháp tổ chức thực hiện đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội; là cơ sở khoa học
và là cơ sở thực tiễn định hướng mục tiêu, chỉ tiêu của QLNN đối với hệ thống kết cấu
hạ tầng nói chung và hạ tầng cảng biển nói riêng.
Ba là, kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình QLNN trong phát triển kết cấu hạ
tầng và hạ tầng cảng biển: Cơ quan thanh tra, giám sát của các cấp QLNN thực hiện
hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát quá trình phát triển các hình thức, loại hình,
phương thức cảng biển theo phương pháp thanh tra, giám sát tuân thủ trên cơ sở rủi
ro đối với từng hình thức, loại hình, phương thức cảng biển. Nội dung thanh tra,
giám sát bao gồm: Thanh tra việc chấp hành các điều kiện được cấp phép hoạt
động, tuân thủ các quy chế của các doanh nghiệp quản lý và khai thác cảng biển;
10
Thu thập, tổng hợp và xử lý tài liệu, thông tin, dữ liệu theo yêu cầu thanh tra, giám
sát; xem xét, đánh giá mức độ phát triển dịch vụ cảng biển; Kiến nghị cơ quan nhà
nước có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm
pháp luật đáp ứng yêu cầu QLNN đối với kết cấu hạ tầng và hạ tầng cảng biển;
Kiến nghị, yêu cầu các Bộ, ngành có biện pháp hạn chế, giảm thiểu và xử lý rủi ro;
Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền; Kiến nghị cơ quan nhà nước có
nước chi phối, bao gồm cả các hợp tác xã. Nguồn vốn của khu vực này xuất phát từ
người dân Việt Nam, bao gồm cả các tổ chức như Ngân hàng thương mại, quỹ đầu
tư trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước.
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài: (gọi chung là khu vực FDI). Khu vực này
bao gồm các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
doanh nghiệp cổ phần mà hình thức tổ chức và cơ cấu vốn của nó có thể chịu sự chi
phối của yếu tố nhân sự nước ngoài (bao gồm cả các doanh nghiệp cổ phần có vốn
nhà nước nhưng đại diện nhà nước không chiếm vai trò chi phối). Khu vực này
cũng bao gồm các nhà tài trợ quốc tế cho Việt Nam vay vốn, các tổ chức quốc tế
hoạt động tại Việt Nam, các tổ chức phi chính phủ (có thể có pháp nhân đại diện tại
Việt Nam hoặc không).Khu vực này cũng bao gồm các ngân hàng có vốn nước
ngoài, quỹ đầu tư nước ngoài.
Trong lĩnh vực phát triển kết cấu hạ tầng, các khu vực thể chế này tham gia
vào kiến thiết kết cấu hạ tầng tại Việt Nam thông qua các cơ chế, chính sách, luật
pháp Việt Nam cho phép.
Đối với đầu tư phát triển hạ tầng cảng biển ở Việt Nam hiện nay các khu vực
này tham gia dưới các hình thức như sau:
Hạ tầng cảng biển có vai trò rất lớn và tầm quan trọng đối với quốc gia. Trước
đây, do Cục Hàng hải chịu trách nhiệm đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước,
sau khi hình thành công trình cảng biển thì giao cho các công ty kinh doanh dịch vụ
cảng do nhà nước chi phối quản lý (như giao cho Vinalines quản lý, Vinalines tổ
chức hoạt động của mình thành các đơn vị thành viên là các công ty kinh doanh
cảng). Như vậy, khu vực công giữ vai trò chi phối và là khu vực thể chế chính thực
hiện đầu tư xây dựng các cảng biển quan trọng cấp quốc gia.Nguồn vốn nhà nước
cũng là nguồn lực chính trong đầu tư xây dựng các cảng biển này.
12
Từ khi có Luật Đầu tư và Luật doanh nghiệp cùng với chính sách mở cửa của
quốc gia. Đối với các cảng biển đang thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp nhà
nước không phải là các cảng biển quan trọng cấp quốc gia thì thực hiện cổ phần hóa
với tỷ lệ cổ phần phát hành được phép trên 50% và cho phép các nhà đầu tư từ các
khu vực khác nắm quyền chi phối. Sự tham gia của khu vực tư nhân trong nước và
khu vực đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng trong các dự án đầu tư cảng biển cấp địa
phương.
1.1.5 Quan niệm, khái niệm về sự tham gia của khu vực tư trong phát triển kết
cấu hạ tầng nói chung và phát triển hạ tầng cảng biển nói riêng
Đầu tư tư nhân là hình thức cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu tư nhân sử
dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được
lợi ích về kinh tế. Vì doanh nghiệp tư nhân chiếm tỷ trọng gần như toàn bộ trong số
vốn cũng như các dự án đầu tư ( xét trong khu vực đầu tư tư nhân). Vì vậy khi nhắc
đến đầu tư tư nhân là đang nhắc đến đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân kể cả các
doanh nghiệp nước ngoài có chủ sở hữu là tư nhân.
Khu vực tư trong phát triển hạ tầng nói chung và hạ tầng cảng biển nói riêng
cần được xác định dựa trên nguồn gốc vốn của khu vực đó. Một đơn vị được xác
định thuộc khu vực tư khi cấu trúc vốn của họ có dưới 25% vốn nhà nước và đại
diện phần vốn nhà nước tại đơn vị này không định đoạt được tất cả định hướng phát
triển của đơn vị đó, nói cách khác, nhà nước không nắm vai trò chi phối trong hoạt
động của đơn vị. Khu vực tư bao gồm các doanh nghiệp tư nhân có 100% vốn trong
nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp doanh, công ty đại
chúng, công ty có vốn đầu tư nước ngoài…
Sự tham gia của khu vực tư trong phát triển kết cấu hạ tầng nói chung và hạ
tầng cảng biển nói riêng được hiểu là việc các đơn vị thuộc khu vực tư thực hiện
một phần công việc hoặc toàn bộ phần công việc trong quá trình hình thành dự án
phát triển kết cấu hạ tầng bắt đầu từ hoạt động đề xuất ý tưởng của dự án đến thiết
kế dự án (tư vấn thiết kế, thẩm định thiết kế), lấy ý kiến về dự án, tổ chức thực hiện
dự án, giám sát thực hiện dự án, vận hành dự án, bảo đảm hoạt động của công trình
và nên đặc biệt chú ý đến các dự báo về nguồn hàng, nhìn vào tiềm năng phát triển
chân hàng của cảng mà tư vấn thẩm định, bởi yếu tố này sẽ tác động trực tiếp lên
quyết định cấp phép đầu tư cho dự án. Dễ dàng trong cấp phép sẽ dẫn đến cạnh
tranh hạ tầng cảng làm giảm hiệu quả đầu tư chung.
15
Thứ tư, là quản lý hoạt động dịch vụ cảng để tránh các hiện tượng không lành
mạnh như bỏ hàng, chọn hàng, từ chối bốc xếp, thủ tục phức tạp, cạnh tranh không
lành mạnh trong cung cấp dịch vụ cảng.
1.2. Tổng quan các mô hình đầu tƣ có sự tham gia của khu vực tƣ trong phát
triển hạ tầng cảng biển
Đầu tư tư nhân chia sẻ công việc xây dựng cơ sở hạ tầng với đầu tư công. Do
nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một nước thường là rất lớn trong khi
nguồn ngân sách nhà nước lại có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp.
Đồng thời việc chia sẻ công việc xây dựng cơ sở hạ tầng hay còn gọi là việc cùng
hợp tác dưới hình thức PPP đối với các công trình hạ tầng kinh tế xã hội là cần thiết
cho cả khu vực công và khu vực tư nhân.
Hoạt động của cảng biển là hoạt động lưỡng phẩm - tạo ra cả hàng hóa công
cộng và hàng hóa cá nhân. Hàng hóa công gồm các hoạt động như an toàn, an ninh
cảng, vấn đề môi trường và nhập xuất của các đối tượng qua cảng. Hàng hóa cá
nhân như xếp dỡ, kho bãi... tạo ra giá trị qua hoạt động cung cấp dịch vụ.
Bản chất này thu hút cả khu vực tư và khu vực công trong hoạt động phát
triển, cung cấp và quản lý các dịch vụ cảng biển. Khu vực tư quan tâm tới những
dịch vụ trực tiếp tạo ra lợi nhuận thông qua thị trường. Khu vực công quan tâm tới
tác động lan tỏa của phát triển cảng biển tới nền kinh tế. Đặc điểm lưỡng tính của
hoạt động cảng biển làm cho gianh giới giữa khu vực công và khu vực tư trở nên
khó phân định trong quá trình cung cấp các dịch vụ.
Ngoài triết lý đảm bảo dịch vụ công chính phủ tại nhiều quốc gia còn cho rằng
Ngày nay, mô hình cảng dịch vụ công đang có xu hướng chuyển đổi thành mô
hình cảng chủ cảng, để tăng hiệu quả đầu tư, khai thác cảng.
Mô hình cảng công cụ (Tool Port)
Với mô hình cảng công cụ, cảng vụ hay cơ quan có thẩm quyền của cảng sở
hữu, phát triển và duy trì kết cấu hạ tầng và các cấu trúc nổi của cảng (thiết bị xếp
dỡ, cần cẩu, xe nâng...). Nhân lực của cảng vụ vận hàng toàn bộ các trang thiết bị do
cảng làm chủ. Cảng vụ cho phép doanh nghiệp xếp dỡ sử dụng đất và các kiến trúc
nổi của cảng. Hoạt động xếp dỡ trên boong tại cầu tàu do một đơn vị tư nhân được
cấp phép hoạt động. Phân chia chức năng vận hành là vấn đề của quản lý theo mô
hình này. Cảng vụ sở hữu thiết bị xếp dỡ, còn doanh nghiệp tư nhân lại ký hợp đồng
17
xếp dỡ với chủ tàu.Thực tế này dẫn tới nhiều khi doanh nghiệp không đáp ứng được
nhu cầu năng lực của chủ tầu. Từ đó, cảng vụ nhiều khi cho phép doanh nghiệp tự
trang bị thêm phương tiện xếp dỡ. Khi cho phép như vậy, mô hình cảng công cụ dần
chuyển thành mô hình chủ cảng.
Nói chung, mô hình quản lý cảng công cụ gần tương tự mô hình cảng dịch vụ
công ở đặc điểm định hướng khu vực công và rất có ý nghĩa trong quá trình chuyển đổi
sang mô hình chủ cảng, đặc biệt trong điều kiện khu vực tư nhân chưa thực sự tin
tưởng và chấp nhận những rủi ro khi đầu tư kết cấu hạ tầng cảng.
Mô hình chủ cảng (Landlord Port)
Mô hình chủ cảng mang đặc tính kết hợp giữa khu vực công và khu vực tư. Cảng
vụ hay cơ quan thẩm quyền cảng thực hiện chức năng giám sát, giống như chủ cảng.
Hoạt động vận hành cảng (nhất là hoạt động xếp dỡ) do công ty tư nhân thực hiện.
Công ty tư nhân thuê kết cấu hạ tầng cảng. Phí thuê được thanh toán theo diện tích và
trả hàng năm. Giá thuê được xác định trên cơ sở chí phí xây dựng ban đầu của cảng.
Công ty tư nhân tự trang bị các kết cấu nổi, thiết bị máy móc cho hoạt động của mình
(nhà kho, văn phòng, cần cẩu...). Mô hình chủ cảng hiện nay rất phổ biến trên thế giới,
các nguồn đầu vào và đầu ra của các dự án thường thay đổi, các nhà đầu tư gặp khó
khăn rất nhiều về kinh tế nên ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả đầu tư.
Môi trường kinh tế, chính trị khu vực và thế giới không tốt sẽ ảnh hưởng tới sự
phát triển kinh tế - xã hội trong nước, dẫn đến giảm đầu tư và ảnh hưởng đến nhu
cầu sử dụng dịch vụ, trong đó có dịch vụ cảng biển, khu vực tư sẽ rút vốn hoặc
không đầu tư nữa vì sợ rủi ro cao.
Môi trƣờng chính trị, xã hội trong nƣớc
Sự ổn định chính trị, xã hội có ý nghĩa quyết định đến việc huy động và sử dụng
có hiệu quả vốn đầu tư của khu vực tư nhân.Tình hình chính trị không ổn định, đặc biệt
là thể chế chính trị (đi liền với nó là sự thay đổi luật pháp) thì mục tiêu và phương thức
thực hiện mục tiêu cũng thay đổi.Hậu quả là lợi ích của các nhà đầu tư bị giảm, đặc biệt
đối với các nhà đầu tư tư nhân (họ phải gánh chịu một phần hay toàn bộ các thiệt hại
đó) nên lòng tin của các nhà đầu tư bị giảm sút.
Mặt khác, khi tình hình chính trị, xã hội không ổn định, Nhà nước không đủ
khả năng kiểm soát hoạt động của các nhà đầu tư, hậu quả là các nhà đầu tư hoạt
động theo mục đích riêng, không theo định hướng chiến lược phát triển làm ảnh
19
hưởng đến kinh tế -xã hội của đất nước, làm giảm hiệu quả của đầu tư phát triển kết
cấu hạ tầng, trong đó có hạ tầng cảng biển.
Sự ổn định của môi trƣờng kinh tế vĩ mô
Đây là điều kiện tiên quyết của mọi ý định và hành vi đầu tư. Điều này đặc
biệt quan trọng đối với việc huy động và sử dụng vốn đầu tư nói chung và vốn cho
đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nói riêng, trong đó có phát triển hạ tầng cảng biển.
Để thu hút được nguồn vốn của khu tư cho phát triển kết cấu hạ tầng, nền kinh tế
địa phương phải là nơi an toàn cho sự vận động của vốn đầu tư và là nơi có khả
năng sinh lợi cao hơn các nơi khác và các lĩnh vực khác. Sự an toàn (bảo toàn vốn
và sinh lợi nhuận) đòi hỏi môi trường vĩ mô ổn định, hơn nữa phải giữ được môi