LUẬN án TIẾN sĩ KINH tế vấn đề PHÂN CÔNG lại LAO ĐỘNG xã hội TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH cơ cấu KINH tế ở TỈNH TIỀN GIANG - Pdf 39

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Phân công lại lao động xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa nói chung và ở tỉnh
Tiền Giang nói riêng trong thời gian qua, nhất là khi đất nước chuyển sang
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã có những kết quả bước
đầu, song còn nhiều bất cập: tỷ trọng lao động thuần nông, thuần lương
còn cao, nhịp độ phân công lại lao động xã hội trong các ngành, các vùng
và các thành phần kinh tế còn chậm, hiệu quả kinh tế - xã hội của phân
công lại lao động chưa tăng tương xứng với tiềm năng vốn có... Những bất
cập này có phần do điểm xuất phát thấp. Song về mặt chủ quan phải kể
đến do ảnh hưởng trong tư duy và cách làm của mô hình kinh tế chỉ huy
tập trung, quan liêu bao cấp, môi trường thể chế chưa đồng bộ, chậm bổ
sung để hoàn thiện; tổ chức thực tiễn chưa năng động kịp thời trên cả hai
tầm quản lý vĩ mô và vi mô.
Ngày nay, phân công lại lao động xã hội không ngừng diễn ra ngày
càng sâu rộng cùng với sự tiến bộ của khoa học - kỹ thuật và sự phát triển
của lực lượng sản xuất. Vì vậy, việc nghiên cứu sự chuyển biến có tính
quy luật của phân công lao động xã hội để vận dụng phát triển kinh tế cả
nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng là rất cần thiết, có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn hiện nay. Vì lẽ đó, tác giả chọn đề tài: "Vấn đề phân
công lại lao động xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở
tỉnh Tiền Giang” làm luận án tiến sĩ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ này, khái niệm "Phân
công lại lao động xã hội" đã được Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam (khóa

1




- Đề xuất những quan điểm, phương hướng và giải pháp thực hiện
phân công lại lao động xã hội ở Tiền Giang trong những năm tới.
4. Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu của luận án
- Luận án tập trung nghiên cứu vấn đề phân công lại lao động xã
hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và giới hạn trong phạm vi tỉnh Tiền Giang từ 1990 đến nay.
- Luận án đã sử dụng phương pháp duy vật biện chứng mácxít,
phương pháp trừu tượng hóa khoa học, phương pháp lôgíc kết hợp với lịch
sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, khảo
cứu trên cơ sở thu thập có kế thừa và khoa học những thông tin, báo cáo
của địa phương, sách báo và các công trình khoa học đã được nghiên cứu
trước đây; kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để phân tích, làm rõ những
vấn đề có liên quan đến chủ đề của luận án.
5. Đóng góp mới của luận án
- Hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản về phân công lại lao
động xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin, và một số lý thuyết khác làm rõ
tính độc lập tương đối và mối quan hệ giữa phân công lại lao động xã hội
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
- Từ sự phân tích tình hình phân công lao động ở một số nước châu
Á và Việt Nam đã đưa ra những xu hướng phát triển của mô hình phân
công lao động xã hội ở các nước đó, rút ra những bài học kinh nghiệm có ý
nghĩa đối với cả nước nói chung và tỉnh Tiền Giang nói riêng.
- Đã phân tích làm rõ thực trạng phân công lao động xã hội ở tỉnh
Tiền Giang trong những năm vừa qua, đề xuất những phương hướng, giải
pháp cơ bản mang tính khả thi nhằm thúc đẩy việc phân công lại lao động
xã hội trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở tỉnh Tiền Giang trong những


nghiên cứu, gắn với sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa. Các ông cũng đã đề cập vấn đề phân công lại lao động xã hội dưới
chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản như một dự đoán về tương lai.
1.1.1. Kinh tế học mácxít
Khác với các nhà kinh tế học phát triển, trong học thuyết về phân
công lao động xã hội, kinh tế học mácxít không những chỉ rõ bản chất các
điều kiện tiền đề cần thiết mà còn vạch ra khuôn khổ thể chế quyết định sự
thay đổi về chất của cuộc cách mạng công nghiệp, cơ sở của sự phát triển
nền sản xuất tư bản chủ nghĩa. Những tiền đề ấy là:
- Sự tách rời giữa thành thị và nông thôn;
5


- Số lượng dân cư và mật độ dân số;
- Năng suất lao động trong nông nghiệp được nâng cao, đủ để cung
cấp sản phẩm “tất yếu” cho cả những người lao động trong nông nghiệp
lẫn những người lao động thuộc những ngành sản xuất khác.
- Cuối cùng là điều kiện thể chế có ý nghĩa quyết định cuộc cách
mạng công nghiệp trong tư bản chủ nghĩa là sản xuất hàng hóa, là kinh tế
thị trường.
Từ những tiền đề trên, có thể suy ra rằng việc thúc đẩy quá trình
chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động xã hội không thể có
kết quả nếu không tính tới độ chín muồi của những tiền đề này. Nó cũng
hàm ý rằng trong điều kiện cụ thể của mỗi nền kinh tế, độ chín muồi của
từng loại tiền để có thể không giống nhau và con đường để hoàn thiện hay
thay thế những tiền đề nói trên cũng sẽ không giống nhau.
Vì vậy, về mặt phương pháp lôgic và lịch sử, đã đặt ra cho chúng ta
trước khi nghiên cứu khái niệm, nội dung của phân công lao động xã hội
và phân công lại lao động xã hội cần nghiên cứu lược sử ba lần đại phân
công lao động xã hội trong lịch sử phát triển của xã hội loài người.

nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, đã trực tiếp sản xuất ra nhiều sản
phẩm có giá trị trao đổi giữa những người sản xuất cá thể đã trở thành
một việc tất yếu sống còn của xã hội. Sản xuất hàng hóa thị trường, từ đó
được hình thành, cơ sở trao đổi phát triển và thị trường mở rộng đã làm
xuất hiện sự phân công lao động xã hội lớn lần thứ ba - thương nghiệp
tách khỏi sản xuất.
Phân công lao động xã hội lớn lần thứ ba có ý nghĩa quyết định: vì
sự phân công lao động xã hội mới lần này đã nảy sinh ra một tầng lớp
không tham gia sản xuất trực tiếp mà chỉ làm công việc trao đổi sản phẩm
- đó là tầng lớp thương nhân. Cùng với sự tách nghề tiểu thủ công khỏi
nông nghiệp, sự phân công lao động xã hội đã tạo sự đối lập giữa thành thị
và nông thôn, giữa lao động trí óc và lao động chân tay; tạo ra sự phân
7


chia những người sản xuất thành những người điều khiển và những người
thừa hành, phân chia những người sản xuất có quy mô lớn và quy mô nhỏ.
Trong các hình thái xã hội có giai cấp, sự đối lập nói trên càng sâu sắc và
có tính chất đối kháng.
Trải qua ba lần đại phân công lao động xã hội trong lịch sử, cho
thấy mỗi lần phân công lao động xã hội cũ bị hạn chế trong từng bộ phận
hay tách rời thành những ngành mới - cũng là quá trình hình thành
phương thức lao động mới, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển và nâng
cao năng suất lao động xã hội - Vấn đề đặt ra tất yếu phải thay thế sự phân
công lao động xã hội cũ bằng sự phân công lao động xã hội mới - cũng có
nghĩa là tiến hành phân công lại lao động xã hội.
Đến chủ nghĩa tư bản, việc thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự phân công
lao động xã hội. Sản xuất cơ khí ra đời thay cho sản xuất bằng công cụ thủ
công làm cho công nghiệp hoàn toàn tách khỏi nông nghiệp và quyết định
sự phân công hơn nữa trong nội bộ những ngành ấy. Trong nội bộ công

hội và một số khái niệm có liên quan
- Phân công lao động là sự phân chia lao động vào các ngành, các
khu vực, các công đoạn khác nhau của quá trình sản xuất, các hoạt động
kinh tế - xã hội.
Trong giai đoạn đầu của lịch sử, sự phân công lao động còn mang
tính chất tự nhiên:
- Phân công theo tuổi tác, giới tính....; "Và phân công lao động chỉ
trở thành phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành
lao động vật chất và lao động tinh thần" [37, 45]. Sự phân công đó bao
hàm cả sự phân phối lao động và sản phẩm của lao động, mà hình thái đầu
tiên bắt nguồn từ trong gia đình.
Phân công lao động tạo ra khả năng tách rời giữa lợi ích cá nhân cá
biệt hoặc của gia đình cá biệt với lợi ích chung của các cá nhân có liên quan

9


với nhau trong quá trình tham gia vào phân công lao động. Vì ngay khi lao
động bắt đầu được phân công thì mỗi người có một lĩnh vực hoạt động đặc
thù nhất định và gắn chặt với nó. mỗi cá nhân hoàn toàn bị sự phân công
lao động chi phối và do đó mọi người đều phụ thuộc lẫn nhau. Ngay từ đầu
sự phân công lao động đã bao hàm sự phân chia những điều kiện lao động,
công cụ và tư liệu lao động. Do đó, bao hàm cả sự tích lũy tài sản giữa những
người có sở hữu khác nhau, và sự chia cắt giữa tài sản, tư liệu sản xuất và lao
động cũng như giữa những hình thức khác nhau của bản thân chế độ sở hữu.
- Trong phân công lao động cần phân biệt ba cấp độ: phân công
lao động chung, phân công lao động đặc thù và phân công lao động cá biệt.
- Phân công lao động chung bao gồm sự phân chia lao động xã
hội vào những ngành lớn như: Công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Phân
công lao động chung là khái niệm để chỉ sự phân chia lao động của toàn xã

Theo C.Mác và Lênin, cơ cấu của phân công lao động xã hội bao
gồm:
- Phân công lao động chung - theo các ngành lớn.
- Phân công lao động đặc thù - theo nội bộ ngành.
- Phân công lao động theo vùng kinh tế.
Để hiểu đầy đủ hơn khái niệm phân công lao động xã hội, cần làm
rõ những điểm giống nhau chủ yếu giữa sự phân công lao động cá biệt hay
phân công trong nội bộ xí nghiệp và sự phân công lao động xã hội:
Cả hai loại phân công đều biểu hiện sự chuyên môn hóa và hợp tác
hóa trong lao động, điều nói đến sự phát triển của lực lượng sản xuất và
thúc đẩy sự phát triển đó, đương nhiên là với phạm vi và tác dụng khác nhau.
Cả hai loại phân công đều có nguồn gốc tương tự: phân công lao
động xã hội ra đời trên cơ sở hợp nhất nhiều công xã khác nhau trong cùng
một hệ thống kinh tế, hoặc làm tan rã các công xã, biến các thành viên
công xã thành những người sản xuất và trao đổi hàng hóa độc lập; phân
công lao động cá biệt cũng ra đời trên cơ sở hợp nhất hoặc tách các nghề
thủ công trong thời kỳ đầu của chủ nghĩa tư bản.

11


Cả hai loại phân công đều đòi hỏi, phải có những tiền đề vật chất
tương tự. Tiền đề của sự phân công lại lao động xã hội là số lượng nhân
khẩu và mật độ dân số phải phát triển đến một trình độ nhất định. Tiền đề
của sự phân công trong nội bộ xí nghiệp là số lượng công nhân do chủ tư
bản trong xí nghiệp sử dụng cùng một lúc phải tập trung đến một mức độ
thích hợp.
Phân công lao động trong xí nghiệp chỉ có thể thực hiện ở nơi nào
mà phân công lao động xã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định.
Mặt khác sự phát triển của phân công lao động trong xí nghiệp lại làm cho

điểm giống nhau và khác nhau giữa sự phân công lao động xã hội và sự phân
công lao động trong xí nghiệp, C.Mác đã đi đến kết luận: "Trong sự phân
công lao động trong toàn thể xã hội - không kể là nó có được trao đổi hàng
hóa làm môi giới hay không - vẫn thuộc về những hình thái kinh tế-xã hội rất
khác nhau thì sự phân công lao động trong công xưởng là vật sáng tạo hoàn
toàn có tính chất đặc biệt của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa" [37,
521].
Phân công lao động xã hội theo V.I. Lênin là sự phân chia, sự tách
rời nhau giữa các ngành sản xuất trong nền kinh tế. Trong mỗi ngành đó
lại chia ra nhiều ngành nhỏ. Phân công lao động xã hội là nét đặc trưng
của nền sản xuất hàng hóa, phân biệt nền kinh tế hàng hóa với nền kinh tế
tự cấp tự túc.
Quá trình tái sản xuất xã hội như sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu
dùng thì phân công lao động xã hội thuộc phạm trù sản xuất (theo nghĩa
rộng). Vì theo khái niệm trên đã bao hàm sự phân chia lao động và các
điều kiện sản xuất khác nhau trong xã hội. Chính do sự phân công này mới
diễn ra quá trình sản xuất mới. Sản xuất là khởi điểm của quá trình tái sản
xuất. Nếu không có sản xuất thì các quá trình tiếp theo như phân phối, trao
đổi, tiêu dùng không thể có, phân công lao động xã hội thuộc phạm trù sản
xuất nên nó là phạm trù vĩnh viễn. Tuy nhiên, tính chất và hình thức biểu

13


hiện sẽ thay đổi theo những chế độ xã hội khác nhau. Trong chủ nghĩa cộng
sản hình thức phân công lao động xã hội sẽ biểu hiện khác với những xã
hội trước đó. C.Mác còn viết: "Một khi bắt đầu có phân công lao động thì
mỗi người điều có một phạm vi lao động nhất định và độc chuyên mà người
đó buộc phải nhận lấy và không thể thoát khỏi được: người đó là người đi
săn, người đánh cá hoặc người chăn nuôi hoặc là nhà phê phán có tính phê

việc phân công theo ngành, theo sản phẩm đã tiến đến sự phân công theo
chi tiết sản phẩm và theo quy trình công nghệ. Sự phân công lao động
quốc tế càng phát triển càng làm xuất hiện và phát triển các hình thức hợp
tác đa dạng, làm tăng tính phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, khoa học, công
nghệ, môi trường... Nhờ đó mỗi nước có thể phát huy thế mạnh, khắc phục
thế yếu của mình. Quốc tế hóa sản xuất và đời sống còn thể hiện ở sự hình
thành kết cấu hạ tầng và chi phí sản xuất quốc tế.
Nhìn chung, xu hướng quốc tế hóa nền kinh tế gắn liền với sự phân
công lao động quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu và trên quy mô rộng lớn.
Do đó, nền kinh tế các dân tộc có xu hướng ngày càng phụ thuộc vào nhau
và trở thành một bộ phận nằm trong sự phân công lao động quốc tế. Trong
bối cảnh đó, việc tiến hành phân công lại lao động xã hội trong nội bộ nền
kinh tế của mỗi nước trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một tất yếu khách quan.
Có thể hiểu phân công lại lao động xã hội là sự thay đổi trạng thái
phân công lao động xã hội cũ lạc hậu bất hợp lý, hình thành trạng thái
phân công lao động xã hội mới nhằm tạo ra một cơ cấu lao động xã hội
mới, tiến bộ và hợp lý hơn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phân công lao động xã hội và phân
công lại lao động xã hội diễn ra không ngừng gắn liền với sự phát triển và
tiến bộ không ngừng của lực lượng sản xuất và của sự chuyển đổi cơ cấu
kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tính quy luật tỷ
trọng lao động nông nghiệp giảm xuống; còn tỷ trọng lao động công nghiệp
và dịch vụ tăng lên, trong đó tỷ trọng lao động dịch vụ tăng nhanh hơn tỷ
trọng lao động công nghiệp. Sự phân công lại lao động xã hội trong điều
16


kiện cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại thể hiện ở sự tăng nhanh tỷ
trọng lao động trí tuệ so với tỷ trọng lao động chân tay trong tổng lao động

liệu được sử dụng.
Mặt thứ hai, phân công lao động xã hội có liên quan đến đặc trưng
của hình thái kinh tế - xã hội mà trong đó diễn ra sự phân công lao động,
được quy định bởi những quan hệ sản xuất thống trị trong phương thức sản
xuất này hay phương thức sản xuất khác.
Trong thực tiễn đời sống xã hội, hai mặt trên luôn luôn có quan hệ
gắn bó với nhau bởi vì sự phát triển của lực lượng sản xuất bao giờ cũng
diễn ra trong bối cảnh của những quan hệ sản xuất nhất định. Cho nên khi
thực hiện sự phân công lao động xã hội và phân công lại lao động xã hội
dù là của một quốc gia hay của một địa phương bao giờ cũng gắn liền với
sự phát triển của lực lượng sản xuất, của quan hệ sản xuất và cơ cấu kinh
tế.
Các khái niệm có liên quan đến phân công lại lao động xã hội và
mối quan hệ giữa chúng với nhau
Về mặt phương pháp luận muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa phân
công lại lao động xã hội và cơ cấu kinh tế cần xem xét mối liên hệ bản
chất giữa chúng và đặt chúng ở trạng thái vận động theo xu hướng phát
triển có tính quy luật trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động
trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Cơ cấu kinh tế: Đứng trên quan điểm duy vật biện chứng và lý
thuyết hệ thống có thể hiểu cơ cấu kinh tế là một tổng thể các quan hệ
kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, có những mối quan hệ hữu cơ tương
tác với nhau cả về số lượng và chất lượng, diễn ra trong những không gian
và điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể, nhằm thực hiện những mục tiêu nhất
định trong thời kỳ này. Theo quan điểm này cơ cấu kinh tế là một phạm
trù kinh tế không thể thiếu được của mỗi chế độ xã hội.
- Cơ cấu lao động: Là một bộ phận gắn liền với cơ cấu kinh tế vì
lao động là một yếu tố của sản xuất, của nền kinh tế khi chuyển dịch cơ
18




phân công lại trên ba mặt của phân công lao động xã hội: Phân công
ngành, phân công vùng, phân công theo thành phần kinh tế tương ứng với
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Như vậy phân công lại lao động xã
hội vừa là hệ quả vừa là tiền đề của chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Trong thời đại khoa học - kỹ thuật phát triển như vũ bão, xu hướng
có tính quy luật chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế là chuyển dịch
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nghĩa là tỷ trọng và vai trò của
ngành công nghiệp và dịch vụ có xu hướng tăng lên, còn tỷ trọng của
ngành nông nghiệp có xu hướng giảm xuống.
Kinh nghiệm thế giới cho thấy, muốn chuyển từ một nền kinh tế
nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp đều phải trải qua các bước
chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp (tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 40
- 60%; công nghiệp từ 10 - 20%, dịch vụ từ 10 - 30%); sang nền kinh tế
công - nông (tỷ trọng ngành nông nghiệp 15 - 25%, công nghiệp từ 25 35%; dịch vụ từ 40 - 50%) để từ đó chuyển sang nền kinh tế công nghiệp
phát triển (nông nghiệp dưới 10%, công nghiệp: 35 - 40%, dịch vụ: 50 60%). Song song với quá trình chuyển dịch về cơ cấu kinh tế thì cơ cấu lao
động cũng phải chuyển dịch một cách tương ứng cho phù hợp - mà ở đó
đòi hỏi sự phát triển của phân công lại lao động xã hội.
Vì vậy khi nghiên cứu tính tất yếu và nội dung phân công lại lao
động xã hội trong học thuyết mácxít, chúng ta cũng cần nghiên cứu thêm
một số lý luận về kinh tế phát triển mà trong đó vấn đề phân công lại lao
động xã hội đã được các nhà kinh tế học phát triển đề cập đến từ nhiều góc
độ khác nhau và trong một chừng mực nhất định đã có những điểm tương
đồng.
1.1.2. Kinh tế học phát triển
— Kinh tế học thuộc các trào lưu chính cho rằng: Ngày nay, xu

20




gồm công nghiệp chế biến và xây dựng; khu vực thứ ba bao gồm vận tải,
thông tin, thương nghiệp. Theo ông, trong quá trình phát triển, sự tăng
cường sử dụng máy móc, áp dụng các tiến bộ khoa học - kỹ thuật và các
phương thức canh tác mới đã tác động đến sự phân công lại lao động ở
ba khu vực này. Nông dân nâng cao năng suất lao động, để đảm bảo
lương thực, thực phẩm cần thiết cho xã hội thì không cần đến lượng lao
động như cũ và do đó tỷ lệ của lực lượng lao động trong nông nghiệp sẽ
giảm xuống một cách tương đối. Dựa vào các số lượng thống kê đã thu
thập, A. Fisher cho rằng tỷ lệ giảm này có thể từ 30% đối với các nước
chậm phát triển xuống 11-12% ở các nước công nghiệp phát triển và
trong những điều kiện đặc biệt có thể xuống 5%. Ngược lại tỷ lệ lao
động được thu hút vào khu vực hai và khu vực ba ngày càng tăng do tính
co giãn về nhu cầu sản phẩm của hai khu vực này, đặc biệt là đối với khu
vực thứ ba [26, 81-82].
— Lý thuyết nhị nguyên do A.Lewis khởi xướng, ông đã có ý kiến
cụ thể về việc phân công lao động ngành trong quá trình chuyển dịch cơ
cấu theo hướng công nghiệp hóa. Lý thuyết này cho rằng: mối quan hệ
giữa hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp xuất phát từ tư tưởng của
Ricardo, ông lưu ý đến mối quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp
trong việc giải quyết lao động dư thừa ở nông thôn. Việc di chuyển lao
động sẽ làm cho tỷ trọng lao động trong nông nghiệp ngày càng giảm,
nhưng vẫn giữ mức sản lượng lương thực không đổi và còn tăng lên do
năng suất lao động trong nông nghiệp tăng lên, và ông cho rằng để tăng
hiệu quả của sự tác động qua lại giữa hai khu vực cần kết hợp với việc
giảm tốc độ tăng dân số, tạo điều kiện cho sự phân công lao động xã hội
phát triển [26, 87].
— Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế của W.Rostow
Theo W. Rostow, quá trình phát triển kinh tế của một nước có thể

phát triển; Cơ giới hóa trong nông nghiệp đạt năng suất cao. Việc di
chuyển lao động nông nghiệp sang các ngành nghề mới tại nông thôn, tạo
ra nhiều sản phẩm mới và nhu cầu xuất - nhập khẩu tăng mạnh tham gia
vào thị trường quốc tế.
• Giai đoạn mới tiêu dùng cao - Nổi bật ở giai đoạn này là: Thu

23


nhập bình quân đầu người tăng nhanh; cơ cấu lao động có sự chuyển dịch
theo chiều hướng: Tăng tỷ lệ dân cư đô thị và tăng tỷ lệ lao động có trình
độ chuyên môn tay nghề cao; và nhu cầu xã hội tăng cao kích thích các
ngành dịch vụ ra đời và phát triển [26, 85-86].
— Mô hình khu vực của Harry T. Oshima
Các nhà kinh tế châu Á thì cho rằng khi bắt đầu phân công lại lao
động xã hội, năng suất lao động trong nông nghiệp có thể tăng lên đồng
thời với việc giảm tình trạng thiếu việc làm trong thời kỳ nhàn rỗi. Biện
pháp mở rộng quy mô đối với các nông trại, trang trại trong canh tác ở
châu Á là khó khăn vì vậy biện pháp cơ bản là phải tăng vụ và đa dạng
hóa cây trồng và kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi. Do có nhiều việc
làm, thu nhập của người lao động bắt đầu tăng lên, việc đầu tư giống mới, cải
tạo cây trồng, áp dụng khoa học - kỹ thuật và cải tiến công cụ lao động là
một vấn đề tất yếu khách quan. Nhà nước hỗ trợ đầu tư cho nông nghiệp ở
hệ thống thủy lợi, giao thông vận tải nông thôn, hệ thống hóa giáo dục và
điện khí hóa nông thôn; nâng cấp các tổ chức hợp tác xã nông nghiệp, các
tổ chức tín dụng hỗ trợ vốn cho nông dân; các hoạt động dịch vụ phục vụ
nông nghiệp và nông thôn. Tất cả những biện pháp trên phải đồng bộ, bởi
sự đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ lệ không lớn so với công
nghiệp, đòi hỏi cao về vốn, trình độ quản lý, kỹ năng lao động v.v... [26,
102-103].

Các ông (trong đó Ricardo từ đầu thế kỷ XIX) cũng cho rằng các
nước đang phát triển khó có kinh nghiệm áp dụng mô hình tân cổ điển, bởi
vì mô hình này đòi hỏi phải có đầy đủ các nguồn lực đặc biệt là vốn, lao
động có kỹ thuật để tạo ra sự phát triển đồng bộ giữa công nghiệp và nông
nghiệp. Đây là giai đoạn rất khó khăn.
Như vậy, trong lịch sử có rất nhiều lý luận khác nhau về vấn đề
phân công lao động xã hội, mỗi lý luận có những đóng góp mới vào việc
nghiên cứu phân công lại lao động xã hội theo những cách tiếp cận và
quan điểm riêng. Do vậy việc nghiên cứu, vận dụng các lý luận ấy cần
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status