TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
TRUNG TÂM TIÊN TIẾN, CHẤT LƯỢNG CAO & POHE
BẢN THẢO
ĐỀ ÁN MODULE TỔNG QUAN DU LỊCH
Đề tài:
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ CỦA TÀI NGHUYÊN
ĐỂ PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH
LIÊN HỆ VỚI TỈNH QUẢNG NINH
Giảng viên hướng dẫn
Sinh viên thực hiện
Mã sinh viên
Lớp
: PGS. TS. Nguyễn Văn Mạnh
: Cao Thị Hồng Anh
: 11140095
: POHE Quản trị lữ hành K56
Hà Nội - 2016
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Du lịch là ngành công nghiệp không khói, là một bộ phận quan trọng của nền
kinh tế xã hội. Lúc đầu du lịch chỉ là hoạt động bên lề của các hoạt động khác như:
2. Mục tiêu của đề tài
-Nêu những kiến thức về giá trị của tài nguyên.
- Vận dụng kiến thức để liên hệ đánh giá các giá trị tài nguyên để phát triển
du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Ninh và đề xuất các ý kiến.
3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các giá trị tài nguyên để phát triển loại hình du
lịch văn hóa tâm linh tại tỉnh Quảng Ninh.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập tài liệu, xử lí tài liệu
- Phương pháp phân tích, đánh giá
5. Kết cấu của đề tài
Không tính phần mở đầu và kết luận, nội dung đề tài bao gồm:
1. Nhận thức về giá trị tài nguyên để phát triển du lịch.
2. Liên hệ tỉnh Quảng Ninh phát triển du lịch tâm linh dựa trên các
giá trị tài nguyên.
3. Nhận xét và đưa ra kiến nghị.
NỘI DUNG
1. Nhận thức về giá trị của tài nguyên để phát triển du lịch
1.1. Tài nguyên du lịch là gì?
1.1.1. Khái niệm du lịch
Cuộc sống của con người ngày càng hiện đại hơn, con người có thể tìm
được những thông tin muốn tìm chỉ trong giây lát, tốc độ phát triển của khoa
học kĩ thuật khiến cho con người giảm bớt mệt mỏi từ lao động chân tay.
Nhưng vô tình con người đang tự mình rời xa với tự nhiên, đi vào guồng quay
của sự phát triển đó.
Chính vì vậy con người luôn mong muốn được nghỉ ngơi, giải trí để giảm
bớt sự mệt mỏi căng thẳng. Tất cả những nhu cầu đó con người đều tìm thấy trong
thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất những dịch
vụ du lịch và nghỉ ngơi.”
Theo Điều 4, Luật Du lịch của Việt Nam: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạo
của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu
cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du
lịch, đô thị du lịch.”.
Tài nguyên du lịch là một dạng đặc sắc của tài nguyên nói chung. Khái niệm
tài nguyên du lịch luôn gắn liền với khái niệm du lịch.
1.1.3. Đặc điểm tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch cũng giống như các loại tài nguyên khác mang những đặc
điểm chung và những đặc điểm riêng liên quan tới tính chất ngành du lịch. Để khai
thác và sử dụng tốt nhất các tài nguyên du lịch, trước hết cần phải tìm hiểu và
nghiên cứu các đặc điểm nguồn tài nguyên này. Tài nguyên du lịch có những đặc
điểm chính sau:
- Khối lượng các nguồn tài nguyên và diện tích phân bổ các nguồn tài
nguyên là cơ sở cần thiết để xác định khả năng khai thác và tiềm năng của hệ thống
lãnh thổ nghỉ ngơi, du lịch.
- Thời gian khai thác xác định tính mùa của du lịch, nhịp điệu của dòng
khách.
- Tính bất biến về mặt lãnh thổ của đa số các loại tài nguyên tạo nên lực hút
cơ sở hạ tầng và dòng du lịch tới nơi tập trung các loại tài nguyên đó.
- Vốn đầu tư tương đối thấp và giá thành chi phí sản xuất không cao cho
phép xây dựng tương đối nhanh chóng cơ sở hạ tầng và mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cũng như khả năng sử dụng độc lập từng loại tài nguyên.
- Tài nguyên du lịch có khả năng sử dụng nhiều lần nếu tuân theo các qui
định về sử dụng một cách hợp lý, thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ.
1.2. Phân loại tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch có thể do thiên nhiên tạo ra, có thể do con người tạo ra.
nguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các loại tài nguyên nhân văn vật thể như:
các di tích lịch sử, các di tích lịch sử văn hóa, các công trình đương đại, vật kỷ
niệm, bảo vật quốc gia. Tài nguyên du lịch nhân văn phi vật thể gồm các lễ hội,
nghề và làng nghề truyền thống, văn hóa nghệ thuật, văn hóa ẩm thực, phong tục,
tập quán, ngôn ngữ, chữ viết, tôn giáo, các nguồn thông tin và nguồn tri thức khoa
học, kinh nghiệm sản xuất.
*Đặc điểm của tài nguyên du lịch nhân văn
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra nên chịu tác động
của thời gian, thiên nhiên và do chính con người.Vì vậy dễ bị suy thoái,
hủy hoại và không có khả năng tự phục hồi ngay cả khi không có sự tác
động của con người.
Tài nguyên du lịch nhân văn là do con người sáng tạo ra nên có tính phổ biến.
Tài nguyên du lịch nhân văn ở mỗi vùng, mỗi quốc gia thường mang những
đặc sắc riêng.
Tài nguyên du lịch nhân văn thường được phân bố gần các khu dân cư, đặc
biệt tập trung nhiều ở những khu vực đông dân cư.
Giá trị văn hóa, lịch sử, các thành tựu chính trị và kinh tế có ý nghĩa đặc
trưng cho sự phát triển của du lịch của một điểm, một vùng hoặc một đất nước.
Chúng có sức hấp dẫn đặc biệt với số đông khách du lịch với nhiều nhu cầu và mục
đích khác nhau của chuyến du lịch.
1.3. Vai trò của tài nguyên du lịch đối với hoạt động du lịch
Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt. Tài
nguyên du lịch có sự ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du
lịch, đến cấu trúc và chuyên môn hoá của ngành du lịch. Quy mô hoạt động du lịch
của một vùng, một quốc gia được xác định trên cơ sở khối lượng nguồn tài nguyên
du lịch quyết định tính mùa, tính nhịp điệu của dòng khách du lịch. Sức hấp dẫn của
vùng du lịch phụ thuộc nhiều vào tài nguyên du lịch.
Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là tính đến ngày 1-10-1998 là
611.081,3 ha. Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha,
đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha.
2.1.2. Địa hình
80% diện tích Quảng Ninh là địa hình đồi núi, tập trung ở phía Bắc. Một
phần năm diện tích ở phía Đông Nam tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng. Quảng
Ninh còn có rất nhiều đảo ven biển.
Địa hình đáy biển Quảng Ninh không bằng phẳng, độ sâu trung bình là 20 m,
có nhiều lạch sâu làm nơi cư trú của các rạn san hô.
2.1.3. Kinh tế
Quảng Ninh là một trọng điểm kinh tế, một đầu tàu của vùng kinh tế trọng
điểm phía Bắc đồng thời là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của Việt Nam với
di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long đã hai lần được UNESCO công nhận về
giá trị thẩm mĩ và địa chất, địa mạo. Quảng Ninh có nhiều khu kinh tế , Trung tâm
thương mại Móng Cái là đầu mối giao thương giữa hai nước Việt Nam - Trung
Quốc và các nước trong khu vực. Năm 2010, Quảng Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực
cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 7 ở Việt Nam
Quảng Ninh hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
quan trọng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Là một tỉnh có
nguồn tài nguyên khoáng sản (Về trữ lượng than trên toàn Việt Nam thì riêng
Quảng Ninh đã chiếm tới 90%.) nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng, cung cấp
vật tư, nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước và xuất khẩu, đóng góp quan
trọng cho sự phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP của tỉnh Quảng Ninh. Quảng Ninh
với di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long 2 lần được Tổ chức UNESCO tôn
vinh. Với di tích văn hóa Yên Tử, bãi cọc Bạch Đằng, Đền Cửa Ông, Đình Quan
Lạn, Đình Trà Cổ, núi Bài Thơ... thuận lợi cho phát triển du lịch biển, du lịch sinh
thái, du lịch thể thao, du lịch văn hóa tâm linh. Quảng Ninh được xác định là 1 điểm
của vành đai kinh tế Vịnh Bắc Bộ, là cửa ngõ quan trọng của hành lang kinh tế Hà
Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh. Có hệ thống cảng biển, cảng nước sâu có năng lực bốc
truyền thống, trong đó có những di tích nổi tiếng của Quốc gia như chùa Yên Tử
(Uông Bí), đền Cửa Ông (Cẩm Phả), Đình Trà Cổ (Móng Cái), di tích lịch sử Bạch
Đằng (Quảng Yên), chùa Long Tiên(TP Hạ Long ), đình Quan Lạn, chùa Cái Bầu Thiền viện Trúc Lâm Giác Tâm(Vân Đồn). đây là những điểm thu hút khách thập
phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào những dịp lễ hội.
Hồ nước nhân tạo (hồ Yên Lập) - nơi có di tích chùa Lôi Âm.
2.1.5. Giao thông
Hệ thống giao thông của Quảng Ninh rất phong phú bao gồm giao
thông đường bộ, đường sắt, đường biển và cảng hàng không. Trong đó, hệ
thống đường bộ có 5 tuyến Quốc lộ dài 381 km, đường tỉnh có 12 tuyến với
301 km, 764 km đường huyện và 2.500 km đường xã, toàn tỉnh có 16 bến xe trong
đó 6 bến xe liên tỉnh hỗn hợp. Đối với hệ thống đường thuỷ nội địa toàn tỉnh có 96
bến thuỷ nội địa, 5 cảng biển (9 khu bến) thuộc danh mục cảng biển trong Quy
hoạch phát triển cảng biển Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030.
Các cảng biển lớn như Cảng Cái Lân, Cảng Vạn Gia, Cảng Cửa Ông, Cảng Hòn
Nét và Cảng Mũi Chùa. Ngoài ra tỉnh còn có 65 km đường sắt quốc gia thuộc tuyến
Kép - Hạ Long, và hệ thống đường sắt chuyên dùng ngành than. Trong tương lai
gần, tại huyện đảo Vân Đồn sẽ xây dựng cảng hàng không Quảng Ninh (sân bay
Vân Đồn) đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và tham quan du lịch cho người dân
và khánh du lịch tới đây. Quảng Ninh cũng đã và đang phát triển dịch vụ thuỷ phi
cơ cho mục đích di chuyển và ngắm cảnh.
2.2. Tài nguyên du lịch tại tỉnh Quảng Ninh
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
Vịnh Hạ Long một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới (N7W), di sản
thiên nhiên thế giới, có diện tích 1.553 km2 với 1969 đảo. Trong đó khu di sản thế
giới được UNESCO công nhận có diện tích trên 434 km2 với 788 đảo, có giá trị đặc
biệt về văn hoá, thẩm mĩ, địa chất, sinh học và kinh tế. Trên vịnh có nhiều đảo đất,
hang động, bãi tắm, cảnh quan đẹp thuận lợi cho phát triển nhiều điểm, nhiều hình
thức du lịch hấp dẫn. Vịnh Hạ Long cùng với đảo Cát Bà là khu du lịch trọng điểm
hút khách thập phương đến với các loại hình du lịch văn hoá, tôn giáo, nhất là vào
những dịp lễ hội.
2.3. Du lịch tỉnh Quảng Ninh
2.3.1. Tình hình du lịch tỉnh Quảng Ninh
Theo báo cáo của Sở Kế hoạch và Đầu tư, lượt khách du lịch đến với Quảng
Ninh 4 tháng đầu năm ước đạt trên 4 triệu lượt, đạt 54,6% kế hoạch và tăng 9%
cùng kỳ năm 2015. Trong đó, khách quốc tế đạt 1,6 triệu lượt, đạt 53,3% kế hoạch
và tăng 68% cùng kỳ.
Đặc biệt, số lượng khách tham quan Di tích lịch sử- văn hóa như Cụm di tích
Yên Tử, Đền Cửa Ông… là 2.783.000 lượt tăng 119% so với cùng kỳ. Tổng doanh
thu Du lịch quý I- năm 2016 đạt 1.835 tỷ đồng tăng 14% so với năm 2015.
Chỉ tính riêng tháng 4-2016 ước đạt 974.500 lượt khách, tăng 9% cùng kỳ.
Tổng thu từ khách du lịch tháng 4 ước đạt trên 1.200 tỷ đồng, lũy kế 4 tháng đạt gần
5.000 tỷ đồng, đạt 60,6% kế hoạch, tăng 15% cùng kỳ năm 2015.
Đặc biệt, theo thống kê trong dịp nghỉ lễ (tính từ ngày 30-4 đến ngày 3-5),
Quảng Ninh đã đón khoảng 30.000 lượt khách đến tham quan, du lịch; công suất
trung bình các khách sạn trên địa bàn tỉnh đạt 90%, cao điểm nhất là các ngày 30-4,
1-5 đạt gần 70 nghìn lượt khách lưu trú.
2.3.2. Du lịch văn hóa tâm linh tại Quảng Ninh và định hướng phát triển
loại hình du lịch tâm linh của tỉnh.
2.3.2.1. Thực trạng du lịch tâm linh tại tỉnh Quảng Ninh
Toàn bộ giá trị lịch sử - văn hóa trên vùng đất Quảng Ninh được thể hiện
khái quát thông qua hơn 600 di tích lịch sử - văn hóa các loại. Trong đó đặc biệt có
giá trị khai thác phục vụ phát triển du lịch là 4 di tích - danh lam thắng cảnh được
xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt bao gồm: Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long
(thành phố Hạ Long), Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Yên Tử ( thành phố
Uông Bí), Di tích lịch sử Bạch Đằng (thị xã Quảng Yên) và Khu di tích lịch sử văn
hóa nhà Trần tại thị xã Đông Triều.
Gần 1.000 năm trước Yên Tử đã được coi là “Phúc địa” thứ 4 của Việt Nam,
được liệt vào hàng Danh Sơn, chép trong điển thờ. Từ xa xưa, Yên Tử là nơi thu hút
các tín đồ đạo Phật Việt Nam đến dựng am cầu kinh niệm Phật. Nhiều thế hệ tăng ni
phật tử Việt Nam liên tục tìm đến Yên Tử tu hành, xây dựng chùa, tháp và nhiều
công trình khác.
Đặc biệt, từ thời nhà Trần - một triều đại phong kiến huy hoàng thịnh trị ở
Việt Nam đã đầu tư xây dựng Yên Tử thành khu quần thể kiến trúc chùa, tháp có
qui mô lớn. Khởi đầu là Vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) đến Yên Tử tháng 4 năm
Bính Thân (1236).
Yên Tử thực sự nổi tiếng khi Vua Trần Nhân Tông - một ông Vua đang thời
thịnh trị (cuối thế kỷ 13) từ bỏ ngai vàng đến đây tu hành, để tâm nghiên cứu đạo
Phật và lập nên phái Thiền Trúc Lâm (1299), một phái Phật đặc trưng của Việt Nam
bằng hệ thống lý thuyết và hành động gắn đạo với đời. Từ đó, Yên Tử trở thành
kinh đô tư tưởng của Phật giáo Việt Nam, đánh dấu sự phát triển triết học và tư
tưởng của dân tộc Việt Nam đương thời.
Gắn liền với quá trình phát triển dòng thiền Trúc Lâm tại Yên Tử là việc xây
dựng và hình thành một quần thể các công trình kiến trúc gồm 11 chùa và hàng trăm
am, tháp, bia, tượng...
Trong những thế kỷ tiếp theo, các công trình xây dựng tại Yên Tử tiếp
tục được Vua, quan các triều đại phong kiến Việt Nam và nhân dân cả nước
đầu tư tôn tạo, do đó khu di tích Yên Tử vừa là sự kết tinh, vừa là sự hội tụ
của nền văn hoá Việt Nam với nhiều phong cách kiến trúc, điêu khắc của các
thời đại.
Từ thế kỷ 17-18, trên đỉnh núi Yên Tử xuất hiện một ngôi chùa lợp ngói
bằng đồng đã làm tăng thêm sự linh thiêng, huyền bí và sức cuốn hút kỳ diệu của
Yên Tử. Trải qua nhiều đổi thay, chùa cũ được đúc lại đẹp hơn và làm mới hoàn
toàn bằng đồng.
Hàng năm Lễ hội Yên Tử (Hội Xuân Yên Tử) được tổ chức từ ngày mùng 10
hoàng thịnh trị ở Việt Nam trên vùng đất An Sinh (địa danh cổ), hiện nay là huyện
Đông Triều.
Theo lịch sử, những công trình tại đây có quy mô lớn, có giá trị tinh thần, tư
tưởng, văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc đặc sắc, được đánh giá là trung tâm Phật giáo
của Việt Nam, là trung tâm văn hóa, nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu, đặc sắc, duy
nhất, lớn nhất của triều đại nhà Trần.
Hiện nay, quần thể di tích này gồm 14 công trình được quy hoạch trên diện
tích 2.206 ha trong phạm vi nghiên cứu 11.095 ha ( Quyết định số 307/QĐ-TT ngày
07/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ).
Trên cơ sở những yếu tố lịch sử, việc định hướng phát triển quần thể này gắn
bó mật thiết với quần thể di tích danh thắng Yên Tử (thành phố Uông Bí) và di tích
lịch sử Bạch Đằng (thị xã Quảng Yên) trong chương trình du lịch tâm linh - lịch sử
- văn hóa tại miền Tây Quảng Ninh là hoàn toàn phù hợp.
Tuy nhiên, để biến chương trình du lịch nói trên trở thành hiện thực, ngành
du lịch và các doanh nghiệp Quảng Ninh cần phải đầu tư nhiều hơn cho sản phẩm,
giao thông, dịch vụ và con người.
Thực tế hiện nay, ngoại trừ Danh lam thắng cảnh Vịnh Hạ Long và Quần
thể di tích danh thắng Yên Tử đang là tiêu điểm thu hút các đối tượng khách du
lịch trong nước và quốc tế, sức hấp dẫn du lịch của các di tích còn lại chủ yếu
xuất phát từ đặc trưng văn hóa, nhu cầu tâm linh, vị trí địa điểm, cảnh quan, điều
kiện giao thông, quy mô kiến trúc xây dựng và hiệu quả quảng bá của từng di
tích cụ thể.
Theo đó, một xu hướng chung dễ nhận thấy là: Những di tích lịch sử - văn
hóa có cảnh quan đẹp, điều kiện giao thông thuận lợi, được đầu tư quy mô lớn và
được quảng bá giới thiệu tốt thì khả năng thu hút khách du lịch sẽ tốt hơn. Điển
hình là đền Cửa Ông (thành phố Cẩm Phả), chùa Cái Bầu (huyện Vân Đồn), chùa
Long Tiên, đền thờ Đức Ông Trần Quốc Nghiễn (thành phố Hạ Long), chùa Ba
Vàng (thành phố Uông Bí)…Gắn liền với những di tích này là các Lễ hội truyền
nhiều trong loại hình này.
Những năm gần đây, ngành du lịch Quảng Ninh đã kết hợp tổ chức lễ hội với
hoạt động quảng bá du lịch dưới các tên gọi “Lễ hội du lịch Quảng Ninh”, “Lễ hội
Carnaval Hạ Long” thu hút được sự quan tâm của nhiều khách du lịch trong nước
và quốc tế.
Một số dân tộc ít người tại các huyện Hoành Bồ, Bình Liêu, Tiên Yên, Ba
Chẽ, Hải Hà, Đầm Hà cũng có một số lễ hội văn hóa dân gian có đặc trưng riêng
đang được Sở Văn hóa thể thao và du lịch Quảng Ninh nghiên cứu phục dựng. Tuy
nhiên, do quy mô nhỏ nên khả năng khai thác phục vụ du lịch còn rất hạn chế.
Nghệ thuật rối nước:
Có nguồn gốc ở những làng quê thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, đây
là một hình thức nghệ thuật độc đáo của miền Bắc Việt Nam, hiện rối nước được
biểu diễn ở làng quê Yên Đức và thành phố Hạ Long.
Loại hình nghệ thuật này có sức hấp dẫn đối với nhiều thị trường du lịch.
2.3.2.2. Định hướng phát triển du lịch văn hóa tâm linh của tỉnh Quảng Ninh
Các di sản văn hoá vật thể, phi vật thể trên đã, đang và sẽ là nguồn tài
nguyên quan trọng trong phát triển du lịch văn hoá, tâm linh. Để phát huy giá trị các
di sản, Quảng Ninh xác định mục tiêu phát triển du lịch phải gắn với công tác bảo
tồn. Từ đó, thời gian qua, ngành Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã cùng với chính
quyền các địa phương triển khai nhiều biện pháp linh hoạt nhằm tăng cường quản
lý, bảo tồn di tích, ban hành kịp thời nhiều văn bản quy định, hướng dẫn cụ thể việc
tu bổ, tôn tạo các di tích một cách hiệu quả; tuyên truyền nâng cao ý thức trách
nhiệm của người dân trong việc bảo tồn, gìn giữ di sản v.v.. Nhiều địa phương trong
tỉnh đã thực hiện tốt việc xã hội hoá công tác quản lý, bảo tồn di sản. Cùng với
nguồn vốn của nhà nước, vốn huy động từ xã hội hoá đã góp phần đáng kể trong
công tác tu sửa, tôn tạo, bảo tồn các di tích trên địa bàn.
Hiện tại, Quảng Ninh có nhiều di sản văn hoá đã trở thành điểm đến hấp dẫn
của du lịch địa phương. Trong đó nổi bật nhất là di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ
đến Quảng Ninh năm 2020 đạt trên 10,5 triệu lượt, tổng doanh thu trên 30.000
tỷ đồng, đóng góp từ 10 – 15% thu ngân sách địa phương. Tổng mức bán lẻ
hàng hóa đến năm 2020 tăng từ 16 – 18%/năm. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình
quân từ 3 – 5%/ năm.
3. Nhận xét và đưa ra kiến nghị
3.1. Nhận xét của bản thân
Trong cuộc khảo sát thực hiện với 1.050 khách du lịch quốc tế, hơn hai phần
ba số người được hỏi đã chọn các hoạt động văn hóa và lịch sử là một trong tốp ba
hoạt động kỳ nghỉ của họ. Mặc dù sở hữu một loạt các di sản văn hóa - cả di sản vật
thể và phi vật thể - tỉnh Quảng Ninh vẫn chưa phát huy được những tiềm năng đó
cho du lịch, chủ yếu là do sự thiếu sót trong phát triển các điểm du lịch.
Di sản văn hóa vật thể
Khu di tích Yên Tử là một trong những điểm du lịch văn hóa, lịch sử, tâm
linh hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên, Yên Tử hiện nay chủ yếu phục vụ phân
khúc khách du lịch trong nước. Hiện nay có rất ít sự đầu tư nhằm giải thích cho
khách du lịch quốc tế tầm quan trọng của toàn bộ khu di tích và từng khu lăng tẩm,
chùa trong khu di tích. Thêm vào đó, Yên Tử cũng cần phải được đưa vào như một
phần không thể tách rời thương hiệu du lịch của Quảng Ninh nói chung.
Cùng với Yên Tử, Quảng Ninh còn sở hữu một loạt đền thờ và chùa chiền,
tạo nên một mạng lưới các điểm du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh. Những trọng
điểm trong số đó bao gồm: Đền Cửa Ông, Chùa Cái Bầu, Chùa Ba Vàng và Chùa
Lôi Âm. Để làm cho những nơi này hấp dẫn đối với khách du lịch quốc tế, cần phải
có sự đầu tư phát triển sao cho họ dễ dàng tiếp cận, hiểu và tận hưởng những giá trị
của những nơi này.
Di sản văn hóa phi vật thể
Làng văn hóa
Thách thức chủ yếu gắn với sự phát triển làng văn hóa phi vật thể là
thông thường, những nơi được ưu đãi với các nét văn hóa tiêu biểu tạo được
sức hấp dẫn - như người dân ở Yên Đức - thường không biết làm kinh doanh để
• Có biển hiệu tiếng nước ngoài tại các ngôi chùa và đền thờ chính để giải
thích ý nghĩa của những nơi này;
• Bản đồ/sổ tay hướng dẫn du lịch bằng tiếng nước ngoài; và
• Có dịch vụ hướng dẫn viên du lịch hoặc thuyết minh theo hệ thống loa cho
khách du lịch nước ngoài.
Tương tự như với Bảo tàng Khoa học tự nhiên, trong việc phát triển Yên Tử
cho đối tượng khách nước ngoài, Quảng Ninh nên phối hợp với Bảo tàng Phụ nữ
Việt Nam tại Hà Nội để học tập kinh nghiệm nâng cao trải nghiệm cho khách du
lịch, qua đó tăng sự hấp dẫn của bảo tàng..
Một số điểm du lịch văn hóa khác của Quảng Ninh, trong đó có đền Cửa
Ông, chùa Ba Vàng và Chùa Cái Bầu, đều rất hấp dẫn nhưng thiếu tài liệu giới thiệu
bằng ngoại ngữ. Yêu cầu chính đặt ra bao gồm:
• Có biển hiệu tiếng nước ngoài để giải thích ý nghĩa của những nơi này;
• Bản đồ/sổ tay hướng dẫn du lịch bằng tiếng nước ngoài;
• Đảm bảo tiện nghi, bao gồm cả nhà vệ sinh.
3.2.2. Hợp tác với những doanh nghiệp du lịch có kinh nghiệm để phát
triển thêm các điểm du lịch văn hóa
Nhờ có Vịnh Hạ Long, tại Quảng Ninh có rất nhiều doanh nghiệp với kinh
nghiệm phát triển trải nghiệm du lịch cho khách du lịch quốc tế - các công ty tàu du
lịch. Vì vậy, để phát triển các điểm tham quan, Quảng Ninh cần xác định các ngôi
làng và tộc người có tiềm năng du lịch cao và sau đó làm việc với các nhà tàu du
lịch hiện có và các công ty khác có liên quan trong ngành du lịch để phát triển các
sản phẩm này. Những đề xuất cụ thể về các loại làng quê sẽ là lựa chọn tốt phục vụ
phát triển trong tương lai.
3.2.3. Xây dựng một không gian tập trung để thưởng thức ẩm thực
Với vai trò quan trọng của ẩm thực đối với trải nghiệm du lịch Việt Nam,
Quảng Ninh nên tạo thuận lợi cho việc phát triển của một trung tâm ẩm thực, nơi
mà khách du lịch có thể thưởng thức tất cả các món ăn trong vùng. Chính quyền có
Thực hiện khóa luận này em đã giải quyết được một số vấn đề sau:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận chung về tài nguyên du lịch, đặc biệt là tài nguyên
du lịch nhân văn; các vai trò của tài nguyên du lịch nhân văn .
- Đánh giá được thực trạng các giá trị tài nguyên nhân văn của tỉnh bao gồm:
các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội truyền thống, các làng nghề thủ công truyền
thống, nghệ thuật dân gian truyền thống.
- Đánh giá được những hạn chế trong việc sử dụng và khai thác tài nguyên
du lịch nhân văn của tỉnh Quảng Ninh, thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh.
- Đưa ra các giải pháp cho việc sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên du lịch
nhân văn của tỉnh.