ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
PHƢƠNG THỊ THU THỦY
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Hà Nội - 2016
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==================
PHƢƠNG THỊ THU THỦY
TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ
VÀ VẬN DỤNG VÀO VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ CHỦ CHỐT CỦA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
Chƣơng 2. VÂN DỤNG NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN
BỘ CHỦ CHỐT CẤP CƠ SỞ CỦA THÀ NH PHỐ HÀ NỘI .............. 45
2.1. Thực trạng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của thành phố Hà
Nội ở giai đoạn hiện nay .......................................................................... 45
2.1.1. Một vài nét về đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của thành phố Hà
Nội .............................................................................................................. 45
3
2.1.2. Yêu cầu nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt cấp cơ sở của thành
phố Hà Nội ................................................................................................. 59
2.2. Một số giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp
cơ sở của thành phố Hà Nội ở giai đoạn hiện nay ................................. 61
2.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác cán
bộ chủ chốt cấp cơ sở ................................................................................ 61
2.2.2. Xây dựng các tiêu chuẩn về quy hoạch, tuyển chọn và sử dụng cán
bộ cấp cơ sở ............................................................................................... 71
2.2.3. Đổi mới công tác tuyển chọn, đánh giá đối với đội ngũ cán bộ chủ
chố t cấp cơ sở ............................................................................................ 77
2.2.4. Đổi mới chính sách đãi ngộ với cán bộ cấp cơ sở ......................... 80
Tiểu kết chương 2: .................................................................................... 85
KẾT LUẬN ............................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 91
MÔ TẢ VỀ CUỘC ĐIỀU TRA, KHẢO SÁT ........................................... 98
4
LỜI CAM ĐOAN
nên luâ ̣n văn vẫn có thể có thiế u sót . Tôi mong nhâ ̣n đươ ̣c sự góp ý , chỉ bảo
của các thầy cô, bạn bè để luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Phƣơng Thị Thu Thủy
6
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Chƣ̃ viế t tắ t
Chƣ̃ viế t đầ y đủ
BTĐU:
Bí thư đảng ủy
HĐND :
Hô ̣i đồ ng nhân dân
UBND :
Ủy ban nhân dân
CNH
dưỡng, xây dựng đô ̣i ngũ cán bô ̣ nói chung, đô ̣i ngũ cán bô ̣ chủ chố t cấp cơ
sở nói riêng.
Từ khi nước nhà mới thành lâ ̣p , Đảng và Bác Hồ luôn quan tâm đến
công tác cán bộ và khẳng định: Cán bộ là tiền vốn của đoàn thể, cán bộ là
gốc của mọi công việc và cán bộ quyết định tất cả. Vấn đề cán bộ giữ một
vị trí cực kỳ trọng yếu và là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng
cũng như trong sự nghiệp cách mạng của đất nước. Cán bộ là lực lượng
nòng cốt trong bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước, là nhân tố quyết
định thành bại của cách mạng. Sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của
Đảng cao hay thấp, việc tổ chức thực hiện mọi đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước đạt hiệu quả nhiều hay ít đều tuỳ thuộc rất lớn ở chất
lượng của đội ngũ cán bộ, ở trình độ tư tưởng, chính trị và năng lực công
tác của họ.
Cán bộ là khâu quyết định sự thành hay bại của cách mạng
8
, gắ n liề n
với vâ ̣n mê ̣nh của Đảng , của đất nước và chế độ , là khâu then chốt trong
xây dựng Đảng . Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã dày công đào tạo
,
huấ n luyê ̣n, xây dựng đươ ̣c đô ̣i ngũ cán bô ̣ tâ ̣n tu ̣y kiên cường , hoàn thành
xuấ t sắ c nhiê ̣m vu ̣ qua các giai đoa ̣n cách ma ̣ng . Song hiê ̣n nay do các tác
đô ̣ng ngày càng ma ̣nh mẽ của mă ̣t trái kinh tế thi ̣trường dẫn đế n hâ ̣u quả l à
“mô ̣t bô ̣ phâ ̣n không nhỏ” cán bô ̣, đảng viên bi ̣tha hóa về lố i số ng, đa ̣o đức,
phong cách làm suy giảm niề m tin trong nhân dân, một số khác có biểu hiện
xa dân, quan liêu, cửa quyền, lạm quyền đã dẫn đế n chấ t lươ ̣ng cán bô ̣ chưa
công tác cán bộ và vận dụng vào việc nâng cao chất lượng cán bộ chủ
chốt cấp cơ sở của thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn và hướng
nghiên cứu của min
̀ h.
2. Tình hình nghiên cứu
Với sự phát triể n của đấ t nước , trước những đòi hỏi về công tác nhằ m
đáp ứng yêu cầ u phát triể n đấ t nước cũng như hoàn thiê ̣n hơn về cơ cấ u t ổ
chức, các hoạt động, phong cách lañ h đa ̣o; vấ n đề về cán bô ̣ và công tác cán
bô ̣ đươ ̣c nghiên cứu rấ t nhiề u . Đặc biệt là những nghiên cứu vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh về cán bô ̣ và công tác cán bô ̣ đươ ̣c triể n khai và đi vào
thực tiễn , song chưa có mô ̣t công triǹ h nào đi sâu nghiên cứu riên
g về tư
tưởng Hồ Chí Minh về bồ i dưỡng cán bô ̣ , mà chỉ có những công trình về
công tác cán bô ̣ nói chung . Các công trình nghiên cứu của các tác giả được
công bố dưới da ̣ng chuyên đề , luâ ̣n văn tha ̣c si ̃ , các bài đăng trên các sách
báo, tạp chí, kỷ yếu hội thảo khoa học. Đó là nguồ n tư liê ̣u quý báu giúp tôi
kế thừa trong quá trin
̀ h nghiên cứu , hoàn thiện đề tài của mình . Có thể kể
đến những công trình như:
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ của PGS.TS
Bùi Đình Phong, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội, 2002
2. Hồ Chí Minh về vấ n đề đào tạo cán bộ của tác giả Đức Vượng, Nhà
xuấ t bản Chính tri ̣Quố c gia, Hà Nội, 1995
3. Đạo đức, phong cách, lề lố i làm viê ̣c của cán bộ , công chức theo tư
tưởng Hồ Chí Minh của ban tổ chức cán bộ Chính Phủ, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1998.
4. Tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ chuyên đề khoa ho ̣c cấ p nhà nước
KX.02, chủ nhiệm đề tài: GS. Đặng Xuân Kỳ;
công tác cán bộ để xây dựng đội ngũ cán bộ ở quận Tân Bình thành phố Hồ
Chí Minh của tác giả Phạm Xuân Diệu, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2002; Tư tưởng Hồ Chí Minh với viê ̣c xây dựng đạo đức cách mạng
cho cán bộ đảng viên, binh chủng pháo binh. LVCN chuyên ngành tư tưởng
Hồ Chí Minh , Nguyễn Khắ c Hoan , Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí
Minh, 2002; Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đạo đức của
11
người cán bộ đảng viên. Nâng cao đạo đức cách mạng của cán bộ đan̉ g viên
ở nước ta hiện nay , LVCN chuyên nghành tư tưởng Hồ Chí Minh , Hoàng
Triê ̣u Quan, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; Nâng cao vai
trò đội ngũ cán bộ chủ trì công tác của Đảng , công tác chính tri ̣ của đơn vi ̣
cơ sở trong quân đội nhân dân Viê ̣t Nam hiê ̣n nay theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, LVCN chuyên nghành tư tưởng Hồ Chí Minh , Nguyễn Văn Lương ,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; Vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh để xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt ở tỉnh Thừa Thiên Huế hiện nay,
LVCN chuyên nghành Hồ Chí Minh , Nguyễn Thanh Thiê ̣t, Học viện Chính
trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2002; Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục
đào tạo , LVCN chuyên nghành tư tưởng Hồ Chí Minh, Nguyễn Duy Tráng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004.
Các công trình nghiên cứu trên đã đi sâu phân tích tư tưởng Hồ Chí
Minh về cán bô ̣ và công tác cán bô ̣ dưới nhiề u góc đô ̣ khác nhau như vấ n đề
rèn luyê ̣n đa ̣o đức , năng lực của cán bô ̣, mô ̣t số nô ̣i dung quan tro ̣ng của tư
tưởng Hồ Chí Minh về đổ i mới phương thức lañ h đa ̣o và phong cách công
tác của đội ngũ cán bộ … song có thể nói chưa có nhiề u công trình nào đi sâu
nghiên cứu vâ ̣n du ̣ng tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dưỡng cán bô ̣ , nhấ t là
viê ̣c giáo du ̣c bồ i dưỡng cho đô ̣i ngũ cán bô ̣ mô ̣t cách có hê ̣ thố n,gvì vậy trên
cơ sở kế thừa có cho ̣n lo ̣c các kế t quả nghiên cứu đã đươ ̣c công bố , tác giả
luận văn hy vo ̣ng sẽ góp phầ n làm sáng tỏ thêm tư tưởng Hồ C hí Minh về
văn này, tôi chỉ nghiên cứu mô ̣t số nô ̣i dung chủ yế u trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về công tác cán bô ̣ làm cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng đội
ngũ cán bộ hiện nay và đề xuất những kiế n nghi ̣nhằ m nâng cao hơn nữa
chấ t lươ ̣ng của đô ̣i ngũ cán bô ̣ chủ chố t cấp cơ sở của thành phố Hà Nội nói
riêng và của đấ t nước nói chung.
Vì năng lực có hạn nên trong giới hạn luận văn chỉ nghiên cứu đô ̣i ngũ
cán bộ chủ chốt c ấp cơ sở (xã, phường, thị trấn) của thành phố Hà Nội chỉ
xét đến các chức danh lãnh đạo chủ chốt: Bí thư; chủ tịch UBND; chủ tịch
HĐND.
13
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các văn kiê ̣n của
Đảng cô ̣ng sản Viê ̣t Nam . Tác giả cũng có sử dụng những thành tựu đã có
của các công trình đi trước trong việc phân tích cơ sở lý luận chung.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp: phân tích - tổng hợp, lịch sử, thố ng
kê, phương pháp điề u tra xã hô ̣i ho ̣c , đối chiếu so sánh và các phương pháp
khác.
6. Đóng góp của luận văn
Góp phần làm rõ thêm tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bô ̣ và công tác cán
bô ̣. Trên cơ sở đánh giá thực tra ̣ng công tác của đô ̣i ngũ cán bô ̣ chủ chố t cấp
cơ sở của Thành phố Hà Nội để đưa ra mô ̣t số kiế n nghi ̣nhằ m nâng cao hơn
nữa chấ t lươ ̣ng công tác của đô ̣i ngũ cán bô chủ
chốt cấp cơ sở của thành phố
̣
Hà Nội hiện nay.
7. Ý nghĩa của luận văn
tốt hoặc kém” [27, tr240]. Nếu có cán bộ tốt, cán bộ ngang tầm thì việc xây
dựng đường lối sẽ đúng đắn và là điều kiện tiên quyết để đưa sự nghiệp
cách mạng đi đến bước phát triển. Hồ Chí Minh chỉ ra rằng cán bộ là cái
dây chuyền của bộ máy, nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì dù động
cơ, máy móc có tốt đến đâu cũng không thể hoạt động được. Cán bộ là cầu
nối giữa Đảng và nhân dân.
Theo Hồ Chí Minh, “Cán bộ là những người đem chính sách của
Đảng, của chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành. Đồng thời
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho chính phủ hiểu rõ, để
đặt chính sách cho đúng” [24, tr118]
15
Như vậy, trong quan niệm của Hồ chí Minh thì cán bộ là người làm
việc, là người kết nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người trực tiếp
phục vụ nhân dân. Ngoài ra, có một số quan niệm về cán bộ được chấp
nhận, như:
Trong từ điển tiếng Việt, cán bộ được định nghĩa là: “Người làm công
tác nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, Đảng và đoàn thể.
Người làm công tác có chứa chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức phân
biệt với người không có chức vụ”.
Theo luâ ̣t cán bô ̣ công chức 2008, Cán bộ là “công dân Việt Nam,
được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ
trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước.”
Hệ thống hành chính của nước ta hiện nay, chia theo chiều ngang
gồm 4 cấp: Cấp trung ương, Cấp tỉnh – thành phố trực thuộc Trưng ương
(gọi trung là cấp tỉnh), Cấp huyện, quận, thị xã, các thành phố trực thuộc
- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị
trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân
Việt Nam);
- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
Cán bộ cấp cơ sở (Xã, Phường, Thị trấn) là công dân Việt Nam, được
bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân
gồm có Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân
dân, Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân; những người đứng đầu tổ
chức chính trị - xã hội và những công chức được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân, trong biên chế hoặc
17
được giao nhiệm vụ cụ thể và được hưởng lương hoặc trợ cấp từ ngân sách
nhà nước và ngân sách địa phương.
Cán bộ cấp cơ sở có quan hệ trực tiếp, gắn bó thường xuyên với dân,
sống và làm việc trong cộng đồng dân cư. Do đó, người cán bộ cấp cơ sở
luôn luôn phải tận tâm, tận lực vì dân, phải “thực sự óc nghĩ, mắt nhìn, tai
nghe, miệng nói, chân đi, tay làm”, biết vận động nhân dân cho đúng và cho
khéo” và phải gương mẫu “nói đi đôi với làm”.
Ngoài những yêu cầu chung về phẩm chất năng lực đối với cán bộ
các cấp, cấp cơ sở cũng có những yêu cầu cụ thể, những vấn đề cụ thể khác
nhau. Đối với cán bộ cấp cơ sở cần chú ý đến năng lực quản lý nhà nước,
tránh chủ nghĩa kinh nghiệm cũng như những lợi ích riêng của dòng họ, gia
đình. Họ cần giải quyết đúng quan hệ lợi ích cộng đồng và lợi ích dòng họ,
thôn xóm, gia đình; phải là người đại diện cho lợi ích chung của toàn thể
nhân dân chứ không thể dùng quyền thế để mang lại lợi ích cho thiểu số
dòng họ hay nhóm cá nhân có quan hệ mật thiết với mình, cần đấu tranh
mạnh mẽ với tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ”. Đối với cán
nước và đoàn thể quần chúng mà trước hết là các cấp ủy đảng; nhằm xây
dựng đội ngũ cán bộ đủ đức đủ tài, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách
mạng, xứng đáng là lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Đó là hệ thống những khâu, những mắt xích có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Tư tưởng Hồ chí Minh về công tác cán bộ có giá trị lý luận và thực tiễn to
lớn, bởi trong đó là kết tinh của tinh hoa triết học phương Đông và phương
Tây, của triết học chính trị Mác – Lênin, đặc biệt là sự đúc kết kinh nghiệm
thực tiễn trong quá trình gây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ cách mạng.
Trong vấn đề công tác cán bộ, theo tư tưởng Hồ Chí Minh có nhi ều công
việc như: xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, quy hoạch cán bộ; đào tạo bồi dưỡng
cán bộ; nhận xét đánh giá cán bộ; luân chuyển cán bộ; Nhân dân tham gia
xây dựng và giám sát cán bộ; chính sách cán bộ…
19
1.1.2.1. Tiêu chuẩn cán bộ
Người cán bộ là người kết nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là
người đem đường lối chính sách giúp nhân dân hiểu và thực thi. Để có được
người cán bộ có khả năng làm tốt vai trò vừa là cầu nối, vừa là người dẫn
đường thì cán bộ phải có những tiêu chuẩn nhất định.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra những tiêu chuẩn phẩm chất cần có của đội ngũ
cán bộ:
Thứ nhất, cán bộ là những người có đạo đức cách mạng, là Nhân,
Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm. Đức Nhân, trong chủ tịch Hồ chí Minh chính là cái
tình, sự yêu thương tha thiết cho mỗi người dân đất Việt, tình thương bao la
ấy không có chút tư lợi cá nhân, không một chút tính toán, Bác chính là một
tấm gương như thế: “tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm
sao cho nhân dân được tự do, dân tộc tôi được độc lập, ai cũng có cơm ăn
áo mặc, ai cũng được học hành” (di chúc). Nhân chính là thật thà yêu
thương, hết lòng giúp đơc đồng chí và đồng bào một cách vô tư; Nghĩa là
định có sáng kiến, nhất định làm được những việc có lợi cho nhân dân. Đó
là những người cán bộ hết lòng vì nhân dân, không tư lợi.
Thứ ba của người cán bộ tốt là phải hoàn thành nhiệm vụ thực tế. trong
thực tế có thể có người đã hoàn thành nhiệm vụ xong chưa chắc đã đủ độ tin
cậy về chính trị. Thực tế trong các nhiệm vụ được hoàn thành ấy, có thể có
nơi, có người còn có mục đích chính trị khác, như để thăng tiến, leo cao…
Tuy nhiên, cách xem xét kết quả hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ cho đến
nay vẫn là phương pháp tối ưu nhất, tuy nhiên, bên cạnh đó cần chú ý đến
những yếu tố bên cạnh khác. Để có cách nhìn của Hồ Chí Minh về cán bộ
thể hiện:
“Ai mà hay khoe khoang công việc, hay a dua, tìm việc nhỏ mà làm,
trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh, hay công kích
người khác, hau tự tang bốc mình, những người như thế tuy họ làm được
việc, cũng không phải cán bộ tốt.
Ai cứ cắm đầu làm việc, không ham khoe khoang, ăn nói ngay thẳng,
21
không che dấu khuyết điểm của mình, không ham làm việc dễ, tránh việc
khó, bap giờ cũng kiên quyết làm theo mệnh lệnh của Đảng, vô luận hoàn
cảnh thế nào lòng họ cũng không thay đổi, những người như thế, dù có công
tác kém một chút cũng là cán bộ tốt” [29, tr278].
Hồ Chí Minh luôn yêu cầu người cán bộ phải tự học tập lý luận, năng
lực hoạt động thực tiễn. Người cán bộ phải nói được làm được và biết tổng
kết rút kinh nghiệm. Hồ Chí Minh cho rằng nếu người cán bộ mà nói được
trước nhân dân, phát biểu được suy nghĩ của mình trước quần chúng thì có
nghĩa là người đó đã hiểu lý luận, đem lý luận thấm vào trí óc để từ đó
truyền lan cho quần chúng, để quần chúng nhân dân hiểu, tin tưởng và giúp
họ hành động đúng. Người cán bộ phải nói đi đôi với làm, bởi nói xong thì
phải thực nghiệm ngay bằng hành động, chứng minh được lời mình đã nói
tụ đầy đủ phương cách xem xét, đánh giá cán bộ. Người cán bộ tốt phải hội
tụ đầy đủ các tiêu chuần về đức về tài, là người hoàn thành các nhiệm vụ
được giao và có phong cách làm việc khoa học, là những người phục vụ
nhân dân mà không tư lợi cá nhân, không vì mục đích riêng, làm việc vô tư,
khách quan, cọi trọng quyền lợi của nhân dân.
1.1.2.2. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
Trong công tác cán bô ̣ , Hồ Chí Minh rấ t coi tro ̣ng v ấn đề đào tạo, bồ i
dưỡng cán bô ̣ : nế u như “cán bô ̣ là gố c của mo ̣i công viê ̣c thì “huấ n luyê ̣n
cán bộ là công việc gốc của Đảng” Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng phải
nuôi da ̣y cán bô ̣ như người làm vườn vun trồ ng những cây cố i quý báu” [65,
tr13] phải trọng nhân tài, trọng cán bộ trong mỗi một người có ích cho công
viê ̣c chung của chúng ta.
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phải có chương trình thực tế,
thiết thực, tránh lan man, không thực tế, học rồi không dùng được. Huấn
luyện, đào tạo – bồi dưỡng là khâu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng,
trình độ của cán bộ. Hồ Chí Minh chỉ thị học lý luận phải gắn với thực tiễn,
tránh đào tạo chung chung. Thực tiễn không ngừng biến đổi, do vậy lý luận
23
cũng phải được bổ sung phát triển, vì thế cán bộ phải không ngừng học tập
nghiên cứu để nâng cao trình độ, thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.
Theo Hồ Chí Minh, học tập là rất quan trọng, muốn trở thành người
cán bộ thì phải học: học để làm việc, làm người, làm cán bộ. “Thành tài
chưa chắc đã thành nhân”, vì vậy, trước khi học để trở thành cán bộ thì phải
học làm người.
Theo Hồ Chí Minh “làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội
mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ nặng nề,
một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh
cách mạng của đất nước ta. Đó cũng là lý luận thiết thực, chỉ đạo, và hành
động. Việc hiểu biết lý luận không phải chỉ để nói cho hay, để khuất phục
mọi người, mà phải biết dùng lý luận để có “tinh thần xử trí mọi công việc
đối với mọi ngươi, đối với chính mình” [39, tr97]. Nhưng chỉ dừng lại ở
việc học lý luận thôi thì chưa đủ, người cán bộ phải có đồng thời cả lý luận
và kiến thức chuyên môn tốt, cũng cần phải đem lý luận và kiến thức của
mình áp dụng vào thực tiễn công tác, có như vậy mới tránh được bệnh lý
luận suông, bệnh kinh nghiệm và coi thường lý luận.
Hồ Chí Minh còn quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng thêm cho
những người có học vấn thấp. Ngoài việc tổ chức, thủ trưởng tạo cơ hội học
tập cho mỗi cán bộ thì bản thân người cán bộ cũng cần tự học. Người nêu:
“Học để làm gì? Học để sửa chữa tư tưởng” “để tu dưỡng đạo đức cách
mạng” “để tin tưởng” “học để hành” và có chỉ dẫn địa chỉ để học: “học ở
trưởng, học ở sách vở, học ở lẫn nhau, và học nhân dân, không học nhân dân
là một thiếu sót rất lớn” [39, tr64].
Học từ thực tiễn sẽ đa dạng và tốt hơn rất nhiều. học gì cũng phải thiết
thực với công việc, ý thức tự học tự rút kinh nghiệm là rất quan trọng: “lấy
tự học làm nòng cốt. Do thảo luận và chỉ đạo giúp vào” [30, tr237].
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, những quan điểm của Hồ
Chí Minh được GS.TS Mạch Quang Thắng tổng kết trong bài viết: “Tư
25