VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƢƠNG THỊ MAI
§éNG Tõ TIÕNG NHËT- NH÷NG §ÆC TR¦NG
NG÷ NGHÜA, NG÷ DôNG THÓ HIÖN QUA C¸C
T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA NATSUME SOUSEKI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI-2016
VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
TRNG TH MAI
ĐộNG Từ TIếNG NHậT- NHữNG ĐặC TRƯNG
NGữ NGHĩA, NGữ DụNG THể HIệN QUA CáC
TáC PHẩM TIÊU BIểU CủA NATSUME SOUSEKI
Chuyờn ngnh : Ngụn ng hc
Mó s
: 62 22 02 40
LUN N TIN S NGễN NG HC
NGI HNG DN KHOA HC:
PGS.TS Trn Th Chung Ton
3.2. Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ qua khảo sát một số động từ đồng nghĩa .. 80
Chương 4: ĐẶC TRƯNG NGỮ DỤNG CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG NHẬT,
ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ CỦA N.SOUSEKI VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG
TRONG GIẢNG DẠY ................................................................................. 100
4.1. Hoạt động của một số động từ ngữ vi tiêu biểu ..................................... 100
4.2. Vai trò tạo liên kết và mạch lạc về tiêu điểm phát ngôn từ sự đối ứng nội
động - ngoại động ................................................................................................ 107
4.3. Dạng hoạt động của động từ - yếu tố góp phần chỉ xuất mối quan hệ và tính
cách của các nhân vật giao tiếp. ........................................................................... 118
4.4. Đặc trưng ngôn từ của N. Souseki qua cách sử dụng động từ ................... 134
4.5. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy tiếng Nhật................... 143
KẾT LUẬN ................................................................................................... 149
ii
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN
QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ................................................................. 150
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 152
PHỤ LỤC ...................................................................................................... 162
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BTNV:
Biểu thức ngữ vi
Natsume Souseki
Botchan:
Botchan (Cậu ấm ngây thơ)
Kokoro :
Kokoro (Nỗi lòng)
Sorekara :
Sorekara (Từ đó)
Waga:
Wagahai wa neko de aru (Tôi là mèo)
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Tên bảng, biểu
Trang
Bảng 1.1: Thời của động từ tiếng Nhật
17
Bảng 2.6: Kết quả thống kê động từ thuần Nhật theo tiêu chí nội động - ngoại động
54
Bảng 2.7: Các cặp động từ đối ứng tiêu biểu
Bảng 3.1 : Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ suru
Bảng 3.2 : Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ aru
Bảng 3.3: Đặc điểm cấu trúc tham tố của động từ iu
Bảng 3.4: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của suru, okonau, yaru
Bảng 3.5: Đặc điểm danh từ làm thành vai đối tượng cho suru, yaru, okonau khi
chúng cùng thể hiện ý nghĩa “làm, thực hiện hành hoạt động gì”
Bảng 3.6: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của iu, hanasu, shaberu, kataru
58
64
74
78
81
82
85
Bảng 3.7: Kết quả khảo sát tham tố đối tượng, tiếp thể của iu, hanasu, shaberu,
kataru
87
Bảng 3.8: Bảng đối chiếu nghĩa từ điển của omou và kangaeru
92
Bảng 3.9: Cấu trúc sử dụng của omou và kangaeru trong ngữ liệu
92
Biểu đồ 2.1. Cấu tạo của động từ ghép thuần Nhật
N.Souseki được đánh giá là một trong ba trụ cột của văn học Nhật Bản hiện đại
[31]. Các tiểu thuyết của ông đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Nga,
tiếng Việt và nhiều thứ tiếng khác. Chúng hiện vẫn đang được người dân Nhật Bản
đọc và cảm nhận với sự hứng khởi mới như “Wagahai wa nekodearu (Tôi là mèo)”
(1905), “Botchan (Cậu ấm ngây thơ)” (1907), “Sanshiro (Chàng trai Sanshiro)”
(1908), “Kokoro (Nỗi l ng)” (1909), “Sorekara (Từ đó)” (1909), “Michikusa (Cỏ
1
Là một trong những nhà văn lớn nhất của Nhật thế kỷ XX. Ông đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1994 và là
tác giả của hơn 20 tiểu thuyết cũng như nhiều tập truyện ngắn.
1
ven đường)” (1915)... Cái tên N.Souseki thường được nhắc tới khi nói về văn học
Nhật Bản và được đưa vào trong chương trình giảng dạy môn Ngữ văn ở các
trường phổ thông của Nhật. N.Souseki cũng là một trong những tác giả được giới
thiệu trong chương trình trích giảng văn học Nhật Bản cho sinh viên chuyên ngành
tiếng Nhật tại trường Đại học Hà Nội.
Mặt khác, từ góc độ ngôn ngữ học, có thể thấy rằng động từ (ĐT) là một từ
loại quan trọng trong mọi ngôn ngữ. Đây là từ loại thực từ cực kì phức tạp xét trên
phương diện ngữ pháp cũng như ngữ nghĩa. “Tính phức tạp ấy có nguồn gốc ở bản
chất nghĩa của từ loại này là nó chỉ ra đặc trưng vận động của tất cả những gì biểu
đạt bằng danh từ với tất cả sự đa dạng và các mối liên hệ khách quan của nó”
[14;131]. Trong tiếng Nhật, ĐT được sử dụng rộng rãi trong hoạt động ngôn ngữ
đến mức có thể cho rằng “các suy nghĩ, phát kiến mang đặc thù của tiếng Nhật
phần lớn đều nhờ vào sự trợ giúp của động từ” [dẫn theo 39;1].
Với những nhận xét trên đây, có thể cho rằng nghiên cứu về ĐT trong tiếng
Nhật sẽ cho ta thấy được nhiều đặc trưng của tiếng Nhật nói riêng và đặc trưng
trong tư duy, suy nghĩ của người Nhật nói chung. Bên cạnh đó, có thể thấy rằng có
với một ĐT khác và mất đi ý nghĩa vốn có của nó, thay vào đó, chúng lại biểu đạt
một ý nghĩa trừu tượng hay ý nghĩa ngữ pháp nào đó của hành động [175]. Ví dụ,
iru có nghĩa cơ bản là “chỉ sự tồn tại của người, động vật” nhưng trong sự kết hợp
với một ĐT khác ở dạng te (như tabe-te), nó mất đi ý nghĩa cơ bản này mà biểu hiện ý
nghĩa thể của hành động là sự tiếp diễn (khi đó, tabete iru có nghĩa là “đang ăn”).
0.3. Mục đích nghiên cứu
Luận án được thực hiện với các mục đích chính sau đây:
1) Làm sáng tỏ thêm những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT tiếng Nhật
qua một nguồn ngữ liệu cụ thể.
2) Chỉ ra một số đặc điểm về ngôn từ của N.Souseki qua cách sử dụng ĐT.
3) Bổ sung những tư liệu cụ thể hữu ích cho công tác giảng dạy tiếng Nhật và
trích giảng văn học Nhật Bản tại Việt Nam.
0.4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Các mục đích nghiên cứu của luận án được cụ thể thành những nhiệm vụ
nghiên cứu sau:
- Khái quát và hệ thống hoá những cơ sở lí thuyết phục vụ cho nghiên cứu.
- Tiến hành thống kê, phân tích để làm sáng tỏ thực tế của ĐT về mặt số
lượng, chủng loại, tần suất theo các tiêu chí phân loại được áp dụng trong luận án,
3
từ đó chỉ ra bức tranh toàn cảnh về các ĐT được sử dụng trong các tác phẩm nổi tiếng
của N.Souseki, liên hệ tới đặc trưng ngôn ngữ của tác giả.
- Khảo sát ý nghĩa và cách dùng cũng như hoạt động của các ĐT trong hành
chức qua các ngữ cảnh trên cơ sở các lí thuyết đã nêu. Từ đó phân tích để làm rõ
những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT.
- Chỉ ra những nét độc đáo trong cách sử dụng ĐT của nhà văn cũng như một
quả nghiên cứu vào thực tế giảng dạy tiếng Nhật.
0.6. Tƣ liệu nghiên cứu
Theo thống kê, N.Souseki đã viết khoảng 14 tiểu thuyết gồm truyện vừa
(khoảng 100 trang) và truyện dài (khoảng 450 trang), 10 truyện ngắn. Ngoài ra,
ông còn để lại các tác phẩm lí luận và bình luận văn học, tùy bút, nhật kí, kí sự, thơ
haiku2, thơ mới. Trong luận án này, chúng tôi lựa chọn thống kê ĐT trong một số
tiểu thuyết tiêu biểu cho hai thời kì sáng tác của ông: thời kì đầu mang tính hài
hước và triết lí cao sang, thời kì sau mang tính triết lí phê phán cái tôi cá nhân
trong xã hội Âu hoá thời cận đại ở Nhật Bản. Cụ thể là bốn tiểu thuyết “Wagahai
wa nekode aru” (Tôi là mèo, 1905), “Botchan” (Cậu ấm ngây thơ, 1907),
“Sorekara” (Từ đó, 1909), và “Kokoro” (Nỗi lòng, 1914). Phụ lục 1 của luận án là
phần nội dung tóm tắt các tiểu thuyết này. Trong đó, “Tôi là mèo” và “Botchan”
là hai tác phẩm được đánh giá là tiêu biểu nhất cho phong cách hài hước với triết lí
cao sang, “Từ đó” và “Nỗi l ng” là hai tác phẩm tiêu biểu cho các sáng tác sau này
với chủ đề phê phán chủ nghĩa cá nhân. Bản điện tử các tác phẩm trên được lấy từ
trang web hỗ trợ việc tìm đọc các tác phẩm văn học cổ điển của Nhật:
htttp://www.Aozora.gr.jp. Sau khi lưu dữ liệu bằng phần mềm Microsoft Word,
chúng tôi chọn khảo sát văn bản theo cách: khảo sát ít nhất 100 trang cho mỗi tác
phẩm, các trang khảo sát được phân bố đều theo các chương để tạo mạch liên kết
cho việc phân tích.
Trong quá trình phân tích ngữ liệu, chúng tôi chủ yếu sử dụng phần dịch tiếng
Việt trích từ các bản dịch đã được công bố của các tác phẩm. Đó là bản dịch “Cậu
ấm ngây thơ” (Botchan) của Nguyễn Thị Loan, “Nỗi l ng” (Kokoro) của Đỗ
Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh. Tuy nhiên, hai tác phẩm “Wagahai wa neko
de aru” và “Sorekara” hiện chưa có các bản dịch sang tiếng Việt nên phần dịch
tiếng Việt cho các ví dụ trích từ hai tác phẩm này là do chúng tôi thực hiện.
2
phân tích hoạt động của ĐT từ bình diện ngữ dụng phục vụ cho việc đọc và lí
giải tác phẩm văn học Nhật Bản.
0.8. Bố cục của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận án gồm 4 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lí thuyết liên quan
đến nội dung nghiên cứu
6
- Điểm lại các nghiên cứu về ngôn ngữ của N.Souseki, các nghiên cứu về ĐT
tiếng Nhật, chỉ ra việc nghiên cứu về ĐT trong các tác phẩm của N.Souseki là hoàn
toàn mới, chưa từng được đề cập tới trước đây.
- Tổng hợp những nội dung lí thuyết cơ bản về ĐT tiếng Nhật, những cơ sở lí
luận cơ bản cần thiết về ngữ nghĩa, ngữ dụng phục vụ cho quá trình thống kê và
phân tích ngữ liệu.
Chƣơng 2: Động từ xuất hiện trong các tác phẩm tiêu biểu của N.Souseki
Qua thống kê và phân loại, mô tả bức tranh tổng quan về ĐT trong các tác
phẩm tiêu biểu của N.Souseki, đưa ra nhận xét về khuynh hướng hoạt động của ĐT
làm cơ sở việc lựa chọn ĐT tiểu biểu và hướng triển khai phân tích đặc điểm ngữ
nghĩa, ngữ dụng của ĐT trong các chương sau.
Chƣơng 3: Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ tiếng Nhật - Trường hợp một số động
từ tiêu biểu
Khảo sát, phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của các ĐT tiêu biểu từ
hai góc độ tiếp cận là đa nghĩa và đồng nghĩa.
Chƣơng 4: Đặc trưng ngữ dụng của động từ tiếng Nhật, đặc điểm ngôn từ của N.
Souseki và những ứng dụng trong giảng dạy
Phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ dụng của ĐT qua việc khảo sát hoạt động
một số động từ ngữ vi tiêu biểu, tập trung phân tích hành chức của các cặp đối ứng
việc sử dụng các tiểu từ tình thái cuối câu với việc sử dụng kính ngữ [112].
- Nghiên cứu về phong cách ngôn ngữ nhà văn như các nghiên cứu của Otani
(2007), Rishunran (2010). Trong đó, Otani (2007) đã phân tích một số ví dụ trích
dẫn từ 11 cuốn tiểu thuyết của N.Souseki và cho rằng: điểm thú vị về ngôn ngữ tạo
nên tiếng cười cho tiểu thuyết của N.Souseki là những lối chơi chữ, các cách nói tỉ
dụ, thậm xưng, cách diễn đạt dài dòng cụ thể quá mức cũng như cách bố cục tạo ra
độ lệch giữa các câu từ trong diễn đạt [49]. Rishunran (2010) nghiên cứu về cách
biểu hiện thái độ lịch sự trong tiểu thuyết “Botchan” thông qua việc thống kê và
8
phân tích cách nói thông thường (sử dụng “da”) và cách nói lịch sự (sử dụng
“desu”). Từ sự tương ứng giữa việc sử dụng hay không sử dụng kính ngữ trong các
lời thoại và lời dẫn miêu tả suy nghĩ của Botchan về các nhân vật khác, tác giả
phân tích thái độ, tình cảm của Botchan đối với họ, góp phần làm sáng tỏ dụng ý sử
dụng ngôn từ của nhà văn [156].
- Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu về cách sử dụng các loại chữ viết, cụ thể là
sự sử dụng chữ Kana3 trong bản thảo của N.Souseki của Narita Tetsuo (2008). Tác
giả đã chỉ ra rằng: ngoài các trường hợp từ ngoại lai được ghi bằng chữ Kana như
“paipu” (tẩu)… như quy định chung, còn có những từ tuy là thuần Nhật nhưng vẫn
được ghi bằng chữ Kana như các từ chỉ sinh vật như “inago” (cào cào)..), các từ
tượng thanh như “ohoho” (ohôhô)…; có những từ tuy là từ ngoại lai nhưng lại
được ghi bằng chữ Hán như “tabako” (thuốc lá)..., lại có những từ khi được ghi
bằng chữ Hán, khi được ghi bằng chữ Kana như hankachi (khăn tay), shatsu (áo sơ
mi)..; và đưa ra những kiến giải riêng cho từng trường hợp [120].
Như vậy, qua sự tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng hiện chưa có nhiều
nghiên cứu về tiếng Nhật thông qua các tác phẩm văn học của N.Souseki và chúng
cũng chỉ dừng lại ở những khảo sát nhỏ lẻ. Trong số các nghiên cứu này, đáng kể
nhất là công trình của Terada. Bà đã phần nào đưa ra được một số nhận định về
(1993), “Nghiên cứu ngữ pháp ngữ nghĩa của động từ” của Morita (1994), “Động từ
tiếng Nhật” của Kayano Naoko (2001), “Hệ thống thời, thể và văn bản - các cách
biểu hiện thời trong tiếng Nhật” của Kudou Mayumi (1995), “Hệ thống thời, thể,
tình thái trong tiếng Nhật - Vượt qua những nghiên cứu về tiếng Nhật chuẩn” của
Kudou Mayumi (2004) [65], [66], [70], [71], [113], [123], [124], [135].
b) Chỉ tập trung nghiên cứu về ĐT hoặc một số nhóm nhỏ trong ĐT:
Trước tiên, có thể thấy rằng trong các công trình lớn tổng hợp nhiều vấn đề
về ĐT như các công trình của Morita (1981), Nita (1984)..., các tác giả đều có
những phần riêng đi sâu bàn luận về ĐT theo các tiểu loại, các nhóm có chung đặc
trưng nào đó như ĐT chỉ sự biến đổi, sự chuyển động, sự cho nhận...
- Từ những năm 50 của thế kỉ XX cho đến nay, đã có hàng loạt công trình
nghiên cứu về các ĐT phức4 trong tiếng Nhật, từ những nghiên cứu về ĐT phức
nói chung cho tới từng trường hợp các yếu tố đứng sau trong câu trúc như các
nghiên cứu của Takebe (1953), Okuda (1984), Himeno (1999) [107], [57], [151].
- Các nghiên cứu về nội động từ và ngoại động từ trong tiếng Nhật của
Okutsu (1967), Hayatsu (1989)... Trong đó, tiêu biểu là nghiên cứu của Sato
Takuzo (2005) khi bàn về ý nghĩa của câu được tạo thành từ các NĐT và NGĐT
[59], [96], [148].
- Các nghiên cứu về nhóm các ĐT thể hiện sự cho - nhận như nghiên cứu của
các tác giả Okutsu (1986), Kubo Miori (1998), Sou Eisen (2002), Machita (1999)
[60], [77], [101], [132].
4
Các nhà Nhật ngữ học thường gọi ĐT ghép từ hai ĐT là các ĐT phức
10
Bên cạnh đó c n có các nghiên cứu về nhóm ĐT chỉ giá trị, nhóm ĐT chỉ
quan hệ, nhóm ĐT chỉ sự biến đổi tình cảm của Yamaoka Masaki (2000), nghiên
11
ngành [86], [87]... Ngoài ra, cũng phải kể đến công trình “Tiếng Nhật - từ điển về
cách dùng các ĐT cơ bản” do nhóm các tác giả Koizumi biên soạn, đã cung cấp
cho người đọc, đặc biệt là người học tiếng Nhật những thông tin về ý nghĩa và
cách dùng của hơn 700 ĐT được coi là các ĐT cơ bản nhất trong tiếng Nhật [176].
d) Xem xét hoạt động của ĐT trong cấu trúc động ngữ và vị ngữ ĐT:
Cho tới nay, có thể nói cuốn “Ngữ pháp tiếng Nhật - Đoản ngữ” do Hội ngôn
ngữ học Nhật Bản biên soạn năm 1983 là công trình mô tả đồ sộ nhất về đoản ngữ,
trong đó có một phần đáng kể là các đoản ngữ ĐT. Đây là tập hợp một số bài viết
về đoản ngữ của học giả Okuta Tasuo, trong đó, đoản ngữ ĐT được khảo sát với
trong sự kết hợp của ĐT chính với các danh từ (DT) bằng các giới từ cách5 là wo,
ni, made [79].
Chức năng quan trọng nhất của ĐT tiếng Nhật là làm vị ngữ, câu có ĐT làm
vị ngữ được gọi là câu vị ngữ ĐT (doushijyutsugobun 動詞述語文). Trong nghiên
cứu ngữ pháp ngữ nghĩa hiện đại, mối quan hệ giữa ĐT vị ngữ và các DT trong câu
được mô tả chi tiết và hệ thống trong các công trình nghiên cứu của Morita,
Teramura... Khi đề cập tới sự liên hệ giữa các vai nghĩa và sự hình thành cấu trúc
câu, Morita (1973) cho rằng, một cơ sở rất hữu hiệu để nắm bắt được đặc trưng về
nghĩa của ĐT trong ngữ cảnh là xem ĐT đó được sử dụng trong sự kết hợp với DT
theo trình tự các vai nghĩa ra sao. Theo ông, số lượng, kiểu loại và thứ tự kết hợp
các vai nghĩa cùng với mối quan hệ giữa các DT ở các vai nghĩa đó là những yếu
tố cho ta biết ý nghĩa của ĐT khi hoạt động trong câu [139].
1.1.3. Nghiên cứu đối chiếu động từ tiếng Nhật với động từ trong các ngôn
ngữ khác
Một vấn đề được các nhà ngôn ngữ học Nhật tập trung khai thác về ĐT tiếng
Nhật là đối chiếu chúng với ĐT trong các ngôn ngữ khác. Điều này trước tiên được
đó là công trình “Sổ tay động từ phức tiếng Nhật” của Trần Thị Chung Toàn.
Trong các công trình này, theo khảo sát của tác giả, ĐT phức tiếng Nhật là một hệ
thống mở, về nguyên tắc, chúng có thể tạo ra đến 16 kiểu loại kết hợp, nhưng trên
thực tế chỉ có 9 trong số đó được sử dụng phổ biến và thường xuyên trong lời nói.
Giữa các kiểu loại của ĐT phức có một sự chuyển tiếp về nghĩa, sự nối tiếp và phát
triển nghĩa từ kiểu loại trước đến kiểu loại sau tạo thành một sự phát triển liên tục
trong hệ thống cấu tạo từ. Hơn nữa, tuy phần lớn các ĐT phức là ĐT đa nghĩa
nhưng hiện tượng đa nghĩa của ĐT phức bị hạn chế nhiều hơn so với ĐT đơn vì có
hai yếu tố trong từ và chúng bị ràng buộc vào với nhau [39], [42].
Trong luận văn thạc sĩ của mình, Nguyễn Phương Thảo (2013) đã tiến hành
khảo sát các cấu trúc ĐT {từ ngoại lai + suru} trong tiếng Nhật. Theo tác giả, các
từ ngoại lai hoạt động với tư cách vừa là ĐT vừa là DT trong ngôn ngữ được vay
mượn có tỉ lệ được ĐT hoá (“suru hoá”) cao hơn so với các từ chỉ được dùng với
tư cách ĐT trong ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống
kê ĐT trong các từ điển, chưa phân tích về hoạt động của ĐT trong hành chức.
Gần đây nhất, trong giáo trình "Ngữ pháp tiếng Nhật dành cho sinh viên Việt
Nam" [116], Trần Thị Chung Toàn có giới thiệu về ĐT tiếng Nhật với những nội
dung cơ bản như sự nhận diện và phân loại ĐT thành các tiểu nhóm, các phạm trù
13
ngữ pháp của ĐT khi hành chức với vai trò là vị ngữ. Tuy nhiên, đây là một giáo
trình cung cấp các nội dung cơ bản chung về ngữ pháp nên một số vấn đề cụ thể
của ĐT tiếng Nhật c n chưa được đề cập một cách chi tiết.
Ngoài ra, có thể kể tới một vài nghiên cứu ít nhiều liên quan tới ĐT tiếng
Nhật trong sự liên hệ với tiếng Việt như bài viết của Lê Văn Cừ (1997) về cách nói
bị động trong tiếng Nhật và tiếng Việt, của Nguyễn Thanh Vân (2005) phân tích
những lỗi sai về câu bị động của sinh viên Việt Nam học tiếng Nhật nhằm đưa ra
những kiến giải và phương pháp giảng dạy phù hợp hơn [155], [80].
Tuy nhiên sự phân định từ loại trong các tài liệu này còn nhiều điểm không hợp lí
như coi “yoshi” (善し6 ) là ĐT. Sau đó, Ootsuki Fumihiko, trong phần phụ lục “Chỉ
nam ngữ pháp” (Gohoushinan 語法指南) kèm trong cuốn từ điển Genkai (言海)
(1889), đã bước đầu chỉ ra những cơ sở lí luận về phân định từ loại, và theo đó ĐT
là một trong tám từ loại được phân định cùng với DT, tính từ, phó từ, đại từ, trợ
ĐT, trợ từ (tác giả gọi là nhóm từ teniwawo) và cảm thán từ [69], [154]. Tiếp sau
đó, Hashimoto Shinkichi đã đề xuất cách phân định từ loại theo tiêu chí về hình
thái (tức là về sự biến hình) và về hành chức (tức là sự kết hợp với các từ khác).
Theo đó, “Ngữ pháp phổ thông” định nghĩa ĐT là những vị từ có đuôi thuộc hàng
“u” trong hình thái kết thúc câu [82;675].
Hiện nay, giới nghiên cứu tiếng Nhật hiện đại thống nhất cho rằng: ĐT tự
mình có thể làm thành vị ngữ của câu, có thể kết hợp với các thành phần khác như
chủ ngữ, bổ ngữ... để làm thành câu. Về mặt hình thái, ĐT được chia thành 3
nhóm: nhóm I bao gồm các ĐT có đuôi “u”; nhóm II là các ĐT có đuôi “ru”; nhóm
III gồm kuru (tới, đến) và suru (làm) 7. Ý nghĩa từ vựng cơ bản của ĐT là mô tả sự
vận động, nhưng cũng có một số ít là mô tả trạng thái.
1.2.1.2. Phân loại động từ tiếng Nhật
ĐT tiếng Nhật được phân loại theo nhiều cách khác nhau với những hướng
tiếp cận khác nhau như phân loại theo dạng thức biến hình, theo chức năng, theo ý
nghĩa... Dưới đây là một số cách phân loại ĐT tiêu biểu làm cơ sở cho việc tiến
hành thống kê và phân loại ĐT trong chương 2 nhằm đưa ra định hướng nghiên
cứu đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT trong chương 3, chương 4 của luận án.
a) Phân loại động từ tiếng Nhật nói chung
- Về mặt hình thái, ĐT tiếng Nhật được chia thành 3 nhóm: nhóm I bao gồm
các ĐT có đuôi “u”; nhóm II là các ĐT có đuôi “ru”; nhóm III gồm kuru, suru.
Teramura (1982) mô tả đặc điểm hình thái của 3 nhóm này như sau:
Nhóm I: bao gồm những ĐT có thân từ kết thúc là phụ âm (k, s, t, r, b, g, m,
n) và bán nguyên âm w, c n đuôi từ là “u”. Ví dụ: kak-u (viết), kas-u (cho mượn),
tat-u (đứng), ur-u (bán), oyog-u (bơi), nom-u (uống), ka-w (mua)…
Các nhà Nhật ngữ cũng chỉ ra rằng, có một số ĐT vừa có khả năng hoạt động
như NGĐT vừa như NĐT và gọi chúng là các động từ lưỡng dụng (ĐTLD). Morita
(1994) cho rằng có thể chia các ĐTLD thành hai loại chính là:
Loại 1 (LV1): có những nét nghĩa chung khi là NĐT và khi là NGĐT. Ví dụ:
tsuku trong te wo tsuku (gập tay) và te ga tsuku (tay gập)
Loại 2 (LV2): có ý nghĩa khác nhau khi là NĐT và khi là NGĐT. Ví dụ,
makeru là NĐT với nghĩa là “thua”, là NGĐT với nghĩa là “giảm, hạ giá”.
b) Phân loại động từ theo khả năng kết hợp vai nghĩa
Có thể cho rằng, các cách phân loại ĐT trong tiếng Nhật trên đây là những
cách phân chia theo phương pháp truyền thống, đã tạo ra những thành quả cơ bản
16
trong việc xác lập các tiêu chí để nhận diện và phân chia ĐT tiếng Nhật trong thời
hiện đại. Cùng với sự phát triển của ngành ngữ nghĩa học, ĐT trong tiếng Nhật lại
được nhìn nhận theo một góc độ mới. Đó là việc xem xét chúng trong sự kết hợp
với các yếu tố là danh ngữ theo góc nhìn của sự chi phối các vai nghĩa.
Trong tiếng Nhật, các giới từ cách là phương tiện hình thức điển hình thể hiện
mối quan hệ giữa DT và ĐT vị ngữ. Theo Nita (2005), chúng gồm ga, wo, ni, e,
kara, to, de, yori, made [125;97]. Tùy theo số lượng các tham tố tối thiểu cần có để
một ĐT có thể làm thành vị ngữ của câu (được gọi là ngữ trị), ĐT tiếng Nhật cũng
được chia thành ĐT có ngữ trị là 1, ĐT có ngữ trị là 2, ĐT có ngữ trị là 3... Ví dụ,
umareru (sinh ra), shinu (chết), kieru (tắt), naru (trở thành) là các ĐT có ngữ trị là
1, chỉ cần tối thiểu một tham tố bao gồm {DT + ga} làm chủ thể, các ĐT nomu
(uống), taberu (ăn), yomu (đọc) là các ĐT có ngữ trị là 2, chúng cần tối thiểu hai
tham tố là {DT + ga} làm chủ thể và {DT + wo} làm đối tượng…
1.2.1.3. Các phạm trù ngữ pháp tiêu biểu của động từ tiếng Nhật
1) Phạm trù thời (Tense)
Thời
tuyệt
đối
Dạng
“ru”
(ル形)
(2) Hướng dẫn, diễn giải về
trình tự công việc
まず、お湯を沸かす(wakasu)。
(Đầu tiên, đun sôi nước)
いい匂いがする(suru)ね。
(3) Những cảm nhận, suy
nghĩ, phát ngôn ngay tại
thời điểm phát ngôn
(Có mùi thơm quá)
彼は犯人ではないと思います(omoimasu)。
(4) Thói quen, tập quán ở
hiện tại
(5) Hành động có thể xảy ra
trong tương lai
(1) Sự việc, hành động trong
(1) Hiện tại lịch sử.
tìm ra châu Mĩ năm 1492)
Dạng
“ru”
人をだましてお金を取ったのは酷すぎる
(2) Nhận định của người nói
(hidosugiru)。(Lừa người ta lấy tiền đúng là quá
về sự việc trong quá khứ.
(ル形)
tệ!)
時間がない(nai)から、行けなかった。(Không có
(3) Trạng thái trong các
mệnh đề phụ
(1) Sự phát hiện, phát kiến
theo sự mong chờ, dự
đoán
Thời
tương
đối
thời gian nên tôi đã không đi được)
やっぱりここにあった(atta)。
(Đúng là nó ở đây mà!)
(Bảng được lập chủ yếu dựa trên các kết quả tổng kết của Trần Thị Chung Toàn (2014))
18