LUẬN văn THẠC sĩ vấn đề NÂNG CAO đạo đức CÁCH MẠNG CHO cán bộ, CHIẾN sĩ CÔNG AN TRONG điều KIỆN KINH tế THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG xã hội CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Lực lượng Công an nhân dân (CAND) là lực lượng vũ trang trọng yếu
của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, là lực lượng nòng cốt trong việc thực
hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, phục vụ
đắc lực sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Để hoàn thành sự nghiệp cách mạng vô cùng to lớn và vẻ vang, nhưng
cũng hết sức nặng nề đó, lực lượng CAND phải không ngừng được xây dựng,
củng cố, phát triển theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước
hiện đại. Tinh thông nghiệp vụ, nắm vững pháp luật, giỏi ngoại ngữ, tin học
và có phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng.
Trong hơn 85 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí
Minh luôn luôn quan tâm đến vấn đề đạo đức cách mạng và xây dựng đạo đức
cách mạng cho cán bộ, đảng viên nói chung và cán bộ, chiến sĩ công an nói
riêng, nhờ đó mà cách mạng Việt Nam đã thu được những thắng lợi hết sức to
lớn, lực lượng CAND đã lập được nhiều thành tích xuất sắc trong lĩnh vực
bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Từ khi đất nước chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp
sang nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN),
tình hình kinh tế - xã hội đã có những biến đổi to lớn mang tính bước ngoặt.
Bên cạnh những thành tựu vượt bậc trong lĩnh vực phát triển kinh tế, lại đặt ra
những vấn đề xã hội hết sức nhức nhối, đáng lo ngại.
Qua các thời kỳ cách mạng nhiều tập thể, cá nhân trong lực lượng
CAND đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng
vũ trang nhân dân, hàng ngàn, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ được tặng thưởng





3

Nguyên Cát, Luận án tiến sĩ triết học, 2000; "Quan hệ kinh tế và đạo đức với
việc xây dựng đạo đức mới cho đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ sở hiện nay",
Dương Xuân Lộc, Luận văn thạc sĩ triết học, 2001; "Vấn đề xây dựng đạo đức
cho cán bộ cơ sở trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay",
Đặng Thanh Giang, luận văn thạc sĩ triết học, 2001.
Vấn đề đạo đức cách mạng và vai trò của nó trong sự nghiệp đổi mới
ở nước ta hiện nay là vấn đề rộng lớn cần được tiếp tục đi sâu nghiên cứu
tổng kết về mặt lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở kế thừa những thành quả
nghiên cứu trên đây, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề đạo đức cách mạng
mang tính đặc thù của người cán bộ, chiến sĩ công an trong điều kiện KTTT
định hướng XHCN hiện nay, cố gắng tìm ra những giải pháp mang tính khả
thi nhằm góp phần xây dựng, nâng cao đạo đức cách mạng trong lực lượng
CAND nước ta hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Từ thực tế đạo đức, lối sống của cán bộ chiến sĩ trong lực lượng
CAND, luận văn đi sâu phân tích, lý giải thực trạng, nguyên nhân tình hình
đạo đức và vấn đề nâng cao đạo đức cách mạng trong lực lượng CAND, trong
điều kiện định hướng XHCN, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
đạo đức cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an ở Việt Nam hiện nay.
3.2 Nhiệm vụ
- Nêu rõ tầm quan trọng và yêu cầu của việc nâng cao của đạo đức
cách mạng cho cán bộ, chiến sĩ công an Việt Nam.
- Phân tích thực trạng đạo đức của người cán bộ, chiến sĩ công an
trong điều kiện KTTT định hướng XHCN và tìm ra nguyên nhân của thực
trạng đó.

dạy môn đạo đức học trong các trường CAND.


5

7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 2 chương, 6 tiết.


6

Chương 1
TẦM QUAN TRỌNG VÀ YÊU CẦU CỦA VIỆC NÂNG CAO
ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ CÔNG AN
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

1.1. VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

1.1.1. Một số quan niệm ngoài mác-xít về đạo đức
Đạo đức là một trong những hình thái giá trị cơ bản của ý thức xã hội,
xuất hiện tương đối sớm trong lịch sử xã hội loài người. Sự ra đời và phát
triển của đạo đức do nhu cầu của đời sống xã hội, của hoạt động và giao tiếp.
chúng ta sẽ không hình dung nổi một xã hội mà ở đó vắng bóng hay thiếu sự
hiện diện của đạo đức. Vì vậy, đạo đức từ lâu đã được nhân loại hết sức quan
tâm. Tuy nhiên, đứng trên quan điểm triết học khác nhau, lợi ích giai cấp
không giống nhau…mà người ta có cách lý giải khác nhau về đạo đức.
* Quan niệm Nho giáo
Người đặt nền móng, xây dựng nên học thuyết Nho giáo là Khổng Tử
(551- 479 tr. CN), với việc đề ra học thuyết Nhân - Lễ- Chính danh.

cái chết, phú quý hay nghèo hèn đều là do "thiên mệnh" (mệnh trời) quy định.
Nhưng bằng nỗ lực chủ quan của mình con người có thể thay đổi được "thiên
tính" ban đầu qua quá trình tiếp xúc, học tập và "tu thân" . Đây là điểm rất
đáng chú ý trong quan niệm của Khổng Tử.
Người tiếp tục phát triển Nho giáo là Mạnh Tử (371-289 tr.CN). Theo
Mạnh Tử "bản tính con người ta là thiện, còn như người ta làm những điều
bất thiện chẳng qua là họ theo dự định của mình, chứ không phải bản tính con
người ta là như vậy". Theo ông, tính thiện của con người vốn sinh ra đã có.
Tính thiện bắt nguồn từ tâm, nhờ tâm mà phân biệt được phải trái, thiện ác.
Nhờ tâm mà nhận biết được nhân, nghĩa, lễ, trí, vì "tâm" có "lương năng" không học mà biết và "lương tri" - không suy nghĩ mà biết. Để bảo tồn và


8

phát triển "tâm, tính " - lương tâm, tính thiện của con người, Mạnh Tử chủ
trương cần phải có sự rèn luyện, giáo dục đạo lý cho con người. Nhược điểm
lớn của Mạnh Tử là lảng tránh hiện thực, tìm về con đường nội tỉnh, tự suy
xét, tự kiểm điểm mình về đạo đức làm chính, coi đó là niềm vui duy nhất,
phải "chờ thời", phải "đợi mệnh trời", không được "làm việc nguy hiểm để
cầu may". Tuy nhiên, có điểm đúng là ông khuyên mọi người phải luôn tự sửa
mình, giữ tâm mình cho chính thì mới giáo dục được người khác, vì theo ông
"mình cong queo không thể nào sửa cho người khác ngay thẳng được".
Người phát triển tư tưởng Khổng - Mạnh theo hướng duy tâm là Đổng
Trọng Thư (180- 105 tr.CN). Ông cho rằng mọi hiện tượng trong tự nhiên, xã
hội và trật tự của nó đều được xuất phát và sắp đặt theo ý chí của "trời", thân
thể và ý thức của con người đều do "Thượng đế " ban cho; mọi trật tự và quy
luật vận động của xã hội là do ý chí của "Thượng đế " sắp đặt và chi phối.
Ông là người xây dựng nên hệ thống các phạm trù đạo đức: "ngũ luân", "ngũ
thường" làm khuôn mẫu cho mọi hành vi ứng xử, giao tiếp, giáo dục và tự
trau dồi đạo đức cá nhân của mọi tầng lớp người trong xã hội phong kiến. Với

vạn vật mà thuộc theo sự phát triển tự nhiên của vạn vật. Mở rộng quan điểm
về "đạo" trong đời sống xã hội, Lão Tử chủ trương thuyết "vô vi", nghĩa là
sống, hoạt động theo lẽ tự nhiên, thuần phác, không hành động có tính giả tạo,
gò ép, trái bản tính tự nhiên của mình, không can thiệp vào guồng máy của tự
nhiên. "Vô vi" là "không làm gì", mà chỉ bảo vệ, giữ gìn bản tính tự nhiên của
mình và của vạn vật, không ham muốn, không dục vọng, không thể chế,
không pháp luật, không bị ràng buộc bởi truyền thống đạo đức. Từ đó ông
phản đối hiện tượng bất bình đẳng trong xã hội, phản đối sự áp bức, bóc lột
của bọn quý tộc, nhưng trong hành động lại thụ động, tiêu cực, thủ tiêu đấu
tranh.
- Người tiếp tục đường lối Đạo gia của Lão Tử là Dương Chu (395335 tr.CN), với việc lấy con người và đạo sống theo bản tính tự nhiên làm trung
tâm trong học thuyết của mình. Theo ông, con người hãy vì mình, hãy sống đúng
với bản tính tự nhiên, vốn có của mình, không ham sống, không ghét chết,


10

không danh vọng, tiền tài, không bị ràng buộc bởi luân lý, đạo đức, thể thức
xã hội, bảo tồn thân thể, sinh mệnh, không để vật lụy mình và mình lụy vật.
Ông đề cao chủ nghĩa cá nhân, tự do vô chính phủ, thỏa mãn tối đa tình cảm
và ước muốn của mình, tận hưởng và tận dụng cái hiện có trong cuộc sống,
không nên làm khổ sở mình bằng ý nghĩ về cái gì sẽ đến sau khi chết. Từ đó
ông phủ định mọi sự cưỡng bức bằng bạo lực, phủ định mọi giá trị chuẩn mực
đạo đức và thể thức xã hội, phản đối chế độ phong kiến hà khắc. Tuy nhiên do
quá đề cao chủ nghĩa cá nhân, tuyệt đối hóa nó, đã làm cho con người tự
nhiên của Dương Chu tách khỏi mặt xã hội với những quan hệ đa dạng, phức
tạp của nó và đây chính là điểm hạn chế trong quan niệm đạo đức của ông.
- Một trong những nhà tư tưởng lớn của trường phái Đạo giáo là Trang Tử
(369-286 tr.CN), với việc ngả theo chủ nghĩa hoài nghi, tương đối luận và chủ
nghĩa thần bí. Ông cho rằng những điều phải trái, thiện ác không có tiêu chuẩn

(thập nhị nhân duyên) gây ra sự khổ: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập,
xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử.
+ Ba là Diệt đế: Phật khẳng định, cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể
chấm dứt được luân hồi bằng cách diệt nguyên nhân sinh ra sự khổ, tức là
diệt nghiệp.
+ Bốn là Đạo đế: Phật đưa ra đường lối, phương pháp diệt khổ, giải
thoát khỏi vòng luân hồi bằng cách giác ngộ chân lý của Phật, thực chất là
tiêu diệt vô minh. Con đường tiêu diệt vô minh gồm 8 phương pháp là: Chính
kiến, chính tư duy, chính ngữ; chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến,
chính niệm; chính định.
Theo con đường "bát chính đạo", "tiêu diệt vô minh" con người có thể
diệt trừ được vô minh, giải thoát và được lên cõi Niết bàn, là trạng thái hoàn
toàn yên tĩnh, sáng suốt, chấm dứt vòng sinh tử luân hồi. Phật giáo khuyên
con người ta tự giác tu luyện, điều chỉnh nhận thức đúng đắn, kiên trì hành vi
hướng thiện thì sẽ chuyển ác thành thiện, sửa tà thành chính để đạt tới sự giải


12

thoát. Phật giáo không thừa nhận có thượng đế, đồng thời "còn tích cực chống
chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi tự do tư tưởng và bình đẳng
xã hội; nói lên khát vọng giải thoát con người khỏi những bi kịch của cuộc
đời.", kêu gọi lòng từ bi, hỉ xả, nêu cao thiện tâm, bình đẳng, bác ái hướng
con người "vào con đường thiện nghiệp, tu dưỡng đạo đức, vì dân vì nước."
* Quan niệm đạo đức trong xã hội Hy Lạp cổ đại
Nội dung cơ bản trong quan niệm về đạo đức ở Hy Lạp cổ đại phản
ánh cuộc đấu tranh giữa quan niệm duy vật và duy tâm, giữa tầng lớp chủ nô
dân chủ tiến bộ và tầng lớp chủ nô quý tộc, và phần nào phản ánh cuộc đấu
tranh giữa nô lệ và chủ nô. Đại biểu xuất sắc cho chủ nghĩa duy vật và tầng
lớp chủ nô dân chủ tiến bộ là Đêmôcrít, Êpiquya, còn đại biểu cho chủ nghĩa

hạnh, thì Platôn lại cho rằng linh hồn được tạo ra bởi "Thượng đế "mới là cơ
sở, nền tảng tạo nên đời sống đạo đức. Theo Platôn, giữa linh hồn và thể xác
hoàn toàn đối lập nhau, thể xác chỉ là chỗ trú ngụ tạm thời của linh hồn. Thể
xác không bất diệt, chỉ có linh hồn mới bất diệt. Nhưng linh hồn cũng bao
gồm ba phần: lý tính (trí tuệ), xúc cảm và cảm tính, trong ba phần ấy chỉ lý
tính là bất diệt; tương ứng với ba phần của linh hồn con người, xã hội sẽ có ba
hạng người, ba đẳng cấp tùy thuộc người ấy có bộ phận linh hồn nào giữ vai
trò chủ đạo. Ông cho rằng, chỉ những nhà triết học, những người thông thái và
quý tộc mới đạt đạo đức thanh cao, đạo đức của thường dân chỉ là sự kiềm
chế dục vọng thấp hèn, họ chỉ thích nghi với lao động chân tay, còn nô lệ thì
không có đạo đức, vì không phải là người, chỉ là "động vật biết nói".
Theo ông, sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, các mối bất
hòa và làm băng hoại đời sống đạo đức, nên cần loại bỏ sở hữu tư nhân khỏi
đời sống xã hội, nhưng cần phải duy trì các hạng người khác nhau do giữa các
hạng người này không có sự bình đẳng hoàn toàn, "mỗi hạng người làm hết
trách nhiệm của mình, biết sống đúng với tầng lớp của mình." Như vậy về đạo
đức học Platôn là nhà đạo đức duy tâm, phân biệt đẳng cấp, bênh vực, bảo vệ
lợi ích của tầng lớp quý tộc chủ nô, chống lại nền dân chủ Aten, đối lập với


14

đạo đức học tiến bộ duy vật của Đêmôcrít. Mặc dù ông đã phát hiện ra nguồn
gốc sinh ra mọi bất công xã hội là sở hữu tư nhân.
Sau thời kỳ cổ đại, với sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, cuộc đấu
tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp nô lệ chống giai cấp chủ nô và các cuộc
chiến tranh liên miên, tàn khốc giữa các nhà nước chủ nô đã dẫn đến sự tan rã
của chế độ chiếm hữu nô lệ cả ở phương Đông lẫn phương Tây làm xuất hiện
chế độ xã hội mới; xã hội phong kiến. Nho giáo, Đạo giáo, Bàlamôn giáo,
Phật giáo… ở phương Đông trở thành tư tưởng thống trị đời sống tinh thần

Tômađô Cămpanenla (1568-1639) là nhà khoa học tự nhiên, nhà cộng
sản không tưởng nổi tiếng người Italia. Ông yêu cầu phải cải tạo lại toàn bộ
xã hội mới đảm bảo cho con người hạnh phúc. Theo ông, chế độ tư hữu sinh
ra kẻ giàu người nghèo và tính ích kỷ, là nguyên nhân của mọi điều ác, nhưng
ông có mặt hạn chế là: đề xuất xóa bỏ chế độ tư hữu phải gắn liền với triệt
tiêu gia đình, vì gia đình mà nảy sinh sở hữu tư nhân; xây dựng xã hội tương
lai trên chế độ quần hôn, cộng đồng và không thấy được vai trò của lợi ích cá
nhân trong hoạt động của con người. Quan niệm này bị các nhà tư tưởng tư
sản xuyên tạc, coi chế độ cộng sản là cộng vợ, cộng chồng.
Tômát Hốpxơ (1588-1679) là nhà triết học nổi tiếng, đại biểu của chủ
nghĩa duy vật Anh thế kỷ XVIII. Ông cho rằng, con người vừa là một vật thể
do thiên nhiên tạo ra, vừa là một vật thể xã hội và tự mình tham gia vào xã hội
đó. Ông quan niệm, đã là người ai cũng có khát vọng, có nhu cầu riêng của
mình, ai cũng có tính ích kỷ vì lợi ích riêng, đó là nguyên nhân, là tiền đề để
con người làm điều ác, gây ra các cuộc chiến tranh giết hại lẫn nhau. Ông nói:
"Con người là một động vật độc ác và ranh ma hơn cả chó sói, gấu và rắn", từ
đó ông khẳng định, bản tính của con người là ích kỷ. Đây là điểm hạn chế của
ông, do ông chưa nhận thấy bản tính xã hội, bản tính nhân loại của con người,
điều đó phản ánh địa vị và lợi ích của giai cấp tư sản Anh đang lên thế kỷ XVII.


16

Đêni Điđơrô (1713-1784) là nhà duy vật của triết học khai sáng Pháp,
chủ biên bộ Bách khoa toàn thư nổi tiếng thế kỷ XVIII. Ông coi con người là
sự thống nhất hữu cơ giữa linh hồn và thể xác, nhưng linh hồn cũng có bản
tính vật chất như thể xác. Ông cho rằng, không phải tôn giáo sáng tạo ra con
người, mà chính con người sáng tạo ra tôn giáo, vì vậy ông kịch liệt phê phán
quan niệm đạo đức của tôn giáo, coi nó chỉ là trò giáo dục con người tới chỗ
cả tin vào số mệnh, thượng đế. Ông khẳng định, nhân cách của con người là

phù hợp với "mệnh lệnh tuyệt đối" thì mới được coi là có đạo đức. "Mệnh
lệnh tuyệt đối" là quy luật đạo đức chung đòi hỏi mọi người ở mọi lứa tuổi,
mọi tầng lớp xã hội đều phải thực hiện, là nghĩa vụ của mọi công dân sống
trong xã hội. Theo ông, người có đạo đức là người sống theo lẽ phải và tôn
trọng sự thật, vì vậy "tự do" đã trở thành phạm trù trung tâm trong đạo đức
học của ông, là lý tưởng cao đẹp mà cả nhân loại cần phải hướng tới. Quan
niệm đó phản ánh mong mỏi, khát vọng của giai cấp tư sản Đức cuối thế kỷ
XVIII. Ông tuyên bố: quyền tư hữu tài sản là thiêng liêng, là thần thánh, là
cần thiết với mọi hoạt động để yêu cầu các cá nhân được tự do chống lại trật
tự phong kiến. Điều đó chứng tỏ tính siêu hình, duy tâm về đạo đức của
Cantơ.
Gioócgiơ Vinhem Phriđrích Hêghen (1770-1831) là nhà biện chứng
lỗi lạc, bậc tiền bối của triết học Mác. Ông đưa ra luận điểm "con người về
bản tính vốn là bất bình đẳng" để chứng minh mọi sự bất công, mọi tệ nạn
trong xã hội là những hiện tượng tất yếu làm cho xã hội phát triển; chính sự
không ngừng nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn trong các quan hệ xã hội trở
thành động lực cơ bản thúc đẩy xã hội phát triển không ngừng. Theo Hêghen,
nhà nước không chỉ là cơ quan hành pháp, mà là tổng thể các quy chế, kỷ
cương, chuẩn mực về đạo đức, pháp quyền, chính trị, văn hóa…; nhà nước có
vai trò duy trì, điều hòa mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo, giữa các
đẳng cấp trong xã hội và là nguyên nhân nổ ra các cuộc chiến tranh giữa các
nước và nhờ chiến tranh "mà thể trạng đạo đức của các dân tộc mới được bảo
toàn...". Ở Hêghen, đạo đức, luân lý và pháp luật thống nhất trong một khoa


18

học duy nhất là: "Triết học pháp quyền". Học thuyết về đạo đức là triết học
pháp quyền bao gồm: pháp quyền trừu tượng, luân lý, đạo đức. Trong đó, Hê
ghen phân biệt rõ đạo đức là thực tiễn ứng xử, là quan hệ giữa người với

đức của Phoiơbắc có nhiều điểm tiến bộ, nhưng đạo đức ấy còn rất trừu
tượng, hoàn toàn tách khỏi đời sống xã hội; đấu tranh giai cấp; những vấn đề
của lịch sử và trở thành lý luận trừu tượng về luân lý.
Những quan niệm đạo đức tiêu biểu trên đây tuy có mặt hạn chế
nhưng cũng có những yếu tố tích cực đáng được kế thừa và phát triển trong
hoàn cảnh mới như:
- Đề cao rèn luyện, tu dưỡng bản thân (Nho giáo, Phật giáo);
- Phát hiện nguồn gốc sinh ra mọi bất công trong xã hội là sở hữu tư nhân;
- Tin vào sức mạnh của con người, con người là chủ thể của xã hội;
- Tìm ra nguồn gốc thúc đẩy xã hội phát triển là quá trình nảy sinh và
giải quyết mâu thuẫn;
- Gắn xây dựng đạo đức với xây dựng luật pháp, nhà nước;
- Đề cao vai trò, vị trí của cá nhân trong xã hội…
Chính những yếu tố tích cực tiến bộ này đã được C.Mác, Ph.Ăngghen
kế thừa để xây dựng nên học thuyết cách mạng, khoa học về đạo đức
1.1.2. Quan niệm mác-xít về đạo đức
Những quan niệm đạo đức trước Mác tuy có những hạn chế do hoàn
cảnh lịch sử, do địa vị giai cấp và nhận thức, nhưng cũng có đóng góp nhất
định để hình thành một bộ môn khoa học mới - đạo đức học mác-xít. Đạo đức
học mác-xít đã khắc phục mặt hạn chế, kế thừa yếu tố tiến bộ để đưa ra quan
niệm đúng đắn, khoa học về đạo đức.
Theo quan niệm mác-xít, "đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là
tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và


20

đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với
xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
mạnh của dư luận xã hội" [25, tr. 8].

các yếu tố khách quan và chủ quan, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và
nhận thức của con người. Đạo đức mang bản chất xã hội thể hiện ở chỗ:
- Nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội
quyết định;
- Nhận thức xã hội đem lại các hình thức cụ thể của phản ánh đạo đức,
làm cho đạo đức tồn tại như một lĩnh vực độc lập về sản xuất tinh thần của xã hội;
- Sự hình thành, phát triển, hoàn thiện bản chất xã hội của đạo đức
được quy định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức
xã hội của con người. Bản chất xã hội đó của đạo đức được biểu hiện ở tính
thời đại, tính dân tộc và tính giai cấp của đạo đức;
- Đạo đức có quy luật vận động nội tại riêng của mình, nhưng thích
ứng với mỗi chế độ kinh tế, mỗi hình thái kinh tế - xã hội, tức mỗi thời đại
bao giờ cũng có một hình thái đạo đức nhất định. Đó là các hình thái đạo đức:
đạo đức nguyên thủy, đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức
tư sản và đạo đức cộng sản;
- Cùng với tính quy định bởi tồn tại xã hội, bởi thời đại lịch sử, đạo
đức còn mang bản sắc của mỗi dân tộc. Mỗi dân tộc có những quan niệm,
chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức khác nhau mang tính độc đáo, khác biệt nhất
định. Về điểm này Ph. Ăngghen đã từng chỉ rõ: "Từ dân tộc này sang dân tộc
khác, từ thời đại này sang thời đại khác, những quan niệm về thiện và ác đã
biến đổi nhiều đến mức thường trái ngược hẳn nhau" [35, tr. 135].
Trong các xã hội có giai cấp, đạo đức bao giờ cũng mang tính giai
cấp, không có thứ đạo đức đứng trên, đứng ngoài các giai cấp đã và đang tồn
tại hiện thực trong xã hội. Tính giai cấp của đạo đức là sự phản ánh và thể
hiện địa vị, quyền lợi và lợi ích của các giai cấp trong xã hội, mà trước hết là


22

của giai cấp thống trị, đó là biểu hiện đặc trưng nhất bản chất xã hội của đạo

hạnh phúc; nghĩa vụ; lương tâm; thiện - ác v.v…
1. Đạo đức học mác-xít khẳng định "ý nghĩa cuộc sống" là ở đời sống
hiện thực và xem đó như nền tảng tinh thần của đời sống con người. C.Mác
đã khẳng định, lao động là phương thức tồn tại và phát triển của xã hội, lao
động là động lực, là phương thức hình thành và phát triển, hoàn thiện con
người cả về mặt thể chất và tinh thần. Vấn đề ý nghĩa cuộc sống của con
người là một quá trình phát triển không ngừng bắt nguồn từ hoạt động sống
của con người mà xét đến cùng là từ lao động sản xuất xã hội. Đạo đức học
mác-xít cho rằng, quá trình hoạt động sống mà cốt lõi là lao động sản xuất
bao giờ cũng mang tính xã hội, các chủ thể tham gia vào lao động sản xuất xã
hội đã tạo nên những giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần, đóng góp vào thành
quả phát triển chung của xã hội. Chính những thành quả đó làm cho cuộc
sống của các chủ thể mang tính xã hội và chủ thể tìm thấy "ý nghĩa cuộc
sống" của mình. Ý nghĩa cuộc sống của con người không hoàn toàn phụ thuộc
vào thời gian sống mà ở chỗ con người đã lao động tự giác, sáng tạo, tự do
cống hiến cho xã hội và thụ hưởng những thành quả do xã hội đem lại.
2. Hạnh phúc là lý tưởng sống, là ước mơ chân chính của con người,
là động lực thúc đẩy con người vươn lên vượt mọi khó khăn trong cuộc sống, là
một trong những nội dung của đời sống con người và xã hội loài người. C. Mác
nói: chỉ có thể xem xét con người một cách sống động, hiện thực gắn liền với
hoạt động sinh hoạt, hoạt động sáng tạo của con người; hạnh phúc là đấu tranh.
Trong quá trình lao động sản xuất và hoạt động xã hội, con người đã
sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần nhằm thỏa mãn các nhu cầu đa
dạng, phong phú của bản thân mình và của xã hội, đồng thời cũng là quá trình
sản sinh, phát triển các nhu cầu cũng như phương thức thỏa mãn các nhu cầu
và như vậy qua lao động sản xuất con người sẽ tìm thấy hạnh phúc chân chính
của mình. Với đạo đức học mác-xít, hạnh phúc là đưa lại cho con người niềm


24


25

người. Lương tâm thư thái, trong sáng gắn liền với hoạt động tích cực của con
người vì hạnh phúc của xã hội và hạnh phúc của người khác, qua đó con
người càng mở rộng, nâng cao và làm sâu sắc thêm hoài bão, lý tưởng, ước
mơ và phát triển các nhu cầu của mình.
Để có được lương tâm trong sáng, mỗi con người nhất thiết phải trải
qua quá trình phấn đấu rèn luyện bền bỉ lâu dài trong cả cuộc đời mình và
phải được giáo dục thường xuyên liên tục ở mọi lúc, mọi nơi. Vì "sức mạnh
của lương tâm con người mới tùy thuộc vào sự giác ngộ lý tưởng, trình độ về
nhân cách và năng lực hiểu biết, năng lực hành động của con người" [33, tr. 38].
5. Thiện là lợi ích của con người phù hợp với sự tiến bộ xã hội.
"Thiện cũng là những hoạt động phấn đấu hi sinh vì con người, làm cho con
người ngày càng sung sướng hơn, tự do hơn, hạnh phúc hơn" [25, tr. 137].
Thiện, ác không phải là "ý muốn của Thượng đế" hay là "sự tha hóa
của Tinh thần tuyệt đối", là "những mong muốn chủ quan"… Đạo đức học
mác-xít quan niệm thiện, ác của con người là sản phẩm lịch sử. Cái thiện thay
đổi theo thời đại, thông qua các quan hệ kinh tế, xã hội và giai cấp, không có
quan niệm thiện, ác đúng cho mọi thời đại, mọi giai cấp. Cái thiện phải là sự
sáng tạo của con người theo lý tưởng đạo đức cao đẹp, đúng đắn, cái thiện
gắn bó chặt chẽ với cái chân lý và cái đẹp. Giữa cái thiện và cái ác không có
sự đối lập tuyệt đối, vì thiện, ác là sản phẩm của lịch sử nên quan niệm về cái
ác cũng thay đổi, thậm chí trái ngược nhau từ xã hội này đến xã hội khác, từ
thời đại này đến thời đại khác.
Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, xã hội tư bản tất yếu sẽ bị diệt
vong, xã hội cộng sản chủ nghĩa nhất định sẽ thay thế xã hội tư bản, người
thực hiện sứ mệnh lịch sử ấy là giai cấp công nhân, giai cấp vô sản; sau khi
giành được chính quyền, thiết lập sự thống trị chính trị của mình, cùng với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status