VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGHIÊM THỊ THỦY
TÌNH HÌNH CHĂM SÓC TRẺ EM TRONG CÁC
HỘ GIA ĐÌNH CÓ BỐ MẸ ĐI XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG:
HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 62 31 03 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. ĐẶNG NGUYÊN ANH
HÀ NỘI-2016
i
Lời cảm ơn
Tôi bắt đầu nghiên cứu chủ đề này từ năm 2003, khi thực hiện Đề tài cấp
Viện: “Xuất khẩu lao động ở Việt Nam: Một số vấn đề thực tiễn và chính sách”
và quyết định làm luận án tiến sĩ theo chủ đề này khi tham gia cuộc khảo sát
“Tác động của di cƣ lao động đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam” –
CHAMPSEA, do tổ chức Wellcome Trust, Vương quốc Anh hỗ trợ tài chính.
Đến nay, luận án đã hoàn thành, nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn
thầy giáo hướng dẫn khoa học, PGS. TS Đặng Nguyên Anh, đã tận tình hướng
thực hiện luận án này đã được sự đồng ý và khuyến khích của Chủ nhiệm đề tài.
Hà Nội, tháng 9 năm 2016
Tác giả
Nghiêm Thị Thủy
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
BLĐTBXH
Bộ Lao động Thương binh xã hội
CNH-HĐH
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CRC
Công ước của Liên Hợp quốc về quyền trẻ em
CT/TƯ
Chỉ thị/ Trung ương
Cục QLLĐNN
Cục Quản lý lao động Ngoài nước
Tổ chức Phi chính phủ
QĐ/TTg
Quyết định/ Thủ tướng
QH
Quốc hội
SMC
Trung tâm nghiên cứu di cư Scalabrini
TCH và HNQT
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
TTLT
Thông tư liên tịch
TTg
Thủ tướng
TW
Trung ương
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN................................ iv
MỤC LỤC .............................................................................................................v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ .................................................................................... vii
DANH MỤC BẢNG ......................................................................................... viii
DANH MỤC HỘP.............................................................................................. ix
MỞ ĐẦU ...............................................................................................................1
NỘI DUNG CHÍNH ...........................................................................................18
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ...........................18
1.1. Lao động nước ngoài và sự thay đổi kinh tế gia đình .................................18
1.2. Lao động nước ngoài và chăm sóc sức khỏe trẻ em trong gia đình ...........22
2.
Lao động nước ngoài và việc giáo dục, xã hội hóa trẻ em trong gia đình ..25
3.
Nhận xét sơ bộ và định hướng nghiên cứu..................................................29
Tiểu kết chương I .................................................................................................32
CHƢƠNG 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ........................................33
2.1. Định nghĩa các khái niệm làm việc .............................................................33
2.2. Thao tác hóa khái niệm ...............................................................................36
2.3. Các cách tiếp cận lý thuyết ..........................................................................38
2.4. Kinh nghiệm giải quyết vấn đề XKLĐ và chăm sóc trẻ em ở một số
nước trong khu vực ..............................................................................................48
2.5. Chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về XKLĐ và chăm
sóc trẻ em .............................................................................................................59
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................64
Biểu đồ 2: Độ tuổi của bố, mẹ trẻ trong các hộ gia đình .................................... 67
Biểu đồ 3: Lý do chính khiến bố/mẹ quyết định đi XKLĐ ................................ 71
Biểu đồ 4: Mục đích sử dụng nguồn tiền gửi về của bố/ mẹ đi XKLĐ .............. 73
Biểu đồ 5: Tương quan về thời gian đi XKLĐ của bố/ mẹ ................................ 76
Biểu đồ 6: Địa điểm đi lao động ở nước ngoài của bố/ mẹ ................................ 77
Biểu đồ 7: Người chăm sóc chính cho trẻ khi bố/mẹ đi XKLĐ ......................... 87
Biểu đồ 8: Người chăm sóc trẻ ở các gia đình có bố/mẹ đi XKLĐ .................... 88
Biểu đồ 9: Hình thức liên lạc của bố/ mẹ đi XKLĐ với trẻ ................................ 93
Biểu đồ 10: Thông tin trao đổi khi liên lạc với bố/ mẹ ....................................... 97
Biểu đồ 11: Lần gần đây nhất gặp bố/ mẹ ........................................................ 100
Biểu đồ 12: Độ tuổi và giới tính của trẻ............................................................ 103
Biểu đồ 13: Chiều cao, cân nặng của trẻ trong các hộ gia đình ........................ 117
Biểu đồ 14: Đánh giá học lực của trẻ trong các hộ gia đình ............................. 134
Biểu đồ 15: Điểm số so với các bạn cùng lớp của trẻ ở trong các hộ gia đình 136
Biểu đồ 16: Trẻ được khen thưởng về thành tích học tập ở trong các hộ gia đình
........................................................................................................................... 137
Biểu đồ 17: Kết quả học tập của trẻ trong các hộ gia đình ............................... 140
vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Tóm tắt mẫu khảo sát tại 2 tỉnh ............................................................. 12
Bảng 2: Số trẻ em trong các hộ gia đình ............................................................. 66
Bảng 3: Trình độ học vấn của bố và mẹ trong các hộ gia đình .......................... 69
Bảng 4: Cuộc sống của người chăm sóc và bản thân trẻ so với
trước khi bố/ mẹ đi XKLĐ .................................................................................. 74
Bảng 5: Nghề nghiệp của bố mẹ trong các hộ gia đình ...................................... 78
Bảng 6: Sở hữu tài sản ở các hộ gia đình được khảo sát .................................... 81
DANH MỤC HỘP
Hộp 1: Lý do đi XKLĐ ....................................................................................... 72
Hộp 2: Lý do mẹ ở nhà chăm sóc trẻ .................................................................. 89
Hộp 3: Sự hỗ trợ của người thân khi mẹ đi XKLĐ ............................................ 91
Hộp 4: Cách thức bố/mẹ đi XKLĐ liên lạc với gia đình và trẻ em .................... 93
Hộp 5: Tần suất và nội dung trao đổi khi liên lạc của bố/ mẹ với gia đình và trẻ
em ........................................................................................................................ 99
Hộp 6: Thái độ của trẻ khi có bố/ mẹ đi XKLĐ ............................................... 110
Hộp 7: Quy tắc ứng xử đối với trẻ .................................................................... 112
Hộp 8: Sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh lúc trẻ ốm khi bố, mẹ đi XKLĐ ..... 125
Hộp 9: Kết quả học tập của trẻ qua tư liệu phỏng vấn sâu ............................... 138
Hộp 10: Đầu tư cho cho việc học hành của trẻ ................................................. 142
ix
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với quá trình CNH-HĐH, TCH và HNQT, di cư là một hiện tượng rất tự
nhiên, đặc biệt là di cư quốc tế là xu thế hội nhập chung ở nhiều quốc gia trên toàn
thế giới. Ngày nay, với sự phát triển của mạng lưới giao thông, con người càng dễ
có những cơ hội khám phá những vùng đất mới để tìm kiếm những điều tốt đẹp
nhất cho mình. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật phát triển chung đó.
Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là đưa lao động đi làm việc
ở nước ngoài nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập và xóa đói giảm nghèo.
Theo số liệu thống kê của Cục Quản lý lao động ngoài nước, Bộ LĐ-TBXH,
có khoảng 500 nghìn lao động Việt Nam đang làm việc tại hơn 40 nước và
phúc của chính người di cư cũng như những thân nhân ở lại quê nhà [65].
Hiện nay trên thế giới chưa có số liệu thống kê chính xác trẻ em ở lại quê nhà
khi mà bố/ mẹ của chúng di cư tìm kiếm việc làm nhưng mọi người trên thế
giới cũng tin rằng có hàng chục triệu trẻ em có bố mẹ di cư [136].
Trong khi đó, trên bình diện khoa học, việc nghiên cứu về XKLĐ cho
đến nay còn khá phiến diện. Chúng ta có không ít các nghiên cứu về tác động
của XKLĐ tới phát triển kinh tế, song lại thiếu vắng các công trình có cái
nhìn đa chiều, nhất là chiều tác động của XKLĐ đối với sự phát triển của trẻ
khi bố mẹ vắng nhà. Khi bố hoặc mẹ đi vắng sẽ ảnh hưởng tới tất cả các thành
viên trong gia đình, đặc biệt là ảnh hưởng tới trẻ em, sự ảnh hưởng này không
chỉ ở thời điểm bố mẹ đi vắng mà còn ảnh hưởng tới tương lai của trẻ. Ở Việt
Nam, tính tới thời điểm hiện nay có rất ít các nghiên cứu đánh giá tác động
của XKLĐ đến chăm sóc trẻ em. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề chăm sóc trẻ em
trong các gia đình có bố mẹ đi lao động ở nước ngoài có ý nghĩa về mặt khoa
học và ý nghĩa về thực tiễn. Xuất phát từ tình hình đó, chúng tôi quyết định lựa
chọn đề tài: “Tình hình chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố mẹ đi
2
xuất khẩu lao động: hiện trạng và giải pháp”, với hy vọng góp phần khỏa lấp
dần khoảng trống giữa khoa học và đời sống thực tiễn, nhất là thực tiễn đưa
người đi XKLĐ hiện nay.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
và khung phân tích
2.1.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu này là góp phần tìm hiểu thực trạng chăm sóc
Sau cùng, qua tìm hiểu thực trạng chăm sóc trẻ trong gia đình có bố/
mẹ đi XKLĐ và từ kết quả nghiên cứu thu được, luận án sẽ đưa ra những đề
xuất định hướng và giải pháp nhằm tăng cường phúc lợi và chăm sóc trẻ em.
2.3.
Câu hỏi nghiên cứu
Căn cứ và mục tiêu, nhiệm vụ và các vấn đề nghiên cứu, để thực hiện
luận án này chúng tôi đặt ra các câu hỏi nghiên cứu sau:
Câu hỏi 1: Có sự khác biệt trong việc chăm sóc (kể cả về tình cảm, sức
khỏe và tri thức) giữa trẻ em có bố/ mẹ đi XKLĐ và trẻ em có cả bố và mẹ
đều ở nhà, không đi làm ăn xa không?
Câu hỏi 2: Nếu có sự khác biệt thì sự khác biệt đó được biểu hiện cụ
thể ra sao, tích cực hay tiêu cực, và điều đó có ảnh hưởng như thế nào đến
cuộc sống hiện tại và tương lai của các em?
Câu hỏi 3: Liệu có vấn đề xã hội nào đang đặt ra, song chưa được nhận thức
đầy đủ trước thực trạng chăm sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ
hay không?
2.4.
Giả thuyết nghiên cứu
Tương ứng với các câu hỏi nghiên cứu ở trên, luận án đưa ra một số giả
thuyết nghiên cứu sau:
- Giả thuyết 1: Như chúng ta đều biết, gia đình và bố mẹ là nhân tố quan trọng
trong việc chăm sóc, giáo dục và xã hội hóa trẻ em. Một khi bố/ mẹ đi XKLĐ
sẽ tạo ra một khoảng trống lớn trong đời sống gia đình. Và như vậy, việc chăm
sóc trẻ em trong các hộ gia đình có bố/ mẹ đi XKLĐ và hộ gia đình có bố mẹ ở
nhà chăm sóc sẽ rất khác nhau;
5. Truyền thống văn hóa
và phong tục địa
phương
6. Khác…
Chăm sóc trẻ em (với
sự tương đồng và khác
biệt giữa các nhóm):
- Bố mẹ ở nhà
- Bố/ mẹ đi XKLĐ:
+ Bố đi XKLĐ
+ Mẹ đi XKLĐ
- Người hỗ trợ/ giúp đỡ
- Trẻ em:
+ Trẻ em trai
+ Trẻ em gái
- Khác…
- Những ảnh hưởng
của bố/ mẹ đi XKLĐ:
+ Tình cảm, đạo lý
+ Sức khỏe
+ Tri thức (học tập)
- Những vấn đề đặt ra
- Gợi ý giải pháp và
chính sách
Chú thích:
: Để chỉ chiều tác động của các tác nhân đối với trẻ em
: Để chỉ chiều ảnh hưởng của bố/ mẹ đi XKLĐ đến trẻ em
sóc trẻ ở các hộ gia đình có bố mẹ đi lao động ở nước ngoài ít nhất được 6
tháng tính tới thời điểm nghiên cứu. Ngoài ra, trong thời gian làm luận án từ
năm 2011 đến 2016, tác giả còn trở lại địa bàn nghiên cứu nhiều lần để bổ
sung thêm tài liệu nhằm đưa ra kết quả khoa học có tính thuyết phục hơn.
3.3.3. Về vấn đề nghiên cứu: Các vấn đề nghiên cứu đặt ra khá rộng,
song luận án này chỉ tập trung vào một một độ tuổi nhất định của trẻ (9-11
tuổi), cho nên không thể suy rộng hay bao quát cho tất cả các hộ gia đình có
bố/mẹ đi XKLĐ để con cái của họ ở lại quê nhà. Cũng cần nhấn mạnh, luận
án là công trình nghiên cứu đầu tiên tiến hành phân tích số liệu của cuộc khảo
sát riêng cho Việt Nam.1
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Như đã trình bày ở phần trên, luận án sử dụng nguồn số liệu từ một
cuộc khảo sát quốc tế mà nghiên cứu sinh có vinh dự được tham gia trong
suốt quá trình thiết kế, thu thập và xử lý số liệu cho Việt Nam. Cuộc khảo sát
Champsea thu thập các số liệu định lượng và định tính ở nhiều phương diện
và bình diện khác nhau. Riêng trong nghiên cứu này người viết đã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau đây:
4.1.
Phương pháp nghiên cứu
4.1.1. Phương pháp định lượng
Phương pháp chọn mẫu: Theo hướng dẫn của chuyên gia quốc tế, kỹ thuật
lấy mẫu phi xác suất có chủ đích, quả tuyết lăn (Snowball – Network
sampling), được sử dụng nhằm đáp ứng được dung lượng mẫu và đảm bảo
có cả trẻ em trai và trẻ em gái, có bố/mẹ đi XKLĐ và nhóm đối chứng là
Hiện có một số bài viết quốc tế sử dụng số liệu của 4 nước tham gia khảo sát để so sánh
kết quả nhưng chưa có phân tích nào riêng cho số liệu của Việt Nam.
giới và tuổi của đứa trẻ; ii) mối quan hệ giữa người chăm sóc và đứa trẻ; iii)
tình trạng đi XKLĐ của bố mẹ; iv) sức khỏe tâm sinh lý của trẻ. Ngoài ra, các
8
thông tin qua trao đổi với đại diện cho trường học, thôn/ xóm, nơi mà trẻ sinh
sống và học tập như: trưởng thôn, đại diện phụ nữ thôn, giáo viên.
4.1.3. Các phương pháp nghiên cứu bổ trợ khác
Bên cạnh việc sử dụng bộ số liệu từ khảo sát Champsea “Tác động của di cư
lao động đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam”, nghiên cứu sinh còn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu khác trong quá trình thực hiện luận án:
Phương pháp phỏng vấn hồi cố: Bên cạnh những thông tin, dữ liệu tại
thời điểm nghiên cứu, khảo sát Champsea cần khôi phục lại những thông tin
và sự kiện diễn ra trước và sau thời điểm bố mẹ chia tay trẻ để đi lao động ở
nước ngoài. Do đó, kỹ thuật phỏng vấn hồi cố được vận dụng. Điểm mấu chốt
của kỹ thuật này là điều tra viên cần gợi ý và đặt câu hỏi chính xác, gắn với
các sự kiện để giúp cho người trả lời sắp xếp, nhớ và hồi cố lại những diễn
biến liên quan đến các sự kiện và hành động trong quá khứ. Yêu cầu đó không
chỉ đòi hỏi điều tra viên có kỹ năng thành thạo mà họ còn cần phải kiên nhẫn,
lắng nghe và kết nối được các thông tin do người trả lời cung cấp.
Phương pháp tổng quan tài liệu: Tác giả tìm kiếm, tổng hợp và phân tích
các tài liệu liên quan tới di cư nói chung và di cư lao động ra nước ngoài làm
việc nói riêng theo chủ đề: i) lao động nước ngoài và sự thay đổi kinh tế gia
đình; ii) tác động của lao động nước ngoài đến sức khỏe trẻ em; iii) và, lao
động nước ngoài và việc giáo dục, xã hội hóa trẻ em. Đây được xem là phương
pháp quan trọng trong quá trình phân tích và viết luận án. Việc tham khảo các
nghiên cứu có liên quan, kể cả của các tác giả trong nước cũng như tác giả
nước ngoài, không chỉ giúp cho nghiên cứu sinh biết được những gì người đi
trước đã làm, những gì họ chưa làm được, những gì đã làm nhưng chưa thỏa
đáng, ở cả hai phương diện là nội dung và phương pháp nghiên cứu, để xác
thực hiện các bước tương tự và nhóm đã tổ chức nghiên cứu tại 6 xã thuộc
huyện Chí Linh (nay là thị xã Chí Linh).
10
Tiêu chí lựa chọn hộ gia đình nghiên cứu cần hội đủ các điều kiện sau:
Thứ nhất, hộ gia đình phải có đủ cả bố mẹ và ít nhất có một đứa con trong
nhóm 3-5 tuổi hoặc 9-11 tuổi. Thứ hai, trong trường hợp không di cư, hộ gia
đình đó có cả bố và mẹ ở nhà, không đi làm ăn xa trong nước hoặc đi làm việc
ở nước ngoài tại thời điểm khảo sát. Thứ ba, trong trường hợp di cư XKLĐ,
hộ gia đình hiện có bố hoặc mẹ hoặc cả 2 đi lao động ở nước ngoài với thời
gian ít nhất 6 tháng tính đến thời điểm khảo sát.
Trong mỗi hộ gia đình được lựa chọn sẽ tiến hành phỏng vấn với 01
người lớn thông hiểu về tình hình của hộ gia đình; 01 người chăm sóc trẻ
(người chịu trách nhiệm chăm sóc chính đối với đứa trẻ nghiên cứu, và người
này nắm bắt được các thông tin về tình hình tình cảm, sức khỏe thể chất - sức
khỏe tinh thần, và giáo dục của trẻ); và 01 trẻ có độ tuổi từ 3-5 tuổi hoặc từ 911 tuổi (trẻ thuộc nhóm đích), những trẻ này sẽ được cân và đo chiều cao. Tuy
nhiên trong luận án này chỉ phân tích nhóm trẻ trong độ tuổi từ 9-11 tuổi vì
những trẻ trong độ tuổi 3-5, khảo sát không tiến hành thu thập thông tin như
nhóm trẻ 9-11 tuổi mà chỉ tiến hành cân, đo và hoạt động vẽ tranh của trẻ cho
nên những thông tin về tác động của bố/mẹ đi XKLĐ đến kết quả học tập,
hành vi học tập và hành vi liên quan đến sức khỏe không được thu thập. Vì
vậy, nhóm trẻ 3-5 tuổi không được phân tích trong luận án này. Những dữ
liệu phân tích trong luận án này được lấy từ bảng hỏi hộ gia đình, bảng hỏi
người chăm sóc trẻ và bảng hỏi trẻ trong độ tuổi từ 9-11.
Tổng cộng tại 2 tỉnh có 517 hộ gia đình có trẻ em trong độ tuổi từ 9-11
được khảo sát, trong đó phỏng vấn tại tỉnh Thái Bình là 257 hộ và tỉnh Hải
Dương là 260 hộ. Tương ứng là 517 người chăm sóc trẻ, đồng thời là đại diện
cho hộ gia đình của trẻ và 517 trẻ trong độ tuổi từ 9-11. Trong số này, 285 trẻ
có bố hoặc mẹ đi XKLĐ (ít nhất đã được 6 tháng tính đến thời điểm khảo sát)
134
126
11
517
232
87
198
241
276
Địa bàn
Số hộ nghiên cứu
Bố mẹ ở nhà
Bố đi XKLĐ
Mẹ đi XKLĐ
Trẻ em trai
Trẻ em gái
Nguồn: Khảo sát Champsea
Từ thông tin về mẫu nghiên cứu, kết quả khảo sát sẽ được phân tích ở
những phần sau.
4.3. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu
Đây là kết quả nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập cho đề tài tác động của
di cư lao động ở nước ngoài đến sức khỏe trẻ em ở Việt Nam, theo tiêu chí của
nhà tại trợ, địa bàn khảo sát được lựa chọn là hai tỉnh nông thôn thuộc khu vực
Đồng bằng sông Hồng có đông người dân đi XKLĐ: Hải Dương và Thái Bình là
hai tỉnh tập trung đông dân cư và có nhiều lao động đi XKLĐ tại Malaysia, Đài
Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản...
Địa bàn nghiên cứu 1
5,5%; Cao đẳng, đại học và trên đại học 4,5%) 2 [43].
Thái Bình là tỉnh đông dân cư, đất sản xuất ít nên số lao động thiếu
việc làm cao. Vì vậy, trong khoảng 10 năm trở lại đây phong trào đi XKLĐ ở
2
Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Thái Bình. http://sokhdt.thaibinh.gov.vn/
13
Thái Bình phát triển. Giai đoạn 1998-2001 toàn tỉnh chỉ đưa được 435 lao
động đi giúp việc ở Đài Loan, tuy nhiên từ năm 2002 đến 2015 trung bình
mỗi năm có khoảng 2,500- 3,000 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tính đến
đầu năm 2015, toàn tỉnh có 17,586 lao động đã xuất cảnh và còn 14,614 vẫn
đang làm việc ở nước ngoài. Trong đó cụ thể là: Malaysia chiếm 43,8%
(6,397 lao động), Đài Loan: 42,4%, Hàn Quốc: 13,1%, còn lại là Nhật Bản và
một số nước Trung Đông3 [44], trong đó tỷ lệ nữ chiếm đa số (81,5%), [25].
Những huyện có số lao động đi nhiều nhất là huyện Vũ Thư: 2,850 người,
huyện Thái Thụy (2,800 người), và các huyện khác có khoảng 2,000 người4.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Đến thời điểm hiện nay, đã có không ít các công trình nghiên cứu về tác
động của XKLĐ đến đời sống của người dân, nhất là về mặt kinh tế cả ở đầu đi và
đầu đến. Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác động của bố/ mẹ đi lao động ở nước
ngoài tới con cái của họ thì vẫn còn rất hiếm, nhất là ở Việt Nam. Bằng những
phỏng vấn đa dạng các đối tượng có liên quan như người đại diện cho gia đình,
người chăm sóc chính cho trẻ và trẻ trong độ tuổi 9-11, cũng như phân tích đa
chiều cả người ở nhà chăm sóc trẻ và chính bản thân trẻ, đã mang lại sự hiểu biết
tương đối toàn diện về ảnh hưởng của bố/ mẹ đi XKLĐ tới gia đình họ, đặc biệt là
của người mẹ đi XKLĐ tới chăm sóc trẻ em trong gia đình. Luận án đã góp phần
làm phong phú thêm cho nhận thức của chúng ta về những ảnh hưởng xã hội của
Đặt trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang ngày càng nhiều lao động đi
làm việc ở nước ngoài, số trẻ em có bố mẹ đi làm việc ở nước ngoài vì thế
cũng ngày càng gia tăng, thì rõ ràng là đề tài này mang ý nghĩa thực tiễn khá
sâu sắc. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể là một tài liệu tham khảo
chẳng những cho các cơ quan quản lý, cơ quan hoạch định chính sách, các tổ
chức xã hội, mà còn cho cả những ông bố/bà mẹ có kế hoạch để con cái ở lại
quê nhà để đi XKLĐ. Từ kết quả nghiên cứu này, người đọc có thể rút ra các
bài học kinh nghiệm hoặc lựa chọn cho mình cách ứng xử cho phù hợp.
6.3. Một số khó khăn, hạn chế
Đây có thể coi là một trong rất ít nghiên cứu của Việt Nam đánh giá tác
động của bố mẹ đi lao động ở nước ngoài tới con cái ở lại quê nhà, gia đình
và người chăm sóc trẻ nói chung, cho nên cũng gặp một vài vấn đề trở ngại
sau:
- Nghiên cứu này được tiến hành ở 2 tỉnh có tỷ lệ người dân đi lao động
ở nước ngoài cao, đặc biệt là nữ giới tham gia vào thị trường lao động ở nước
15
ngoài và để con ở lại quê nhà cho chồng hoặc người thân chăm sóc rất phổ
biến. Vì vậy đây vẫn là một nghiên cứu trường hợp, kết quả nghiên cứu không
thể khái quát hóa cho toàn bộ đất nước Việt Nam;
- Trẻ em là những công dân dưới 16 tuổi, song trong nghiên cứu này của
chúng tôi chỉ tập trung phân tích nhóm trẻ mục tiêu trong độ tuổi từ 9-11, cho
nên kết quả phân tích và những nhận xét của luận án đưa ra không mang tính
đại diện cho trẻ ở các nhóm tuổi khác;
- Số liệu phân tích trong luận án chỉ được thu thập một lần duy nhất cho
nên, những thông tin về sức khỏe, giáo dục tri thức của trẻ trước khi bố/ mẹ đi
XKLĐ không được thu thập. Hạn chế này không cho phép chúng tôi tiến hành
so sánh tác động trước và sau khi bố/ mẹ đi XKLĐ;