ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
NGUYỄN THỊ MỸ VÂN
Chính sách quản lý rừng và sinh kế bền vững
cho cộng đồng các dân tộc thiểu số ở vùng núi
tỉnh Thừa Thiên Huế
Chuyên ngành: Môi trường trong phát triển bền vững
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội, 2013
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Từ xưa đến nay rừng luôn đóng vai trò quan trọng đối với môi trường cũng như sự sống của con người. Tuy
nhiên, với sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, sự gia tăng dân số nhanh cùng với quá trình đô thị hóa, công
nghiệp hóa của Việt Nam trong những thập niên vừa qua đã gây sức ép lên môi trường, khiến cho tài nguyên
rừng của Việt Nam ngày càng cạn kiệt. Số liệu thống kê cho thấy trong vòng 15 năm từ 1976 đến 1990, Việt
Nam đã mất hơn 2,6 triệu ha rừng, chiếm khoảng 24% tổng diện tích rừng tự nhiên của cả nước [Nguyễn
Quang Tân và Thomas Sikor, 2012]. Diện tích rừng tự nhiên bị thu hẹp đã kéo theo nhiều hệ lụy không chỉ
về vấn đề môi trường, mà còn ảnh hưởng đến sự sinh tồn của hơn 25 triệu người dân Việt Nam, trong đó
phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).
Trước thực trạng đó, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm hạn chế sự suy thoái rừng và
quản lý bền vững hơn nguồn tài nguyên quý giá này. Trong đó, giao đất giao rừng (GĐGR) là một chính
(iii) Trên cơ sở phân tích thực trạng và hiệu quả của việc thực thi chính sách GĐGR đến sinh kế của người
dân, để đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện đời sống cho người dân huyện A Lưới.
3. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách quản lý rừng (cụ thể là chính sách giao đất giao rừng) và
sinh kế bền vững của các tộc người ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.
3.2. Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của luận án là cộng đồng bốn tộc người (Kinh, Cơ Tu, Tà Ôi và Pacoh) ở huyện A
Lưới và lãnh đạo các cấp chính quyền địa phương huyện A Lưới.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Chính sách GĐGR được lựa chọn để phân tích hiệu quả của quá trình thực thi đối với sinh kế bền vững của
người dân huyện A Lưới.
Luận án lựa chọn 6/21 xã của huyện A Lưới làm điểm khảo sát. Sinh kế của các hộ gia đình chủ yếu được
phân tích trong quãng thời gian 10 năm (từ 2003 đến nay), vì đây là thời điểm huyện A Lưới thực hiện chính
sách GĐGR cho dân quản lý.
4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Chính sách GĐGR được triển khai ở huyện A Lưới như thế nào?
- Việc thực thi chính sách GĐGR có thực sự đem lại hiệu quả đối với sinh kế cho người dân huyện A Lưới
hay không? Những bất cập trong quá trình thực thi?
- Để đem lại sinh kế bền vững cho người dân ở huyện A Lưới, những nội dung nào của chính sách GĐGR
cần được điều chỉnh?
5. GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU
- Việc thực thi chính sách GĐGR đã làm thay đổi các nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình ở huyện A Lưới.
- Quá trình thực thi chính sách GĐGR đã gây nên hiện tượng bất bình đẳng về cơ hội giữa các nhóm hộ trong
cộng đồng.
- Việc triển khai chính sách GĐGR đã ảnh hưởng đến vấn đề an ninh lương thực của địa phương
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Ở bất cứ nơi đâu trên trái đất, bất kể nước giàu hay nước nghèo, nước phát triển hay đang phát triển, rừng
luôn đóng vai trò quan trọng đối với sự sống của con người và hệ sinh thái. Tuy nhiên ở mỗi thời kỳ khác
nghiên cứu của Taylor [2006], trường hợp của Trung Quốc qua nghiên cứu của Romano, Francesca and
Dominique Reeb [2006] và của Nepal qua nghiên cứu của Bhattarai Sushma et al. [2009].
Cùng đồng thời xuất hiện các tranh cãi về người dân miền núi là nguyên nhân hay nạn nhân của phá rừng và
gây suy thoái môi trường? Các tranh luận này được thể hiện trong các nghiên cứu của Michon Genevieve et
al. [2000], Yos [2003], Li [1999], Vandergeest [1996], Terry Rambo [1995], CIFOR [2005] và Sunderlin
[2008].
Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới cho thấy hầu hết các nước đã có sự chuyển đổi về cách thức quản lý
rừng từ quản lý tập trung sang phi tập trung hóa, và từ việc quản lý rừng chủ yếu để khai thác lợi ích kinh tế
từ rừng sang quản lý rừng bền vững. Sự chuyển đổi này đã và đang có những tác động tích cực đến sinh kế
của hàng triệu người dân trên khắp hành tinh và góp phần vào việc ứng phó với biến đổi khí hậu trên khắp
toàn cầu.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC
Ở Việt Nam, sự suy kiệt rừng tự nhiên trong những thập niên vừa qua là do việc khai thác, sử dụng tài
nguyên rừng không hợp lý và do phương thức quản lý rừng tập trung trong một thời gian dài. Để góp phần
hạn chế sự suy thoái rừng và huy động sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế vào quản lý rừng, Đảng và
Nhà nước đã ban hành chính sách GĐGR và triển khai rộng rãi trên phạm vi cả nước từ năm 1994. Sau gần
20 năm thực hiện, đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ, các viện nghiên
cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu và đánh giá. Sau đây là tổng hợp một số
điểm chính về chính sách GĐGR:
3
Phân quyền trong quản lý rừng: Sự thành công nhất của chương trình GDGR là thu hút được sự tham gia
ngày càng nhiều các thành phần kinh tế khác nhau vào công tác quản lý rừng [Nguyễn Quang Tân và
Thomas Sikor, 2012; Hà Công Bình, 2010; Trần Đức Viên và cộng sự, 2005].
Cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương: GĐGR đã tạo điều kiện để người dân có cơ hội hưởng lợi từ
rừng, góp phần cải thiện sinh kế của người dân và thực hiện chủ trương xóa đói giảm nghèo của nhà nước
[Hà Công Bình, 2010], [Đinh Đức Thuận, 2005], [Vương Xuân Tình, 2008].
Rừng được quản lý tốt hơn: Nhiều nghiên cứu cho thấy sau khi rừng được giao cho cộng đồng, rừng được
bảo vệ tốt hơn trước, như trường hợp ở Đăk Lăk [Hà Công Bình, 2010], ở Thanh Hóa [Vương Xuân Tình,
2.1.4. Phương pháp nghiên cứu
Phân tích tài liệu
Phỏng vấn cấu trúc: 308 hộ gia đình
Nhằm đạt được
Phỏng vấn bán cấu trúc: 30 trường hợp
Thảo luận nhóm tập trung: 6 cuộc.
Quan sát thực địa
Xử lý thông tin bằng các phương pháp và công cụ của thống kê mô tả, thống kê suy
kết
và
một số chức năng nâng cao của phần mềm chuyên dụng SPSS.
2.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.2.1. Điều kiện tự nhiên của huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
A Lưới là một huyện miền núi nằm về phía Tây của tỉnh Thừa Thiên Huế, cách thành phố Huế khoảng
70km. Đặc điểm địa hình của A Lưới tương đối phức tạp, độ cao trung bình từ 680-1.150 m, bị chia cắt
mạnh bởi nhiều hệ thống khe suối, xen giữa các vùng núi cao, đèo dốc, có các vùng đất bằng tạo thành các
thung lũng. Tổng diện tích đất của A Lưới là 122.463,60 ha, phần lớn là đất nương rẫy và rừng tự nhiên
[UBND huyện A Lưới, 2010].
2.2.2. Các đặc điểm kinh tế xã hội của A Lưới
Huyện có 20 xã và 1 thị trấn, trong đó 12 xã biên giới, 12 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn. Dân số của huyện
khoảng 43.813 người, trong đó DTTS chiếm đến 80%, mật độ dân số thấp: 35 người/km2, dân số ở nông
thôn chiếm khoảng 85%. Tỉ lệ hộ đói nghèo chiếm đến 24,5% [UBND huyện A Lưới, 2011]
Trong 4 tộc người được khảo sát, các hộ người Kinh có cuộc sống khá hơn nhiều so với các hộ DTTS. Tỷ lệ
nghèo chung ở ba nhóm DTTS là 45,1%, trong khi đó tỷ lệ nghèo của hộ người Kinh chỉ có 5,9%. Trong 3
Trong 308 hộ gia đình được khảo sát chỉ có 146 hộ có tham gia quản lý bảo vệ rừng tự nhiên (chiếm 47,4%)
và có sự khác biệt giữa các tộc người. Trong 4 tộc người thì tỷ lệ các hộ gia đình tham gia quản lý bảo vệ
rừng đông nhất tập trung ở 2 tộc người Cơ Tu (69%) và Pacoh (68,6%). Tỷ lệ hộ gia đình người Tà Ôi tham
gia quản lý rừng thấp hơn là do chương trình mới được triển khai ở cộng đồng người Tà Ôi vào năm 2012 và
dự tính đến năm 2013 mới đi vào chính thức.
Sự hiểu biết của người dân về chính sách GĐGR
Kết quả khảo sát về sự hiểu biết của người dân đối với chính sách Giao đất giao rừng của nhà nước cho thấy
có hơn 41% người dân không biết và cũng không nhớ là mình có ký hợp đồng khi tham gia bảo vệ rừng hay
không. Và trong số 58,9% người dân có ký hợp đồng thì có đến 75,6% không biết gì về các quyền của người
nhận rừng. Con số này tập trung chủ yếu ở người DTTS, trong đó người Pacoh chiếm tỷ lệ cao nhất.
Sự hưởng lợi của người dân khi tham gia quản lý bảo vệ rừng
Kết quả khảo sát cho thấy có đến 51,3% người trả lời là chưa hề được hưởng lợi gì từ chương trình đối với cả
3 hình thức giao rừng.
Đối với loại rừng tự nhiên giao cho hộ gia đình quản lý đến nay người dân vẫn chưa được hưởng lợi do chưa
có kinh phí để đánh giá trữ lượng rừng sau khi giao.
Đối với loại rừng tự nhiên giao cho cộng đồng thôn quản lý, người dân cũng như lãnh đạo thôn, xã cũng rất
mơ hồ về quyền lợi của chủ rừng. Sự hưởng lợi đến nay cũng chưa có, người dân chỉ biết chờ đợi, chưa biết
khi nào sẽ được hưởng lợi và hưởng lợi như thế nào.
Giao rừng tự nhiên cho nhóm hộ quản lý mới được triển khai trên địa bàn huyện A Lưới từ năm 2011, được
chính quyền địa phương cũng như người dân đồng tình ủng hộ cao vì phù hợp với bối cảnh của địa phương
mặc dù phương thức hưởng lợi cũng chưa được quy định rõ.
3.2. THỰC TRẠNG VIỆC GIAO ĐẤT LÂM NGHIỆP ĐỂ TRỒNG RỪNG
Mục tiêu của chương trình giao đất trồng rừng là nâng cao hiệu quả sử dụng đất lâm nghiệp, góp phần xóa
đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Ở A Lưới cây trồng chủ yếu là các loại
cây công nghiệp như keo, bạch đàn, cao su, cà phê...trong đó keo và cao su được xác định là cây mũi nhọn.
Sự tham gia của người dân trong hoạt động trồng rừng
6
Số liệu khảo sát cho thấy có đến 66,9% hộ gia đình tham gia trồng rừng. Tỷ lệ hộ người DTTS tham gia
đa dạng hóa các hoạt động sinh kế, có thêm việc làm. Kể từ khi chương trình trồng rừng được triển khai rộng
rãi, các hoạt động khai hoang, phát đất, trồng cây, bốc vác gỗ...được người dân tham gia ngày càng nhiều.
Những hoạt động này không đòi hỏi tay nghề cao, không cần trình độ học vấn chỉ cần có sức khỏe là làm
được. Tuy nhiên, phụ nữ và những người lớn tuổi khó tìm việc hơn nam giới và thanh niên. Tiền công làm
thuê của phụ nữ cũng thấp hơn nam giới. Phụ nữ làm thuê được trả 120.000 đ/ngày, nam giới 150.000 đ/ngày
và rất bấp bênh, tạm bợ.
7
Cải thiện cơ sở vật chất của các hộ gia đình
Điều kiện vật chất của các hộ gia đình được nâng lên là một trong những điểm nổi bật nhất ở địa phương kể
từ khi chương trình trồng rừng được triển khai. Mặc dù hoạt động trồng rừng chưa đem lại hiệu quả kinh tế
cao nhưng bước đầu đã giúp người dân có thêm thu nhập để mua sắm một số trang thiết bị cần thiết cho gia
đình, từ đó góp phần nâng cao đời sống cho người dân.
Tuy nhiên khi nhìn vào các loại tài sản trong gia đình chúng ta thấy người dân đầu tư chủ yếu vào việc mua
sắm các phương tiện nghe nhìn và đi lại, trong khi đó các loại trang thiết bị phục vụ cho sản xuất hầu như
vắng bóng. Mặc dù cuộc sống hiện nay của người DTTS đã có nhiều đổi thay, người dân có nhiều cơ hội để
được giao lưu, học hỏi chia sẻ kinh nghiệm. Tuy nhiên lối sống “Kinh hóa” đang phổ biến trong cộng đồng
từ nhà ở, trang phục cho đến tiêu dùng hàng ngày làm xói mòn bản sắc dân tộc của địa phương.
Giúp cải thiện nguồn nhân lực
Thông qua chương trình GĐGR, người dân có cơ hội được tham gia các khóa tập huấn về kỹ thuật trồng trọt,
chăn nuôi, kỹ thuật chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng, nhờ vậy mà sự hiểu biết của người dân được nâng lên.
Số liệu khảo sát trên 308 hộ gia đình, có đến 127 hộ (chiếm 41,2%) khẳng định rằng nhờ có chương trình
GĐGR nên họ đã biết ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhiều hơn so với trước đây. Trong 4 tộc
người, người Kinh đánh giá được nâng cao về ứng dụng KHKT cao nhất chiếm 62,7%, tiếp đến là người Tà
Ôi 51,9%, người Cơ Tu 31% và thấp nhất là người Pacoh với 29,7%. Xét tương quan về trình độ học vấn của
các hộ gia đình với việc ứng dụng khoa học kỹ thuật cho thấy không có sự khác biệt giữa các nhóm có bậc
học từ tiểu học cho đến THPT (tỷ lệ đánh giá việc ứng dụng KHKT của các nhóm tiểu học, THCS, THPT
gần như tương đương nhau: 45,3%, 44,4% và 43,5%), duy chỉ có ở nhóm người mù chữ thì đánh giá việc
ứng dụng KHKT có vẻ thấp hơn nhiều (chỉ có 31%). Xem xét về sự khác biệt giữa các nhóm hộ cho thấy tỷ
4.2.2. GĐGR và khả năng tiếp cận các nguồn lực của hộ gia đình
Tiếp cận các nguồn vốn vay
Thiếu vốn đầu tư cho sản xuất là một trong những khó khăn mà người dân gặp phải trong cuộc sống hàng
ngày. Kết quả khảo sát cho thấy 51,6% hộ gia đình cho rằng họ gặp “khó khăn” về vốn và đặc biệt có đến
31,5% hộ gia đình xác định thiếu vốn là “rất khó khăn” đối với họ, trong khi chỉ có 1,6% hộ gia đình cho là
mình “không hề gặp khó khăn” gì về vốn. Có thể thấy đối với hầu hết các hộ gia đình trên địa bàn đều cần sự
hỗ trợ về vốn. Tuy nhiên, người nghèo, người DTTS và phụ nữ là những đối tượng khó tiếp cận nguồn vốn
vay hơn so với những người không nghèo, người Kinh và nam giới.
Tiếp cận các nguồn lợi lâm sản
Khi rừng tự nhiên được giao cho các hộ gia đình và nhóm hộ quản lý đã làm nảy sinh hiện tượng bất bình
đẳng trong tiếp cận các nguồn lợi từ rừng. Đối với người nghèo, rừng luôn được xem như là một kênh toàn
giúp họ những lúc khó khăn, là nguồn dự trữ lương thực khi họ đói kém. Thế nhưng kể từ khi rừng được tiến
hành giao cho các hộ và nhóm hộ gia đình trong cộng đồng, cuộc sống của những người nghèo bị đẩy ra
ngoài lề, trở nên bấp bênh hơn.
Tiếp cận thị trường
Trước khi có chương trình GĐGR, thị trường trao đổi mua bán hàng hóa ở các xã khảo sát hoạt động rất trầm
lắng, sản phẩm làm ra chủ yếu để tiêu dùng trong gia đình. Một số hàng hóa nhu yếu phẩm cần thiết phải phụ
thuộc vào các lái buôn từ dưới xuôi lên. Kể từ khi triển khai chương trình giao đất trồng rừng, thị trường mua
bán nông lâm sản ngày càng sôi động, sản phẩm cũng đa dạng hơn, nhưng vẫn phải phụ thuộc vào lái buôn,
người dân hoàn toàn bị động, bị điều khiển và bị thao túng bởi các nhóm có quyền uy cao hơn trong mạng
lưới – cụ thể ở đây là những người thu mua sản phẩm.
4.3. HIỆU QUẢ VỀ MẶT MÔI TRƯỜNG CỦA VIỆC THỰC THI CHÍNH SÁCH GĐGR TẠI A
LƯỚI
9
GĐGR và những thay đổi về cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mục đích sử dụng
Kể từ khi chính sách GĐGR được triển khai, cơ cấu cây trồng và mục đích sử dụng đất của các địa phương
đã có sự thay đổi đáng kể. Qua khảo sát cho thấy hiện nay diện tích đất rẫy trước kia người dân sử dụng để
trồng sắn, lúa rẫy, ngô... đang giảm dần và thay vào đó là cây công nghiệp ngắn ngày như keo, tràm, cao
có nhiều thay đổi thể hiện trên các khía cạnh sau:
Chính sách đã góp phần làm thay đổi nhận thức, lối sống của người dân địa phương, tạo điều kiện cho người
dân được tiếp cận với nhiều nguồn tri thức mới, nhiều hoạt động sinh kế mới, biết ứng dụng khoa học kỹ
10
thuật vào sản xuất nhờ vậy chất lượng lao động ngày được nâng cao, góp phần cải thiện đời sống hộ gia đình.
Bên cạnh đó, Chính sách cũng góp phần giúp người dân được tham gia ngày càng nhiều hơn vào mạng lưới
thị trường trao đổi mua bán nông lâm sản, sự giao lưu văn hóa giữa các tộc người ngày càng mạnh mẽ hơn,
nhờ vậy người dân bước đầu đã biết học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất, hạn chế những hủ tục lạc
hậu, biết cách đa dạng hóa các ngành nghề, từ đó làm giảm thiểu rủi ro và cải thiện đời sống hộ gia đình.
Tuy nhiên bên cạnh đó, trong quá trình triển khai, Chính sách đã bộc lộ một số khiếm khuyết gây ảnh hưởng
tiêu cực đến đời sống của người dân địa phương. Việc triển khai Chính sách đã làm gia tăng hiện tượng bất
bình đẳng trong cộng đồng. Do sự khác biệt về văn hóa, về trình độ học vấn, về địa bàn cư trú và địa vị xã
hội nên việc tiếp nhận chương trình hoàn toàn không giống nhau giữa các nhóm hộ, các tộc người từ đó làm
gia tăng khoảng cách về sử hưởng lợi đối với chương trình. Bất bình đẳng trong cận đất canh tác và các
nguồn lợi từ rừng, khiến cho cuộc sống của người dân, đặc biệt là người nghèo lâm vào cảnh khó khăn hơn.
Thiếu đất canh tác là một trong những nguyên nhân chính gây nên tình trạng mất an ninh lương thực nghiêm
trọng ở các tộc người huyện A Lưới và cũng là nguyên nhân làm suy giảm rừng tự nhiên.
Khuyến nghị
Xuất phát từ khảo sát thực tế về đời sống của người dân trên địa bàn 6 xã của huyện vùng núi A Lưới sau 10
năm thực hiện chính sách GĐGR, luận án đề xuất một số khuyến nghị như sau:
- Cần xem xét mô hình giao rừng tự nhiên cho cộng đồng quản lý, trong đó vấn đề giao quyền phải thực sự
có ý nghĩa về mặt thực tế. Quyền của người nhận rừng phải được xác định rõ để tránh xảy ra những mâu
thuẫn, xung đột cũng như tình trạng xem rừng là của chung, không ai có trách nhiệm quản lý, bảo vệ.
- Thực tế cho thấy đời sống của người dân vùng núi huyện A Lưới nói chung còn nhiều khó khăn, tỷ lệ đói
nghèo còn cao, tuy nhiên vẫn có sự khác biệt về điều kiện sống giữa các tộc người. Sự khác nhau này dẫn
đến tập tục canh tác, địa bàn cư trú của các tộc người có những nét đặc trưng riêng.
- Giải quyết vấn đề thiếu đất canh tác cho người dân miền núi, đặc biệt là người DTTS là vấn đề cấp bách
nhất hiện nay. Thiếu đất canh tác là nguyên nhân chính dẫn đến thiếu ăn, đói nghèo cho phần lớn các hộ gia
A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế”, Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (10), tr. 43-50.
12