PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp bách của đề tài
Nguồn nhân lực là một trong hai nhân tố cơ bản của quá trình sản
xuất của cải vật chất của mọi xã hội, nếu nguồn nhân lực được quan tâm
phát triển đúng mức sẽ là nguồn tài nguyên vô giá, song nếu nguồn nhân
lực đó không được sử dụng tốt, việc làm không được giải quyết, nạn thất
nghiệp gia tăng, trở thành một gánh nặng, một sức ép về kinh tế, nảy sinh
tiêu cực xã hội, thậm chí gây chấn động đất nước.
Chính vì vậy mà các nhà kinh tế tư sản điển hình như John
Maynard Keynes, đưa ra "lý thuyết về việc làm" và coi việc làm là một vấn
đề trung tâm của xã hội tư sản hiện đại.
Ngày nay, việc làm là một trong những vấn đề kinh tế - xã hội có
tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của mọi quốc gia, liên quan đến đời
sống hàng tỷ người trên hành tinh chúng ta. Theo sự đánh giá của tổ chức
lao động quốc tế (ILO), thế giới đang diễn ra cuộc khủng hoảng toàn cầu về
việc làm (Global Employment Crisis) [13,22], kể cả ở các nước phát triển
cũng như các nước đang phát triển, ở nông thôn cũng như thành thị, trong
khu vực Nhà nước cũng như khu vực tư nhân. Tình hình việc làm ở nước ta
cũng gay gắt, trở thành vấn đề kinh tế - xã hội nóng bỏng, đòi hỏi Đảng và
Nhà nước cần có những chủ trương đúng đắn, biện pháp hiệu quả để giải
quyết việc làm cho người lao động trong tình hình mới.
Hơn 10 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính
sách kinh tế phù hợp, nhờ đó đất nước ta đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế
- xã hội và đã đạt những thành tựu bước đầu rất quan trọng, trở thành một
nước có nền kinh tế năng động và phát triển tương đối nhanh trong khu
vực.
1
Lao động, việc làm, thất nghiệp ngày càng không còn giới hạn của
mỗi nước mà là vấn đề kinh tế - xã hội nổi cộm hiện nay của các nước. Bởi
lẽ một nước mà lao động thiếu việc làm, thất nghiệp không chỉ gây ảnh
hưởng tiêu cực cho nước đó, mà còn gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhiều
nước khác. Thế giới cho rằng vấn đề dân số, lao động, việc làm là một
trong những vấn đề kinh tế xã hội phức tạp và gay gắt trên phạm vi toàn thế
giới. Vì nó vừa là nền tảng, và là chủ thể, vừa là lực lượng sản xuất hàng
đầu của xã hội, vừa là người tiêu dùng của cải vật chất do lao động làm ra.
Kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới cho thấy: dân số, lao động và
việc làm là một trong những tiêu chuẩn cơ bản để xây dựng mô hình kinh
tế - xã hội, là nhân tố quan trọng cho sự ổn định kinh tế - chính trị - xã hội,
bản thân nó vừa là vấn đề xã hội, vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề chính
trị - văn hóa.
Một trong những nguyên nhân cơ bản trực tiếp của những hiện
tượng tiêu cực đang lan tràn trong đời sống kinh tế - xã hội hiện nay ở các
nước trên thế giới là tình trạng thất nghiệp đang trầm trọng. Những người
thất nghiệp đó họ không có nguồn thu nhập chính đáng bằng lao động của
mình nên tự phát tham gia vào quá trình "phân phối lại" số của cải vật chất
của xã hội bằng mọi con đường, dưới mọi hình thức, thậm chí có một bộ
phận bị tha hóa nghiêm trọng, họ rơi vào tận đáy xã hội - đó là số tội phạm,
gái mãi dâm...
6
Chính vì vậy, không thể nói đến yếu tố con người là vấn đề quý
nhất của xã hội một cách trừu tượng, siêu thực, mà con người là vốn quý
nhất - xét cả về phương diện sản xuất, chỉ trong sự phù hợp với những nhu
cầu về nó của sự phát triển nền kinh tế. Sự mất cân đối giữa số cung và cầu
[30].
1.1.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về lao động việc làm
Vấn đề con người trong đó có việc làm nằm ở vị trí trung tâm của
nhiều hệ thống quan điểm chính trị - xã hội từ trước đến nay. Bởi vì hơn
bao giờ hết, vấn đề nhân tố con người và khai thác tiềm năng của con người
trong quá trình phát triển của xã hội có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng như
ngày nay.
Chủ nghĩa Mác - Lênin trong khi làm sâu sắc thêm nhận thức của
mình về chủ nghĩa xã hội đều khẳng định vị trí cao nhất và bao trùm của
vấn đề con người; chiến lược con người được khẳng định như chiến lược
của mọi chiến lược. Nhân tố con người được phát huy và khai thác đầy đủ
hơn nhằm tạo ra động lực để tiến hành công cuộc đổi mới xã hội, đồng thời
sự nghiệp giải phóng con người được coi như là mục tiêu cao nhất của chủ
nghĩa xã hội.
Ăngghen đã từng khẳng định: “ xã hội cộng sản là xã hội mỗi thành
viên của nó có thể phát triển hoàn toàn tự do và phát huy tiềm năng, sức lực
của mình, đồng thời không xâm phạm đến những điều kiện cơ bản của xã
hội" [27,354]. Mác - Ăngghen nhấn mạnh: Thay thế cho xã hội tư bản với
những gai cấp và đối kháng giai cấp sẽ là một liên hiệp mới mà trong đó
"Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của
mọi người" [27,260]. Lý luận Chủ nghĩa Mác - Lênin về con người, đã
được những thành tựu mới của các nhà khoa học, trong nhiều công trình lý
luận xuất hiện những năm gần đây đã làm sáng tỏ ra các khía cạnh chủ yếu
sau đây: con người là một thực thể xã hội mang bản chất xã hội, nhưng
đồng thời là một thực thể tự nhiên, một cấu trúc sinh vật học. Do đó, con
người có nhu cầu vật chất và nhu cầu đó cần được thỏa mãn bên cạnh
những nhu cầu về tinh thần, có lợi ích vật chất cùng với lợi ích tinh thần chi
8
hội, chính hình thái kinh tế - xã hội lại chi phối tính chất, cơ chế sử dụng
lao động và việc làm. Ở các hình thái kinh tế - xã hội trước, như chế độ
chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, thì người lao động bị bóc
lột dưới hình thức này hoặc hình thức khác, lao động không được quý trọng
và vì thế trong nhiều trường hợp người ta coi thứ lao động là sự bắt buộc, là
cái tất yếu để kiếm sống. Còn trong chủ nghĩa xã hội phải làm sao cho lao
động trở thành "nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của
chúng ta" [32,12], lao động trở thành sự hứng thú, là phương tiện tự biểu
hiện, tự khẳng định của con người. Lao động, việc làm gắn chặt với nhau
trong bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội như Bác Hồ đã nói "Không
có chế độ nào tôn trọng con người, chú ý xem xét những lợi ích cá nhân
đúng đắn và bảo đảm cho nó được thỏa mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa"
[31,38] và "Chủ nghĩa xã hội làm cho dân giàu nước mạnh, dân có giàu thì
nước mới mạnh" [31,44]. Đó là vấn đề đặt ra cho nền kinh tế nước ta trong
hiện tại và tương lai.
1.1.2. Quan điểm của Đảng ta về vấn đề lao động, việc làm
Ngày nay, nhân dân ta đang bước vào một cuộc chiến đấu mới vì
cuộc sống ấm no, hạnh phúc, vì công bằng xã hội. Thời cơ lịch sử của sự
phát triển của đất nước đã đến. Công cuộc đổi mới đang diễn ra nhanh
chóng và vững chắc. Chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều
thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đang từng bước định hình và khẳng định
vai trò của nó trong xã hội mới.
Sự phát triển năng động của khu vực Châu Á Thái Bình Dương,
môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực, chính sách đối ngoại độc
lập, tự chủ và đa phương hóa các quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta
đã mở ra khả năng to lớn để Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới và
khu vực. Nhân dân ta giàu lòng yêu nước, có ý thức tự lực, tự cường, thông
không có sức mạnh tự thân và sẽ mất đi trong quá trình khai thác của loài
người. Hơn thế, chúng chỉ phát huy tác dụng và có hiệu quả khi có ý thức
của con người. Cho nên, chỉ có con người với trí tuệ và tài năng là tài
11
nguyên vô tận không bao giờ cạn kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh
nếu chúng ta biết nuôi dưỡng, thúc đẩy nó phát triển. Thông qua quá trình
đó, năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người được phát
triển. Đó cũng chính là quan điểm cách mạng và khoa học của chủ nghĩa
Mác - Lênin; xem con người là điểm khởi đầu và điểm kết thúc của mọi
quá trình biến đổi lịch sử và cũng đúng với quan điểm của Bác Hồ và của
Đảng ta xem con người là "vốn quý nhất". Quan điểm trên được thể hiện
trong chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000, Đảng
ta xác định. " Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa năng lực lao động xã hội
là mục tiêu quan trọng hàng đầu của chiến lược, một tiêu chuẩn để định
hướng cơ cấu kinh tế và lựa chọn công nghệ " [9,35]. Gần đây, trong mục
những chủ trương chính sách lớn của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban
chấp hành trung ương Đảng có ghi: "Tích cực giải quyết vấn đề lao động
việc làm. Kết hợp chương trình quốc gia giải quyết việc làm với từng
chương trình, dự án lớn phát triển kinh tế để tạo ra nhiều chỗ làm mới, đặc
biệt là dự án đầu tư bằng vốn ngân sách và đầu tư của nước ngoài. Khuyến
khích phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, các làng nghề truyền thống, phát
triển các ngành nghề mới ở nông thôn để giải quyết việc làm tại chỗ, hoàn
thiện cơ chế quản lý và tăng cường quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm" [45,80].
1.2. KHÁI NIỆM VỀ LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM VÀ THẤT NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm về lao động
ở mọi quốc gia đều có sự phân biệt quan niệm về nguồn lao động và
không có việc làm, nhưng không tìm được việc làm là những người ngoài
lực lượng lao động.
Cùng với khái niệm thất nghiệp, Samuelson cũng đưa ra các loại
hình thất nghiệp: thất nghiệp tự nguyện, thất nghiệp không tự nguyện, thất
nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu, thất nghiệp chu kỳ.
Từ khái niệm việc làm, thất nghiệp, các loại thất nghiệp trên có thể
khái quát: Người có việc làm là người đang làm việc trong các lĩnh vực,
ngành nghề, hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, đem lại thu
nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho
xã hội. Còn người thất nghiệp được hiểu là những người không có việc làm
đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc.
14
Thiếu việc làm cũng có thể hiểu là trạng thái trung gian giữa có việc
làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là tình trạng có việc làm, nhưng do nguyên
nhân khách quan, ngoài ý muốn của người lao động, họ phải làm việc
không hết thời gian do luật định hoặc làm những công việc có thu nhập
thấp, không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm bổ sung.
Khi phân tích việc làm, thất nghiệp và thiếu việc làm người ta
thường chỉ tính đến đối tượng nằm trong lực lượng lao động và trong độ
tuổi lao động. Song, do đặc điểm của Việt Nam, người có nhu cầu làm việc
ngoài độ tuổi lao động rất lớn. Vì vậy việc hoạch định chính sách về việc
làm nhất thiết phải nghiên cứu đề cập đến đối tượng hưu trí, lao động vị
thành niên, người già, thương bệnh binh, người tàn tật, khuyết tật để đưa họ
hòa nhập cộng đồng, lao động để đảm bảo đời sống của bản thân và gia đình.
1.2.4. Tác động của thất nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, thất nghiệp được xem là một trong
những thước đo thành tựu kinh tế ở tầm vĩ mô và là vấn đề trung tâm trong
1998, trên địa bàn đã giải quyết và thụ lý 9.284 vụ án thuộc các tội phạm
hình sự, kinh tế, ma túy, tệ nạn xã hội. Trong đó tội phạm hình sự chiếm 67
% tổng số vụ án, có xu hướng ngày càng tăng và tăng bình quân mỗi năm
5,8 %, thành phần tội phạm có trên 60 % là phạm tội lần đầu, trong đó có
trên 30 % đối tượng không có việc làm ổn định [5, 2].
1.3. ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ-XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
ĐẾN VIỆC LÀM Ở KIÊN GIANG
1.3.1. Khái quát đặc điểm tình hình kinh tế - xã hội tác động
đến lao động việc làm
1.3.1.1. Vị trí địa lý
Tỉnh Kiên Giang là một tỉnh lớn nằm ở tận cùng phía Tây Nam Tổ
quốc thuộc vùng đồng bằng Sông Cửu Long, phía Bắc giáp tỉnh bạn Cam
Pốt Campuchia có đường biên giới dài 56 km, phía Đông và Đông Bắc giáp
hai tỉnh Cần Thơ và An Giang, phía Nam giáp tỉnh Cà Mau Bạc Liêu, phía
Tây là vùng biển giáp Vịnh Thái Lan, có diện tích tự nhiên 6.222km 2 với
16
hơn 200km bờ biển, có 608 km hải đảo (chưa kể các hòn khô, vùng nội thủy,
thềm lục địa). Địa hình ở Kiên Giang đa dạng và phức tạp, có đủ đồng bằng,
biển đảo và rừng núi (Nhiều người ví Kiên Giang như một Việt Nam thu
nhỏ), phần đất liền tương đối bằng phẳng, với độ cao nhất trung bình 0,8 1,2m và độ thấp nhất trung bình 0,2 - 0,4m, so với mặt biển. Hệ thống sông
rạch chằng chịt rất tốt cho việc xây dựng thủy lợi nội đồng, thâm canh tăng
vụ; tuy nhiên sẽ ảnh hưởng xấu cho việc thoát úng vào mùa mưa, nước mặn
thâm nhập sâu vào mùa khô và bất lợi cho xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nông
thôn.
1.3.1.2. Tài nguyên thiên nhiên
1.3.1.2.1. Tài nguyên đất
Kiên Giang có tổng diện tích đất tự nhiên là 622.230ha (chiếm
Bên cạnh tiềm năng tài nguyên, Kiên Giang còn có điều kiện thuận
lợi để phát triển du lịch do có nhiều địa danh thắng cảnh và di tích lịch sử
nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, Núi Moso, Mũi Nai,
Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, U Minh, Phú Quốc... với nhiều bãi
tắm hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước. Đáng lưu ý Kiên Giang
còn có nền văn hóa óc Eo một thời đã là trung tâm giao lưu với bên ngoài.
Ngoài ra du lịch lễ hội cũng là một thế mạnh, hàng năm lễ hội Nguyễn
Trung Trực vào cuối tháng 8 âm lịch cũng thu hút trên 100.000 lượt người.
1.3.1.2.5. Tiềm năng về nhân lực
Năm 1998 dân số Kiên Giang là 1.476.550 người, trong đó nữ
752.612 người, chiếm 50,9%, gồm 3 dân tộc chủ yếu: dân tộc Kinh chiếm
85,60%; Khơmer 12,19%; dân tộc Hoa chiếm 2,16%; các dân tộc khác chiếm
0,5 %, trong đó dân số nông thôn chiếm 77,67%, thành thị chiếm 22,33%.
1998, Nguồn lao động (lao động trong độ tuổi) khoảng 851.223
người chiếm 57,6% dân số, trong đó khoảng 84% số lao động đang làm
18
việc trong nền kinh tế quốc dân (711.262); lao động kỹ thuật chiếm 3,5%
trong tổng số nguồn lao động.
Đó là những thuận lợi cơ bản về tiềm năng thiên nhiên và những
thành quả đạt được của nền kinh tế. Kiên Giang còn có một yếu tố vật chất
vô cùng đặc biệt quan trọng và phức tạp đã tác động mật thiết với cuộc
sống hiện tại và tương lai, đó là lực lượng lao động, là lực lượng sản xuất
cơ bản đầu tiên quyết định sự tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế.
1.3.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm đối với nước ta
Đối với Việt Nam, sự phát triển dân số và lao động là những vấn đề
kinh tế - xã hội gay gắt chẳng những trong giai đoạn hiện nay, mà còn
trong nhiều năm tới. Dân số Việt Nam theo cuộc điều tra dân số 1/4/1989 là
1/4/10) Đào tạo không gắn với yêu cầu và thị trường lao động dẫn đến hàm
lượng chất xám trong sản phẩm thấp, làm cho sức cạnh tranh các sản phẩm
không cao trên thị trường trong nước và quốc tế [13].
Chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra chậm chạp. Tỷ trọng GDP các
ngành Nông nghiệp, Công nghiệp xây dựng, Dịch vụ trong năm 1995
tương ứng là 27,8 - 28,76 - 44,06% đến năm 1998 là 25,7% - 32,59 41,66%. Điều này hạn chế lớn đến giải quyết việc làm trong kinh tế thị
trường và hòa nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa [13].
Do tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực
và trên thế giới, dẫn đến phát triển kinh tế nước ta bị chững lại. GDP có xu
hướng suy giảm làm cho tình hình thất nghiệp khu vực thành thị ở nước ta
còn ở mức cao và đang có xu hướng tăng lên. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị từ
năm 1994 đến 1996 có xu hướng giảm bình quân mỗi năm 0,4% nhưng
năm 1997 so với năm 1996 lại tăng thêm 0,13%, năm 1998 so với năm
1997 tăng thêm 0,55% (1996 tỷ lệ thất nghiệp thành thị là 5,88%, 1997:
6,01%, năm 1998: 6,85%, 1999: 7,4%) [13].
Về cơ bản, nông thôn vẫn là khu vực tạo việc làm cho phần lớn lao
động xã hội (gần 70%). Tuy nhiên, trong nông thôn nạn thiếu việc làm rất
20
nghiêm trọng. Số người thiếu việc làm tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 15 24 (chiếm 32,79%, tiếp đến là nhóm tuổi từ 25 - 34 (29,39%) và nhóm tuổi
35 - 44 (21,29%) [13]. Tình trạng thiếu việc làm ở nông thôn chủ yếu là do
diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người rất thấp, chi phí sản xuất lại
tăng, hiệu quả sản xuất giảm, trong khi đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế và
lao động nông thôn diễn ra chậm chạp. Kinh tế nông thôn vẫn nặng về
nông nghiệp (chiếm 70%), trong nông nghiệp vẫn nghiêng về trồng trọt
(78%), chủ yếu cây lương thực (56%). Hiện nay cả nước có 8,1 triệu ha đất
nông nghiệp, bình quân 0,68ha/hộ nông nghiệp, bình quân 1 hộ nông
nghiệp chỉ có 0,27 ha (đặc biệt vùng đồng bằng sông Hồng bình quân 1 lao
đã tăng lên một lượng 253 ngàn người, với tốc độ tăng dân số ở mức khá
cao: năm 1991 là 2,43%, năm 1992 là 2,45%, năm 1993 là 2,78%, năm
1994 là 2,70%, năm 1995 là 2,27%, năm 1996 là 2,22%, năm 1997 là
2,17%, năm 1998 là 2,05%, năm 1999 là 1,81%.
Biểu số 1: Dân số Kiên Giang qua các năm
Đơn vị: 1.000 người
1991
Dân số
1992
1993
1994
1.265 1.296 1.332 1.368
1995
1996
1997
1998
1999
1.399 1.430 1.461 1.491
1.518
0,48
0,46
0,46
0,48
0,48
Tỷ lệ tăng tự nhiên (%)
2,39
2,34
2,48
2,20
2,13
2,05
1,98
1,89
1,8
22
thu hút lao động và đang xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến việc làm và
thất nghiệp.
Biểu số 2: Cơ cấu độ tuổi và giới tính
của dân số tỉnh Kiên Giang[35]
Đơn vị: người
1995
Độ tuổi
Nam
1996
Trong đó
nữ
1997
Trong đó
nữ
Nam
Nam
Trong đó
nữ
199.383
98.256
201.950
99.400
197.964
97.200
15 - 59
744.362
401.457
773.043
414.426
805.591
431.526
60 trở lên
83.670
Biểu số 3: Nguồn lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân
và lao động chưa có việc làm (1994 - 1998) [35]
(Theo số liệu thống kê)
1994
1995
1996
1997
1998
A. Lao động
762.855
788.676
841.928
875.317
892.951
1. Số người trong độ tuổi lao động
734.335
755.386
798.891
817.175
2. Ngoài tuổi có tham gia lao động
28.520
33.290
36.248
40.904
41.728
- Trên tuổi lao động
14.320
16.890
18.298
20.654
21.070
- Dưới tuổi lao động
687.432
711.262
1. Nông, lâm nghiệp
449.662
458.725
493.500
510.684
518.817
2. Thủy sản
32.537
33.339
35.710
33.326
48.078
3. Công nghiệp
6. Vận tải thông tin
7.652
8.082
10.127
12.689
14.226
7. Quản lý nhà nước, ANQP, Đảng,
đoàn thể, các tổ chức quốc tế
3.858
4.727
4.743
5.175
5.256
8. Giáo dục và đào tạo
9.291
10.122
II. Học sinh đang đi học
59.481
62.515
65.954
68.922
70.308
III. Nội trợ và chưa có việc làm
66.955
73.949
74.260
83.441
77.333
a. Nội trợ
31.972
39.642
24
Đến năm 1998, tổng lao động đang làm việc của Kiên Giang là
858.903 người, so với năm 1994 tăng 126.449 người, chiếm 14,7%, bình
quân hàng năm tăng 3% nguồn lao động.
Như vậy, với số liệu trên cho thấy nguồn lao động trong các năm
1994 - 1998 tăng với tỷ lệ cao. Nguyên nhân chủ yếu là do dân số bước vào
độ tuổi lao động cao, nguyên nhân thứ hai là do tỷ lệ biến động cơ học do
số lao động tỉnh ngoài đến Kiên Giang làm ăn sinh sống (nhất là huyện
đảo), vì vậy dẫn đến nguồn lao động các năm qua tăng nhanh.
Riêng lao động trong độ tuổi có khả năng lao động năm 1995 tăng
20.195 người so với năm 1994; năm 1996 tăng 49.126 người so với năm
1995; năm 1997 tăng 25.636 người so với năm 1996. Nguyên nhân chính
tăng số người có khả năng lao động ở năm 1996 cao là số lao động tỉnh
ngoài đến Kiên Giang làm ăn sinh sống, tính riêng huyện đảo Phú Quốc
theo kết quả điều tra có 9.446 lao động ngoài tỉnh đang ổn định làm ăn.
1.3.3.3. Thời gian nông nhàn
Về cơ cấu việc làm trong nền kinh tế, ngành nông lâm nghiệp là
ngành sử dụng nhiều lao động nhất, chiếm tỷ lệ cao so với tổng số. Từ năm
1994 - 1998 tăng 69.155 lao động, bình quân hàng năm tăng trên 14.000
lao động.
Thế nhưng lao động làm việc trong ngành nông lâm nghiệp lại
chiếm tỷ lệ thời gian thấp hơn so với ngành khác. Theo kết quả điều tra lao
động - việc làm năm 1997 do Sở lao động - thương binh và xã hội và Cục
Thống kê phối kết hợp, được Trung tâm thông tin - Thống kê lao động và
xã hội xử lý số liệu cho thấy:
Biểu số 4: Tỷ lệ thời gian lao động vùng nông thôn
có hoạt động kinh tế theo nhóm tuổi và giới tính
Đơn vị: %