Công trình biển chỉ dẫn thiết kế và thi công đê chắn sóng người dịch nguyễn hữu đẩu - Pdf 39

G * ) - L

CÔNG TRÌNH BIỂN

THU VIEN DAI HOC THUY SAN

2000002085

NHÀ XUẤT BẢN XÂY DỰNG


BSỈ

BS 6349:
P art 7 : 1991

* - * , f t * * ‘ M»«N»--*1* '*■'**" ■

THU' VMÇK Ị
4»• •'.'*v;0w
ù'u >vù
w Hy J w !lJ
li
. aV.*
f - ế*

4

-J

É



Hội Bô tông.



Bộ Môi trường ( Cục Khai thác tài sản)



Bộ Giao thông ( Cục Hàng h ả i)



Liên hiệp các Nhà thầu xây dưng dân dụng.



Cơ quan Sức khoẻ và an toàn.



Viện Xây dựng dân dụng.



Viện các Kỹ sư kết cấu.





1.2.2

Đê chắn sóng mặt đứng

11

1.2.3

Đê chắn sóng hỗn hợp

11

Chương 2 - Quy hoạch mặt bằng
2.1.

Khái quát

12

2.2

Mặt bằng bể cảng

12

2.2.1

Khái quát


15

2.3
2.3.1

Các ảnh hưởng môi trường

15

Khái quát

15

2.3.2

Chế độ thủy động và vận chuyển bùn cát

16

2.3.3

Ô nhiễm

16

2.3.4

Các xem xét về sinh thái

16

18

2.4.6

Vận chuyển bùn cát

18

2.4.7

Các khía cạnh địa kỹ thuật

19

2.4.8

Vật liệu xây dựng

19

3.1

Chương 3 - Thiết kế chung các kết cấu đê chắn sóng
Khái quát

20

3.2

Triết lý thiết kế

25

3.4.1

Nguồn gốc chế độ sóng

25

3.4.2

Các điều kiện sóng thiết kế

27

3.5

Lựa chọn loại kết cấu

28

3.5.1

Các loại kết cấu

28

3.5.2

Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn


33

3.6.5

Chương trình thí nghiệm

34

3.7

Phân tích rủi ro

37

3.7.1
3.7.2

Các trạng thái hạn chế

37

Lựa chọn mức rủi ro

37

3.7.3

Cây lối

38


Sóng tràn và sóng lco

45

4.2.3

On định tổng thể

46

4.3

Thiết kế lớp phủ

49

4.3.1

Khái quát

49

4.3.2

Lớp phủ đá

49

4.3.3

Các xem xét chung

58

4.4.2

Cấp phối vật liệu lõi

58

21

5


4.4.3

Kích cỡ vật liệu lớp dưới

59

4.4.4

Chiều dầy của các lớp dưới

61

4.4.5

Các lớp lọc cho đất tôn tạo


66

4.7

Thiết kế nền móng

69

4.8

Thiết kế đầu đê chắn sóng

69

4.9

Đê chắn sóng đỉnh thấp

72

4.9.1

Các xem xét chung

72

4.9.2

Thiết kế lớp phủ


4.11.1 Khái quát

76

4.11.2 Máy thi công

76

4.11.3 Trình tự thi công

76

4.11.4 Thi công chân đê

77

4.11.5 Lõi và các lớp dưới

77

4.11.6 Lớp phủ

77

4.11.7 Đo đạc, sai số và sai số cho phép

78

4.11.8 Kết cấu đỉnh

Các kết cấu với mặt kín

82

5.2.3

Các kết cấu với mặt có lỗ

83

5.2.4

Các kết cấu có đê đá đổ mặt phía biển

83

5.3

Thiết kế

83

5.3.1

Khái quát

83

6


Các kết cấu đỉnh

95

5.3.8

Đầu đê chắn sóng

96

5.3.9

Tuổi thọ và các chi tiết

96

5.4

Các kết cấu caisson

96

5.4.1

Khái quát

96

5.4.2


Kết cấu đỉnh

99

5.5

Các kết cấu bê tông khối xếp

99

5.6

Kết cấu bê tông khối lớn

100

5.7

Kết cấu cọc ván kiểu khoang

100

5.7.1
5.7.2

Khái quát
Bảo vệ chống xói

100


6.3

Thiết kế các kết cấu đê chắn sóng hỗn hợp

103

6.3.1

Giới thiệu

103

6.3.2

Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn mặt cắt ngang

103

6.3.3

Đặc tính thủy lực

104

6.3.4

Các tải Trọng

104


103

7


LỜI GIỚI THIÊU

Trong hơn hai mươi năm qua, đất nước ta đã có nhiều dự án lớn vê công trình
biển. Trong đó công nghệ khảo sút, thiết kế, thi công và khai thác thường dựa theo
nhiều nguồn tài liệu, tiêu chuẩn của Ngư, Trung Quốc, Nhật, Pháp, Mỹ, Anh, Na
Uv, Hà Lan... và một phần nhỏ do Việt Nam ban hành trên cơ sở biên dịch hay
biên soạn.
Qua kinh nghiệm thực tế, giới chuyên môn trong nước đã xác định dược những
Bộ tiêu chuẩn được thừa nhận và sử dụng rộng rãi trên th ế giới, trong đó có cả
rdiững nước đang đầu tư nhiều ở Việt Nam, quan trọng hơn cả là nó phù họp và có
thể vận dụng tốt trong điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bộ tiêu chuẩn Anh: "Công
trình biển" BS 6349 đáp ứng dược các tiêu chí trên vù thực tế đang được sử dụng
rộng rãi à V iệt Nam, trên các công trình lớn như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn, đê
chắn sóng Dung Quất, Tiên Sa...
Trong hai năm 2001 và 2002, Hội Củng Đường thủy vù Thềm lục địa Việt Nam
dự kiến biên dịch lần lượt cả bảy phần của bộ BS 6349. Do yêu cầu trước mắt dang
triển khai các dự án đê chắn sóng Dung Quất và Tiên Sa, nên chúng tôi cho biên
dịch trước hai phần: Phần 7 - Đê chắn sống và Phần 1 - Các tiêu chí chung.
Biên dịch tiêu chuẩn lù một công việc rất khó vê ngôn ngữ, cũng như các khía
cạnh chuyên môn, luật pháp... Do vậy, mong các bạn đọc thông cảm nếu thấy có sai
sót hoặc chưa vừa ý khi sử dụng bán dịch này.
Rất mong nhận được sự góp ỷ chân thành và kịp thời của các bạn đồng nghiệp.
TS. Nguyễn Hữu Đẩu
PHÓ CHỦ TỊCH KIÊM T ổN G THƯ KÝ
HỘI CẢNG ĐƯỜNG THÚY VÀ THỀM LỤC ĐỊA VIỆT NAM

Cúc phàn ỉ đến 6 đã được viết như cúc tiêu chuẩn thực hành và bao gồm các kiến nghị
tốt, được chấp nhận trong thực tế theo các nhà thực hành cố thẩm quyển.
Phần 7 được viết như một chỉ dẫn kỹ thuật.
Số lượng các hình v ẽ vù bảng trong phần này của BS 6349 được cung cấp bởi các tổ
chức riêng lẻ sở hữu bản quyền. Chi tiết của các nguồn cho ở phía dưới của mỗi hình và
côỉìiỊ nhận BSỊ với sự cho phép cần thiết đ ể in lại chúng.

9


Danh sách đầy đủ các tổ chức đã tham gia trong công việc của Hội đổng kỹ thuật giới
thiệu ở trang 3. Chủ tịch của Hội đồng này là M r p Lacey CEng, FICE, FIStructE FIHT,
FRSA và các ông sau dây là thành viên củú Hội dồng kỹ thuật:
J G Bevy

BA. BAL CEng. FICE. MIStnictE

T Cunnington

BSc, CEng. MICE

D F Evans

CEng, FICE. FIStructE

D Kerr

CEng, MICE

J W Lloyd



Chương 1
K H Á I QUÁT

1.1. Phạm vi
Phần này của Tiêu chuẩn Anh BS 6349
cung cấp chi dẫn về thiết kế và thi công đê
chắn sóng.
Đê chắn sóng là những kết cấu bảo vệ
cho bể cảng và các cửa lấy nước biển để
chống lại tác động của sóng và phần này
của BS 6349 cũng cho chỉ dẫn về các loại đê
chắn sóng chính. Đê chắn sóng nổi không
đề cập đến trong phần này.
Các công trình ven bờ như đập đinh, kè
và tường chỉnh trị không bao gồm trong
phần này, mặc dù một số khía cạnh thiết kế
nhất định có thể thích hợp với những còng
trình này.
Ghi chú: Dề mục những sách tham khảo
trong tiêu chuẩn này được liệt kê ở phần sau.
Số trong ngoặc dùng trong tiêu chuẩn liên
quan đến các thư mục tham khảo trong Phụ
lục A.

1.2. Các định nghĩa
Theo các mục đích của phần này ở BS
6349, các định nghĩa trong BS 6349: Phần 1
cũng áp dụng với các định nghĩa sau đây:

Chưưng 2

QUY HOẠCH MẶT BẰNG

2.1. Khái quát
Phần này xem xét việc bố trí mặt bằng đê
chắn sóng để duy trì được chức năng bảo vệ
bể cảng. Cho các chỉ dẫn về những khía cạnh
hàng hải, sự xâm nhập của sóng, các ảnh
hưởng môi trưòng và việc thu thập số liệu.
2.2. Mặt bằng bé cảng
2.2.2. Khái quát
Năng lượng sóng có thể vào bể cảng
bằng cách xâm nhập qua cửa vào giữa các
đê chắn sóng, bằng sóng tràn và bằng cách
truyền qua các kết cấu đê chắn sóng kiểu
thấm qua được. Các loại kết cấu đê chắn
sóng được sử dụng và thiết kế chi tiết của
nó do đó có ảnh hưởng đến chế độ sóng
trong bể cảng, vì lý do này mà mặt bằng đê
chắn sóng hoàn toàn gắn liền với thiết kế
kết cấu; thường phải thông qua quá trình thử
dần để xác định giải pháp tối ưu.
Những yêu cầu quy hoạch cảng về số
lượng, kích cỡ và vị trí các thiết bị bốc dỡ
hàng hoá sẽ xác định các kích thước tổng
thể của bể cảng. Những vấn đề này, nằm
ngoài phạm vi phần này của Tiêu chuẩn BS
6349. Các tham khảo cho trong mục 2.2.1
của BS 6349 : Phần 2: 1988.

hướng và do nhiễu xạ của sóng quanh đầu
đê chắn sóng. Sự phản xạ sóng có thể xảy ra
ờ đê chắn sóng và khi một tàu di chuyển từ
vùng biển hở đến vùng nước được che chắn,


sẽ có những thay đổi đáng kể về điều kiện
mối trường ảnh hưởng đến tàu trên một
đoạn ngắn.
Một cửa vào bể cảng rộng sẽ làm tàu
thuyền đi lại dễ dàng nhưng trái ngược với
mục tiêu hạn chế xâm nhập sóng và do đó
cần phải có sự kết hợp nào đó. Việc hàng
hải không phải lúc nào cũng có thể trong
điéu kiện sóng và gió không được chấp
nhận.
Lời khuyên của những người đi biển có
kinh nghiệm rất quan trọng để xác định mặt
bằng tối ưu của đê chắn sóng tại lối vào bể
cảng có xét dến các khía cạnh kinh tế của
chi phí và bất cứ hạn chế nào đối với hàng
hải hoạt động của cảng
Các mô hình và mô phỏng tàu đã được
mô tả trong mục 18 của BS 6349: Phần 1:
1984 hỗ trợ có giá trị trong việc quy hoạch
cửa vào bể cảng và mặt bằng đê chắn sóng.
2.2.3. Xàm nhập sóng
Yếu tố xác định quan trọng nhất ứng xử
của bể cảng là xâm nhập sóng qua cửa vào.
Đầu tiên cần thiết lập các điểu kiện sóng

1984). Các thay đổi đường đồng sâu đáy
biển cũng có thể có các ảnh hưởng đáng kể.
Ví dụ như việc tạo ra một luồng nạo vét bên
ngoài bể cảng, như đã nêu trong 23.2.3 của
BS6349: Phần 1 : 1984.
Nhiễu xạ sóng tại cửa vào bể cảng sẽ xác
định mức độ che chắn của đê chắn sóng và
mức độ lan truyền sóng vào trong bể cảng.
Cần xem xét mức độ mà sóng có thể bị
phản xạ hoặc hấp thụ trong bể cảng, khi độ
sâu thay đổi, nơi nông hơn, khúc xạ và ma
sát đáy cần được xem xét để xác định phản
ứng của bể cảng. Chỉ dẫn về những khía
cạnh này, về sử dụng các mô hình tính toán
và vật lý đã cho trong mục 29 của BS 6349:
Phần 1: 1984.
Các sóng chu kỳ dài, khoảng trên 30
giây, khó có thể loại trừ khỏi một bể cảng
và có thể gây nên dịch chuyển của các tàu
đang neo. Các sóng chu kỳ dài cũng có thể
gây ra cộng hưởng ở bể cảng, chỉ dẫn về
vấn đề này đã cho trong 29.4 của BS 6349:
13


Phần 1: 1984. Hiện tượng không mong đợi
này sẽ trầm trọng hơn do dùng các mặt
phản xạ bên trong bể cảng và nên tránh các
bề mặt đó nếu có thể. Đôi khi cũng cần có
các bề mặt hấp thụ.

dẫn trong 2.2.1 đến 2.2.4. Thường phải xem
xét nhiều phương án và sử dụng lợi thế của
các đặc điểm đường bờ và dịa hình đáy biển
thuận lợi có thể đạt được tính kinh tế đáng
kể. Ví dụ:

Nên phân biệt giữa sóng tràn nhiều với
hắt sóng do gió. Trong trường hợp đê chắn
sóng đá đổ có thể ngăn chặn hoặc khống
chế được sóng tràn nhiều bằng thiết kế phù
hợp mặt hướng biển và đỉnh đê; hắt sóng do
gió thì không khống chế được. Khi các khu
vực tôn tạo và các lắp đặt nằm ở phía sau
một đê chắn sóng, sóng tràn và hắt sóng do

2.2.5. Tuyến đê chắn sóng

(a) Đặt chân đê tại một mũi đá để giảm
nguy hiểm do xói tại khu vực này;

gió có thể gây ra bất tiện nghiêm trọng hoặc
nguy hiểm đến người và phương tiện, làm
gián đoạn việc khai thác và gây lụt lội.

(b) Chọn một mặt bằng mà sẽ giảm đến
tối thiểu chiều dài và độ sâu xây dựng cho
một khu vực và các công trình cảng đã cho.

Các hạn chế sóng tràn đã được gợi ý
trong 3.5.2.4. Điều này, liên quan đến sự

cảng thứ hai hẹp hơn dẫn đến các bến.

Điều quan trọng là xác định liệu sự hiện
diện của đê chắn sóng sẽ gây ra những thay
đổi, ví dụ như làm sâu thêm các chỗ nông
ngoài khơi mà khi đó có thể làm đê chắn
sóng phải chịu tác động sóng lớn hơn, như
đã thảo luận chi tiết trong 2.3.

Đã thu nhận được nhiều kinh nghiệm khi
đánh giá các mặt bằng bể cảng bằng
phương pháp mô hình vật lý. Chỉ dẫn cho
trong 29.5 của BS 6349: Phần 1: 1984. Hiện
nay, có các mỏ hình tính toán để đánh giá
ảnh hưởng của những mặt bằng khác nhau.
Chúng cũng có thể được dùng để xác định
các ảnh hưởng định tính của các mặt bằng
khác nhau, nhưng không cho được thông tin
chi tiết cần thiết cho mọi khía cạnh yêu cầu.
Chí dẫn sử dụng các mô hình tính toán đã
cho trong 29.6 của BS 6349: Phần 1:
1984.Thực tế tốt nhất hiện nay đối với các
dự án lớn là dùng cả hai mô hình vật lý và
tính toán.

Phản xạ từ mặt phía biển của đê chắn
sóng tạo ra các loại sóng đứng có thế làm
tăng tác động sóng ở một vài phân đoạn.
Tác dộng này giảm đi nếu áp dụng tuyến lồi
thay cho tuyến thẳng. Độ cong lõm có thể

bộ vùng bổ cảng để nghiên cứu ổn định của
kết cấu đê chắn sóng. Tuy nhiên, những mô
hình như vậy có thể cho chỉ dẫn hữu ích về
các phần của đê chắn sóng mà sẽ chịu hầu
hết tác động sóng mạnh, những mô hình
này dùng để chỉ dẫn lập kế hoạch thí
nghiệm mô hình thuỷ lực, xem trong 3.6.
2.3. Các ảnh hưỏng môi trường
2.3.1. Khái quát
Xây dựng đê chắn sóng là một trong
những thay đổi lớn nhất tác động lên trạng
thái ven bờ. Nên chú ý đến không chỉ những
ảnh hưởng của môi trường lên đê chắn sóng,
15


mà còn xem xét đến cả ảnh hưởng cùa đẽ
chắn sóng lên môi trường. Các yếu tố có thể
phát sinh được chỉ ra trong 2.3.2 đến 2.3.4.
2.3.2.
bùn cát

C hế độ thuỷ động và vận chuyển

Một đê chắn sóng sẽ gây ra những thay
đổi trạng thái biển (xem mục 28 của BS
6349: Phần 1: 1984). Những thay đổi xảy ra
do sự chuyển động của vật liệu đáy di động,
do thủy triều hoặc sóng, tạo ra dòng chảy
cần được đánh giá kỹ lưỡng mặc dù kết quả

bùn cát.
2.3.3. Ô nhiễm
Xây dựng một bể cảng ven bờ sẽ tạo nên
một vùng nước tương đối không bị xáo
động bởi sóng và dòng chảy. Trong thực tế,
khòng nên cho phép một nguồn thoát chính
nào được thải vào bể cảng, bởi vì ô nhiễm
và lắng đọng bùn cát có thể diễn ra trong
vùng nước lặng này.
Có thê có các cửa mở và cống tại những
vị trí phù hợp trong đê chắn sóng để tăng
dòng bên trong bể cảng, khi thủy triều thay
đổi nhỏ, ví dụ như ở Địa Trung Hải.
Phía ngoài bê cảng, những thay đổi về
chế độ thủy lực do đê chắn sóng gây ra ảnh
hưởng đến sự phân tán các chất ỏ nhiễm.
2.3.4. Các xem xét về sinh thái
Nói chung, đê chắn sóng không có
những ảnh hưởng tiêu cực lên sinh thái khu
vực, trừ những thay đổi do nó gây ra trong
chế độ sinh thái ảnh hưởng đến cư dân địa
phương (xem 13.5.2 của BS 6349: Phần 1:
1984).
2.4. Thu thập sô liệu
2.4.1. Khí tưọiĩg và khí hậu
Số liệu về gió, nhiệt độ, khí áp được yêu
cầu để thiết kế và thi công đê chắn sóng, để
đánh giá chế độ sóng và các mực nước cực
trị. Chi tiết về nguồn số liệu và các xem xét
về khí tượng khí hậu cần được kể đến đã



C h ọ n ị


JỊ

17


2.4.3. Độ sâu và địa hình ven biển
Các chi tiết về đáy biển và đường bờ
được yêu cầu để xác định tuyến đê chắn
sóng, để xác định ảnh hưởng của đáy biển
và các đặc điểm đường bờ lên sự truyền
sóng trong khu vực đang xem xét. Phạm vi
khu vực cần khảo sát và yêu cầu kỹ thuật
công tác khảo sát cần được xác định từ một
nghiên cứu các hải đồ có sẵn. Thông tin độ
sâu bổ sung có thể nhận từ bộ sim tâp hải đồ
của Cục thủy văn Hải quân Anh . Phòng
Thuỷ đạc lưu trữ các số liệu không chỉ của
nước Anh mà còn của nhiều nước khác.Các
cơ quan tương tự cũng có ở các nước khác.
Phạm vi đo sâu ngoài khơi cần cho các
nghiên cứu khúc xạ sóng có liên quan đến
chu kỳ sóng. Khu vực này bao trùm phía
biển của đê chắn sóng được đề nghị thường
nên mở rộng đến các vị trí có độ sâu bằng
khoảng nửa chiều dài sóng. Các phương

Các phương pháp ghi mực nước và ảnh
hưởng khí tượng gây ra những thay đổi mực
nước đã mô tả trong khoản 10 của BS 6349:
Phần 1: 1984 và chỉ dẫn về nước dâng do
bão cho trong khoản 25 của BS 6349: Phần
1: 1984.
Những nơi có sóng thần xảy ra, đôi khi
cần điều tra toàn diện về sô' liệu lịch sử để
xác định mức độ nghiêm trọng và xác suất
' \
\
• - .»
Ọ o .
18

M .-'5 * 4

xảy ra. Đối với số liệu trong khu vực Thái
Bình Dương, có thể tham khảo ở Trung tâm
thời tiết của Mỹ ở Hawaii.

tí •

2.4.6. Vận chuyên bùn cát
Các ảnh hưởng của sự thay đổi đối với
chế độ thuỷ động do xây dựng đê chắn sóng
và những thay đổi sau đó trong- vận chuyển
bùn cát nên được xem xét như đắ thảo luận
trong 2.3.2.
Nghiên cứu so sánh các hải đồ cũ, các

nhiều giai đocạn khảo sát. Điều này, cũng
phu thuộc rất lớn vào mức xa gần của dự án
và mức độ dữ dội của sóng.
2.4.8. Vật liệu xây dựng
Thông thường xây dựng đê chắn sóng
đòi hỏi một khối lượng lớn đá và cốt liệu bê
tòng. Các nguồn và chất lượng của vật liệu
nên được xác định tại giai đoạn đầu. Công
việc bao gồm đánh giá các bản đồ, ảnh và
báo cáo hiện có, sau đó là khảo sát hiện
trường.
Thí nghiệm chất lượng của đá lớp phủ
mô tả trong 57.2 của BS 6349: Phần 1:
1984. Ước tính trữ lượng đá có các kích cỡ
khác nhau có thể do các kỹ sư, các nhà địa
chất có kinh nghiệm thực hiện và một số chỉ
dẫn về vấn đề này đã được cho bởi Allsop,
Bradbury và những người khác (1). Chi tiết
thêm về các khía cạnh riêng của việc sử
dụng vật liệu đá trong đê chắn sóng đá đổ
cho trong 4.10.1.

19


Chương 3
THIẾT KẾ CHUNG CÁC KẾT CẤU ĐÊ CHẮN SÓNG

3.1. Khái quát
Phần này xem xét triết lý của việc thiết

công thức tính toán các tải trọng và chuyển
vị. Các tải trọng này được so sánh với sức
chịu của kết cấu để khẳng định rằng thiết kế
đã có các hệ số an toàn thích hợp. Tính
không chắc chắn trong thiết kế liên quan
nhiều đến các diều kiện sóng và giá trị của
các công thức sử dụng.
Với các đê đá đổ, được xem như các. kết
cấu mềm, có sự không chắc chắn tương tự
về các điều kiện sóng, ngoài ra bản chất của
phản ứng sóng/kết cấu cũng được hiểu biết
kém hơn. Do đó thiết kế được dựa trên khái
niệm về hư hỏng hoặc chuyên dịch có thể
cho phép của lớp phủ chính, khi dùng các
quan hỗ thưc nghiệm để đánh giá thiết kế
của lớp phủ chính đối với các điều kiện
sóng đã cho. Các bộ phận khác của đê đá có
liên quan thực nghiệm với lóp phủ chính.
Không có khái niệm giả tĩnh của các hệ số
an toàn tổng thể trong triết lý thiết kế hiện
nay,mặc dù dang có các tiến bộ trong nhận
thức về thiết kế xác suất của đỗ đá đổ.
Các điều kiện sóng cực trị được lựa chon
cho thiết kế một đê chắn sóng cần phải
đánh giá cẩn thận trong từng trường hợp.
Trong thực tế, thường xem một sóng thiết
kế như một giá trị đơn về chiều cao sóng với
một xác suất vượt qua thấp trong tuổi thọ
khai thác dự kiến hay tuổi thọ thiết kế của


tục có thể thực hiện hầu hết các hoạt động
thòng thường trong bể cảng.
Xác suất hư hỏng, hoặc mức độ hư hỏng
được chấp nhân trong tuổi thọ của kết cấu
nên được quyết định tại giai đoạn thiết kế
ban đầu. Chi phí sửa chữa nên tính toán và
có trong đánh giá tính khả thi về kinh tế của
dự án. Điều hiển nhiên là tại các giai đoạn
thiết kế đầu tính toán đó sẽ không chính

xác, nhưng nên hoàn thiện khi dự án được
triển khai và có nhiều thông tin hơn.
3.2.2. Sóng thiết k ế
Các phương pháp thiết kế nêu trong phần
này của BS 6349 dựa trên cơ sở giả thiết rằng
một số sóng xảy ra trong tuổi thọ của một đê
chắn sóng có thê cao hơn sóng thiết kế.
Tuổi thọ thiết kế được thảo luận trong
khoản 16 của BS6349: Phần 1: 1984, nhưng
việc lựa chọn nên được xác định chủ yếu
bằng chức năng của dự án. Một tuổi thọ
khai thác 50 đến 100 năm thường được giả
thiết, nhưng sóng thiết kế thì thường có chu
kỳ trở lại lâu hơn nhiều vì những lý do nêu
dưới đây:
Nếu đê chắn sóng được thiết kế để chịu
một sóng có chu kỳ trở lại bằng tuổi thọ
thiết kế, khi đó xác suất mà sóng thiết kế sẽ
bị vượt qua trong tuổi thọ thiết kế là 63%
(xem khoản 21 của BS 6349: Phần 1: 1984).

>

Yêu cầu đầu tiên là phải đánh giá chế độ
sóng, bởi vì tác động của sóng là quan trọng
nhất trong thiết kế. Trong giai đoạn tiền khả
thi có thể dựa vào dự báo sóng bão khi sử
dụng các công thức bao gồm tốc độ gió,
thời gian bão và đà gió như đã mô tả trong
22.2.1 đến 22.2.5 của BS 6349: Phần 1 :
1984. Nó được chọn lọc trong giai đoạn khả
thi bằng phân tích các số liệu gió bổ sung
và sử dụng các kết quả số liệu sóng. Quá
trình này được mô tả chi tiết trong 3.5.
Nên chuẩn bị và so sánh một số phương
án thiết kế sơ bộ trong giai đoạn này khi đã
thu thập, phân tích được thông tin chi tiết hơn
của vị trí đã định để đảm bảo rằng đã nhận
được tất cả số liệu yêu cầu. Những yếu tố
chính sẽ xem xét khi thiết kế và trình tự thực
hiện được mô tả trong các phần 4, 5 và 6.
Tất cả, trừ loại đơn giản nhất, các thiết
kế đê chắn sóng nên dựa vào thí nghiệm mô
hình thuỷ lực (xem 3.6). Những phân đoạn
sẽ thí nghiệm nên lựa chọn sau khi so sánh
các phương án thiết kế và lựa chọn tối ưu.
Thí nghiệm mô hình vật lý thuỷ lực là
con đường hiệu quả và tin cậy nhất để xác
định ổn định của thiết kế đê chắn sóng.
Những phát triển hiện nay trong các kỹ
thuật thí nghiệm đã đáp ứng được hầu hết
những khía cạnh ổn định sẽ khảo sát. Nên
tiến hành một loạt thí nghiệm mô hình toàn

chức năng của mình.
Giai đoạn thiết kế cuối cùng sẽ xem xét
đến mức độ và tính tin cậy của những số
liệu thu thập được, các kết quả thí nghiệm
mô hình thuỷ lực, các hạn chế của nó, tính
khá thi và chi phí vật liệu xây dựng, các
phương pháp thi công, rủi ro do hư hỏng và
sửa chữa chúng. Phân tích rủi ro được thảo
luận trong 3.7 và nên được xem xét lại toàn
bộ trong giai đoạn thiết kế cuối cùng. Tuy
nhiên, các nhà thiết kế trong suốt quá trình
thiết kế nên xem xét một dự trữ an toàn
thích hợp cần có đối với phá hoại tới hạn
trong tuổi thọ công trình và áp dụng triết lý
phân tích rủi ro.
3.4. Ché độ sóng thiết kê
3.4.1. Nguồn gốc ch ế độ sóng
3.4.1.1. Khái quát
Số liệu sóng thường được trình bày qua
các thuật ngữ chiều cao sóng có hiệu Hs đối
với bão có các chu kỳ trở lại khác nhau. Hiện

nay, nó được ghi nhận chỉ là một phần để mô
tả các điều kiện sóng như đã để cập trong 3.2.
1 và cũng cần xem xét cả chu kỳ sóng, năng
lượng phổ, hướng sóng và sóng vỡ.
Các ảnh hường nhóm sóng như đã mô tả
trong 24.3 của BS 6349: Phần 1 : 1984 có
thể xẩy ra. Các sóng dài cùng với nhóm
sóng rất quan trọng trong phản ứng của bể




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status