Đánh giá hiệu quả hệ thống thoát nước tại thành phố hồ chí minh - Pdf 39

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH

TIỂU LUẬN MÔN QUẢN TRỊ CHẤT LƯỢNG

Đề tài: ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HỆ THỐNG THOÁT
NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GVHD: Th.S Nguyễn Văn Toàn
LỚP: K10407B

Thành phố Hồ Chí Minh
2012


1

MỤC LỤC
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI ................................................................................................................ 2
Chương 1: XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG
THOÁT NƯỚC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH .................................................................... 3
1.1

Quy hoạch tổng thể đô thị................................................................................................ 3

1.2

Cơ sở hạ tầng hệ thống thoát nước ................................................................................. 4

1.3

Tốc độ đô thị hóa .............................................................................................................. 6


1


2

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nhìn lại những thành tựu đạt được hơn 30 năm, từ khi đất nước đổi mới, chúng ta những
người dân Việt không thể không tự hào. Những công trình mọc lên rầm rộ: những khu công
nghiệp, nhà máy, tòa nhà chọc trời…như mang một hương sắc mới cho đất nước, mở ra
những triển vọng hé mở vào ngày mai tươi sáng. Tuy nhiên cũng đồng thời dự báo rằng
chúng ta phải đối mặt với những vấn đề khó khăn đã, đang và sẽ xảy ra. Với tốc độ phát
triển nhanh của đô thị hóa, mang lại bộ mặt mới cho đất nước cùng với đó là sự suy giảm
ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường mà hiện nay đang được các bài báo, trang mạng
bàn luận xôn xao, trong đó có vấn đề về hệ thống thoát nước. Thành phố Hồ Chí Minh, một
trong những thành phố tiêu biểu, dẫn đầu của nước Việt Nam, nơi chúng tôi đang sinh sống
và học tập đã chứng kiến rất rõ về vấn đề này. Ngập nước vẫn diễn ra thường xuyên, đặc
biệt những lúc triều cường, đã gây cản trở nhiều tiến độ các công trình và giao thông tại
thành phố, ảnh hưởng đến nền kinh tế, xã hội và đời sống sinh hoạt của người dân trên địa
bàn thành phố. Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề này, nhóm chúng tôi những chuyên gia tài
năng tập sự đã chọn đề tài “ Đánh giá hiệu quả hệ thống thoát nước tại thành phố
HCM” nhằm đánh giá chất lượng hiệu quả của hệ thống thoát nước tại thành phố để từ đó
có cái nhìn đúng đắn về vấn đề, cũng như đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao chất lượng
của hệ thống thoát nước tại thành phố. Hi vọng rằng, đề tài này sẽ là một tư liệu tham thảo
bổ ích cho những ai quan tâm đến vấn nạn thoát nước đô thị trên địa bàn thành phố Hồ Chí
Minh nói riêng và Việt Nam nói chung.

2



4

hướng này là TP.HCM bị ngập nặng, lượng nước mưa và triều cường lúc trước được
chứa ở túi nước phía Nam Sài Gòn thì nay bị đẩy sâu vào trong nội địa làm cho gần như
toàn bộ thành phố bị ngập rộng và sâu, vào những lúc mưa đạt vào khoảng 70 mm gặp
thêm triều cường dâng cao là hết phương cứu chữa, nhiều nơi chưa bao giờ bị ngập thì
nay bị ngập nước với các cơn mưa chỉ ở mức trung bình như khu vực Ủy ban nhân dân
thành phố, đường Lê Thánh Tôn, thậm chí Củ Chi, Thủ Đức là nơi cao nay cũng bị ngập
nước. Hậu quả này không thể khắc phục được nữa và cũng chưa biết phải tính như thế
nào trong một dự báo là khoảng 62% diện tích của TP.HCM sẽ nằm dưới mặt nước biển
nếu như nước biển dâng lên 0.7 mét trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu.
Đó là do quá trình qui hoạch yếu kém và sai lầm dẫn đến việc ngập lụt càng ngày
càng nhiều hơn. Thay vì phát triển về vùng cao phía Đông - Đông Bắc thì TP HCM lại
chọn hướng ngược lại; các khu đô thị phía Nam Nhà Bè mọc lên tại các khu vực vùng
trũng trước đây là hồ chứa nước khiến Sài Gòn ngày càng ngập nặng: “Càng mở rộng đô
thị hiện đại ở vùng Nam Sài Gòn, Bình Chánh, quận 7, Nhà Bè, tức là đang ngăn đường
thoát nước của thành phố”…
Các công trình mọc lên trong 1 thời gian dài đã làm biến mất 47 con kênh, với tổng
diện tích hơn 16 ha, san lấp hơn bảy ha hồ Bình Tiên - một trong những hồ chứa nước
quan trọng nhất của khu vực. Cùng với đó, quá trình này cũng làm suy giảm diện tích cây
xanh, diện tích thấm bề mặt. Tất cả những nhân tố trên đã góp phần làm cho hệ thống
thoát nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh ngày càng trì trệ và quá tải, dẫn đến tình
trạng ngập lụt ngày càng cao.
1.2 Cơ sở hạ tầng hệ thống thoát nước
Thời gian gần đây, khi những cơn mưa to cộng với triều cường lịch sử, tình trạng
ngập lụt tại TP Hồ Chí Minh đang diễn biến phức tạp, tăng cả về mực nước và thời gian
ngập. Những nguyên nhân được lý giải là do san lấp kênh rạch tràn lan, thi công cẩu thả,
tăng dân số... và quan trọng là hệ thống thoát nước đô thị yếu kém, chắp vá quá tải do

4

kết hợp mưa lớn nên cống thoát nước không thể vận hành kịp.
5


6

Thêm vào đó, nhà máy xử lý nước thải trên địa bàn thành phố rất ít, chỉ mới có hai
nhà máy và mới được đưa vào hoạt động trong thời gian gần đây. Bình Hưng Hòa công
suất 30.000m³/ngày đêm và Bình Hưng công suất 141.000m³/ngày đêm. Cuối năm 2008,
Nhà máy xử lý nước thải Bình Hưng ở huyện Bình Chánh mới chính thức vận hành với
tổng công suất 141.000 m3 /ngày với tổng vốn đầu tư khoảng 100 triệu đô la Mỹ. Phần lớn
nguồn vốn xây dựng nhà máy vay từ Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC).
TP Hồ Chí Minh đang phát sinh khoảng 6 loại bùn thải: bùn thải từ hệ thống thoát
nước thải sinh hoạt đô thị, bùn thải từ hệ thống thoát nước thải công nghiệp, bùn thải từ
các hoạt động nạo vét kênh rạch định kỳ, bùn thải từ bể tự hoại (bùn hầm cầu), bùn thải
từ các trạm/nhà máy xử lý nước cấp, bùn thải từ các công trường xây dựng. Tuy nhiên,
việc xử lý các loại bùn thải này đang rất khó khăn và còn nhiều bất cập. Và một vấn đề
lớn (nếu không nói là lớn nhất) hiện nay là TP Hồ Chí Minh không dự trù bất cứ khoản
kinh phí nào để xử lý các bùn thải phát sinh từ dịnh vụ công (bùn thải từ hệ thống thoát
nước và bùn thải hoạt động nạo vét kênh rạch). Vì vậy, bùn thải các loại trên thường “đổ
xá” để có chi phí thấp nhất mà không xử lý. Ước tính, chi phí xử lý các loại bùn trên
khoảng 300.000 đồng/tấn và trên dưới 1.000 tỷ đồng/năm.
1.3 Tốc độ đô thị hóa
Ta có bảng thống kê tốc độ tăng dân số của TP Hồ Chí Minh từ năm 1975 đến 2010
như sau:

6


7

sẽ ảnh hưởng đến chế độ dòng chảy, khả năng tiêu thoát nước. Ngập úng là điều tất yếu
xảy ra, bên cạnh những bất lợi khác cho môi trường sống của con người.
1.4 Khả năng quản lý của cơ quan chuyên trách
Trước tiên là việc tổ chức quản lý đô thị chưa chặt chẽ:
 Chưa có các quy định và thực hiện về mặt pháp luật đối với các tổ hợp vi phạm
gây tác hại đến môi trường, đặc biệt là môi trường nước.
 Chưa có sự kiểm ra, theo dõi các quy định về việc thực hiện xây dựng công
trình xử lý nước thải cực bộ ở các khu dân cư cũng như các cơ sở sản xuất, các
công trình xây dựng, khách sạn, bệnh viện.
 Chưa có sự phối hợp giữa các ngành quản lý trong thành phố trong quá trình
đô thị hóa, cụ thể là việc xây dựng các công trình kiến trúc, cần phải phối hợp
việc xây dựng các công trình kỹ thuật hạ tầng, đặc biệt là các công trình thoát
nước và xử lý nước thải.
Ngoài ra, việc tổ chức phân cấp quản lý hệ thống thoát nước hiện nay chưa được
thống nhất, do đó công tác duy tu, bảo dưỡng cũng như xây dựng mới phát triển không
đồng bộ ở các cấp của hệ thống.
8


9

Hiện nay, đa số các tuyến cống do Công ty Thoát nước Đô thị quản lý duy tu, nạo
vét. Với một hệ thống cống dày đặc, lan tỏa khắp thành phố, công việc duy tu gặp nhiều
trở ngại:
 Công tác duy tu chỉ tiến hành vào mùa khô, trước khi mùa mưa đến. Với thời
gian ít ỏi, thì không thể nạo vét đầy đủ, sạch sẽ toàn bộ các tuyến cống. Khi đó
bùn cống lưu lại trong lòng cống và hầm ga, giảm d iện tích mặt cắt nước,
không đủ để thoát nước.
 Vào mùa mưa, lượng nước đổ vào cống nhiều, kéo theo rác trên mặt đường
làm bít tắc miệng thu nước hầm ga, nước không thể thoát vào đường cống.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status