ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Mua lại và sáp nhập của các công ty
xuyên quốc gia - một số gợi ý chính sách
đối với Việt Nam
Luận văn Thạc sĩ Kinh tế
Hà Nội - 2005
105
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, cùng với
sự chấm dứt chiến tranh lạnh vào đầu những năm 1990 đã làm bộc lộ mạnh
xu thế toàn cầu hóa, mà trước hết là toàn cầu hóa về kinh tế. Đây là hệ quả tất
yếu của tiến trình hội nhập quốc tế liên tục của các chủ thể kinh tế lớn nhỏ,
với vật dẫn là quá trình chuyên môn hóa và phân công lao động sâu rộng
trong từng khâu nhỏ nhất của hoạt động tái sản xuất. Quá trình này dẫn đến sự
phụ thuộc lẫn nhau ngày càng sâu sắc giữa các nước trong quan hệ kinh tế
quốc tế dưới tác động đồng thời các tác nhân: quốc gia, khu vực, các tổ chức
kinh tế quốc tế và các tập đoàn xuyên quốc gia (TNCs ).
Cũng trong quá trình này, TNCs đã không ngừng biến đổi để thích ứng
với trật tự kinh tế quốc tế mới. Với tư cách là chủ thể, là kết cấu tổ chức của
nền sản xuất thế giới hiện đại, TNCs đã trở thành lực lượng đóng vai trò chủ
đạo trong việc hình thành kết cấu mạng kinh tế toàn cầu, là kênh chủ yếu để
cuốn sách này UNCTAD đã nghiên cứu tổng thể về M&A trên toàn thế giới
nhưng mới chỉ nghiên cứu đến năm 1999. Mà những vấn đề đó thì đến nay
đã lạc hậu. Đồng thời những gợi ý mà UNCTAD đưa ra mới chỉ phục vụ cho
những nước phát triển chứ chưa có những gợi ý để giải quyết những vấn đề
tồn tại của các nước đang phát triển như Việt Nam. Ngoài ra là các công
trình nghiên cứu trong những trường hợp cụ thể như: công trình nghiên cứu
của Graeme Woodbridge (2003): Antitrust merger policy: lessons from the
Australian experience. Hay ở Việt Nam là nghiên cứu của trung tâm khoa
học xã hội và nhân văn quốc gia (2001): Sáp nhập một xu thế phổ biến trong
điều kiện cạnh tranh hiện nay; Trần Đăng Nam (2004): Một số vấn đề về sáp
nhập, hợp nhất, mua lại doanh nghiệp. Những nghiên cứu này mới chỉ dừng
lại ở một số lĩnh vực cụ thể như trong lĩnh vực ngân hàng, công nghiệp…
107
Việc khảo cứu toàn diện, có hệ thống và nhất là việc phân tích hiện
tượng M&A của TNCs ở các nước trên thế giới từ đó rút ra những kinh
nghiệm quý báu cho việc thu hút đầu tư của TNCs thông qua hình thức mua
lại và sáp nhập vàoViệt Nam vẫn còn ít được nghiên cứu.
3. Mục đích nghiên cứu
Bằng việc hệ thống lại những vấn đề cơ bản của lý luận về M&A và
thông qua việc phân tích thực trạng M&A ở các nước trên thế giới đặc biệt là
các nước đang phát triển. Để thẩy rõ được những đóng góp tích cực, những
mặt hạn chế của tiến trình này đối với các nước tiếp nhận đầu tư quốc tế
dưới hình thức M&A của TNCs cũng như, rút ra những kinh nghiệm cho
Việt Nam trong việc thúc đẩy thu hút các TNCs hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chủ đề trung tâm của luận văn là làn sóng M&A của TNCs trên thế
giới. Đây là một vấn đề rộng lớn, phức tạp. Trong lịch sử phát triển của nền
Thứ nhất, làm rõ bản chất và các yếu tố quyết định tới hoạt động M&A
của TNCs.
Thứ hai , khảo sát thực trạng hoạt động M&A ở các nước trên thế giới
từ đó rút ra những xu hướng chính của hoạt động đầu tư này.
Thứ ba, phân tích những ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) thông qua M&A đối với nước chủ nhà trong tương quan so sánh với
những tác động của FDI thông qua đầu tư mới.
Cuối cùng, đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam để thúc đẩy
thu hút TNCs mạnh trên thế giới.
109
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn sẽ được kết cấu làm
ba chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về mua lại và sáp nhập của các
công ty xuyên quốc gia
Chương 2: Thực trạng mua lại và sáp nhập của công ty xuyên quốc gia
trên thế giới
Chương 3: Một số gợi ý chính sách cho Việt Nam
110
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ MUA LẠI VÀ SÁP
NHẬP CỦA CÁC CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA
1. 1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Các khái niệm và định nghĩa
động của MNEs không chỉ có tính quốc tế mà còn mang đậm nét đa quốc gia.
Ngoài những đặc điểm chung như đã nêu, các tiêu chí để xem xét một
công ty là MNEs còn được quan niệm không thống nhất giữa các học giả.
Chẳng hạn, các học giả Mỹ thường căn cứ vào phạm vi kiểm soát và quản lý
các hoạt động sản xuất ít nhất từ hai nước trở lên. Hơn nữa, họ còn sử dụng
tên doanh nghiệp (enterprise) hơn là công ty (company) và nhấn mạnh đến
mức độ kiểm soát và quản lý trực tiếp các hoạt động của công ty ở nước ngoài
(Richard E. Caves, 1986). Trong khi đó, một số học giả khác lại nhấn mạnh
về đặc điểm qui mô tài sản của công ty phải đạt đến mức trên 100 triệu USD
(Raymond Vernon, 1971) hoặc được xếp vào danh sách 500 công ty lớn nhất
về tài sản trên thế giới được công bố hàng năm (Harvard Business School,
1974) mới được gọi là MNEs. Ngoài ra, có tài liệu còn định nghĩa MNEs dựa
trên một số tiêu chuẩn cần thiết như số lao động sử dụng ở nước ngoài hoặc tỷ
lệ tài sản ở nước ngoài trên tổng giá trị tài sản của công ty (Jenkins, 1987).
Một số học giả khác còn định nghĩa MNEs là một công ty lớn bao gồm
nhiều công ty nhỏ hay thực thể kinh tế. Những thực thể này có thể thuộc
quyền sở hữu cá nhân hay sở hữu nhà nước hoặc sở hữu hỗn hợp, được thành
lập ở nhiều nước khác nhau và có mối liên kết chặt chẽ. Chúng ảnh hưởng
đến hoạt động của nhau và đặc biệt cùng có chung mục đích và nguồn vốn
kinh doanh. Trong một MNEs, mức độ tự chủ của các thực thể rất khác nhau,
tuỳ thuộc vào hình thức liên kết và lĩnh vực hoạt động giữa chúng.
112
Cuối thập kỷ 80, do sự nới lỏng các qui chế đầu tư nước ngoài ở các
nước đang phát triển và xu hướng tự do hoá thị trường vốn quốc tế, các
MNEs đã tăng trưởng mạnh mẽ. Trào lưu các công ty mẹ (parent firms) mở
rộng các chi nhánh ra nhiều nước (transnationals) đã trở thành đặc điểm nổi
bật trong những năm cuối của thập kỷ 80. Bởi vậy, trong thời kỳ này, thuật
lĩnh vực chuyên doanh nữa mà đã chuyên sang đa doanh và có phạm vi ảnh
hưởng toàn cầu. Bởi thế, đã xuất hiện thuật ngữ công ty toàn cầu. Thực ra,
thuật ngữ này chỉ phản ánh đặc điểm của TNCs trong bối cảnh toàn cầu hoá
hiện nay, còn về bản chất và định nghĩa vẫn không có sự khác biệt đáng kể
(John Stopford, 1999).
Như vậy, qua các khái niệm và định nghĩa trên, có thể đi đến hai nhận
xét quan trọng: Thứ nhất, về bản chất, giữa các thuật ngữ về TNCs không có
sự khác biệt đáng kể, chúng có đặc điểm chung là qui mô lớn, sở hữu đa quốc
gia và kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều nước. Sự khác
biệt chủ yếu là tên gọi, phản ánh đặc điểm nổi bật của TNCs trong từng giai
đoạn lịch sử phát triển hoặc thói quen sử dụng từ ngữ của các học giả. Thứ
hai, khó có thể đưa ra định nghĩa chính xác về TNCs. Bởi thế, định nghĩa
114
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tài liệu tiếng Việt
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Báo cáo về đầu tư trực tiếp nước ngoài qua các
năm, http://www.mpi.gov.vn/fdi
2. Công báo năm 2000, 2001,2002,2003,2004
3. Nguyễn Minh Đức (2004), Tập đoàn kinh tế - mô hinh chiến lước để đổi
mới và phát triển các loại hình doanh nghiệp,Tạp chí nghiên cứu kinh tế
số 07
4. Nguyễn Hải Hà, Nguyễn Quốc Tuấn (2004), Về mô hình tập đoàn kinh
doanh mạnh, Tạp chí nghiên cứu kinh tế số 311
5. Nguyễn Thúy Hòa (2003), Đầu tư của các công ty xuyên quốc gia Hoa Kỳ
tại Việt Nam, Luận văn thạc sỹ, Đại học quốc gia Hà Nội
6. Phạm Quang Huấn (2004), Thành lập cty theo mô hình mẹ - con: Đừng
chạy theo mốt, Tài chính doanh nghiệp
7. Phạm Hải Long (2004), Chu kỳ phát triển của tập đoàn, Nghiên cứu kinh
25. Thanh Xuân (2002), Andersen sẽ không sáp nhập vào KPMG, Vnexpress
26. Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc
công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội
Tài liệu Tiếng Anh
27. Bart M. Lambrecht và Stewart C. Myers (2005), A theory of takeovers and
disinvestment,
National
Bureau
of
Economic
Research
(NBER),
http://www.nber.org/papers/w11082
28. Bengt Holmstrom (2001), Corporate Governance and merger activity in
the U.S.: making sense of the 1980s and 1990s, National Bureau of Economic
Research (NBER), http://www.nber.org/papers/w8220
29. Chien-Chung Nieh (2000), The relationship between the Merges and
Acquisitions and Macroeconomic Fundaments: the U.S. evidence, Tamkang
University, Taiwan
30. Decai Fu (2001), Merger and acquisition in China, Master thesis
116
Katz
(2004),
Merger
http://www.nber.org/papers/w10710
and
Innovation,
NBER,
117
45. R. Glenn Hubbard (1998), A re-examination of the conglomerate merger
wave
in
the
1960s:An
internal
capital
markets
51.UNCTAD (2001), Competition law and policy experts to discuss
cooperation with developing countries, www.unctad.org
52. UNCTAD (2001), Improving the competitiveness of SMEs in developing
countries, www.unctad.org
53. UNCTAD (2002), World Investment reports: Transnational corporations
and export competitiveness, www.unctad.org
54. UNCTAD (2004), Prospect for FDI flows, TNC stragies and policy
developments :2004-2007, www.unctad.org
55. UNCTAD (2004), Exchanging best practices in foreign investment
promotion, www.unctad.org
56. UNCTAD (2004), Follow- up to UNCTAD XI: new developments in
international economic relations, www.unctad.org
57. UNCTAD (2004), World’s largest transnational companies opt for
expansionary stragies, www.unctad.org
58. UNCTAD (2004), Recent competion cases, www.unctad.org
118
59. UNCTAD (2004), Survival in global business arene is key driver of
cross – border merger and acquisition boom, www.unctad.org
60. UNCTAD (2004), The top 10 non- financial TNCs from South – East
Europe and the CISa, ranked by foreign assets, 2003, www.unctad.org
61. UNCTAD (2004), The top 50 non- financial TNCs from developing
countries , ranked by foreign assets, 2003, www.unctad.org
62. UNCTAD (2004), The top 50 financial TNCs ranked by total assets,
2003, www.unctad.org
63. UNCTAD (2004), World Investment reports:The shift toward services,
www.unctad.org
64. UNCTAD (2004), The world’s top 50 non- financial TNCs, ranked by
foreign assets, 2003, www.unctad.org