Quy định của Bộ luật Hồng Đức về hôn nhân và gia đinh. - Pdf 39

Đề bài: Anh/chị hãy chọn một vấn đề tâm đắc nhất trong bộ luật Hồng Đức
và bình luận, phân tích vấn đề đó?
MỤC LỤC

1


Đề tài: Quy định của Bộ luật Hồng Đức về hôn nhân và gia đinh.
A.

LỜI MỞ ĐẦU

Bộ luật Hồng Đức, bộ luật hình chính thống được hoàn chỉnh ở triều đại Lê
Thánh Tông (Hồng Đức) thế kỉ 15, là bộ luật cổ bằng chữ Hán còn lưu giữ được
tương đối đầy đủ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội). BQTHL có 13
chương, 722 điều, gồm 6 quyển, là một thành tựu có giá trị đặc biệt trong trong
lịch sử pháp luật Việt Nam. Mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng
bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ với những quy phạm bảo
vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô tì, người cô quả, tật …
Nhiều quy định của bộ luật tập chung bảo vệ người dân chống lại sự ức hiếp,
sách nhiễu của cường hào, quan lại. Có thể nói rằng đặc sắc và nổi bật nhất
trong Bộ Quốc triều hình luật là chế định về hôn nhân và gia đình .Chế định hôn
nhân và gia đình trong Bộ Quốc triều hình luật là một đề tài rộng lớn và đã được
rất nhiều nhà khoa học trong nước và ngoài nước chọn làm đề tài nghiên cứu.
Bài viết dưới đây sẽ làm nghiên cứu và phân tích đề tài “Quy định của Bộ luật
Hồng Đức về hôn nhân và gia đình ”. phân tích từng quy định và bình luận
những quy định đó.

2



Nguyên tắc đề cao quyền của cha mẹ, chồng, vợ cả:
Khuôn mẫu lí tưởng của trật tự gia đình là sự phục tùng tuyệt đối của người
dưới với người trên.
Nghĩa vụ tòng phu: Người phụ nữ có nghĩa vụ theo chồng, hêt lòng vì chồng
và gia đình chồng. Người vợ có nghĩa vụ để tang cha mẹ, họ hàng nhà chồng,
3


thờ phụng tổ tiên bên chồng, tôn trọng trật tự thê thiếp. Vợ đánh, mắng xâm hại
tới bề trên hoặc tôn trưởng bên chồng đều xử nặng. Nếu chồng đánh vợ thành
thương, vợ có quyền xin li dị nhưng phải được chồng đồng ý. Vợ có nghĩa vụ để
tang chồng ba năm và có quyền thủ tiết tòng phu, gia đình nhà chồng và cha mẹ
đẻ không được ép gả (Điều 284, 289, 290).
II.
1.

Kết hôn
Điều kiện kết hôn
Trong quan hệ kết hôn, luật quy định các điều kiện để có thể kết hôn là:
Thứ nhất: có sự đồng ý của cha mẹ:
Điều 314 : Người kết hôn mà không đủ sính lễ đến nhà cha mẹ người con gái
( Nếu cha mẹ chết cả ,thì đem đến nhà trưởng họ hay nhà người làng để xin )
,mà thành hôn với nhau một cách cẩu thả thì phải biếm một tư và theo lệ sang
hèn ,bắt phải nộp tiền tạ cho cha mẹ ( nếu cha mẹ chết cả thì nộp cho trưởng họ
hoặc trưởng làng ),người con gái phải phạt 50 roi).
Thứ hai: Không vi phạm các trường hợp cấm kết hôn như :
+Không được kết hôn giữa những người họ hàng thân thích:
Điều 319 : Người vô lại lấy cô dì,chị em gái ,kế nữ ( con gái riêng của vợ)
,lấy người thân thích đều phỏn theo luật gian dâm mà trị tội Theo “Thiên nam
dư hạ tập “ ,chương điều lệ , có điều “Lệ giá thú phi loại” nói rằng : Cùng họ


Lễ đính hôn: Các quy định trong bộ luật cho thấy cuộc hôn nhân chỉ có giá trị
pháp lí từ sau lễ đính hôn .
Ví dụ điều 315 quy định : “Gả con gái đã nhận đồ sính lễ mà lại thôi không
gả nữa thì phải phạt 80 trượng …còn người con gái phải gả cho người hỏi
trước” .Tuy nhiên ,nếu trong thời gian từ lễ đính hôn đến khi thành hôn mà một
trong hai bên bị ác tật hay phạm tội thì bên kia có quyền từ hôn .

-

Lễ cưới: Cuộc hôn nhân có giá trị thực tế sau lễ thành hôn. Bộ Quốc triều hình
luật không quy định thủ tục thành hôn ,có lẽ do nhà làm luật dành vấn đề này
5


cho phong tục tập quán, hoặc do thủ tục thành hôn cũng đã được quy định tỉ mỉ
trong Lệ Hồng Đức hôn giá Với việc quy định kết hôn phải qua đính hôn rồi
đến thành hôn mà không cần phải lập văn tự hôn thú ,nhà làm luật triều Lê đã
3.

rất chú trọng đến phong tục tập quán của người Việt.
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng sau khi kết hôn :
Vợ và chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau tại một nơi và phải thực hiện
đày đủ quan hệ vợ chồng.

-

Hành vi “ bỏ lửng vợ 5 tháng không đi lại”của người chồng là vi phạm nghĩa vụ
phải thực hiện đầy đủ quan hệ vợ chồng ,vì vậy người chồng bị “mất vợ”(nếu đã



Vấn đề tài sản giữa vợ và chồng sau khi ly hôn không được Bộ Quốc triều
hình luật quy định một cách rõ ràng.
Chấm dứt hôn nhân

III.

Bộ Quốc triều hình luật quy định hôn nhân chấm dứt khi một trong ba trường
hợp :do vi phạm vào điều kiện cấm kết hôn, do một bên vợ hoặc chồng chết
trước, do ly hôn .
1.

Chấm dứt hôn nhân do vi phạm những điều cấm kết hôn hoặc trường hợp
bị lừa dối, nhầm lẫn
+Không được kết hôn giữa những người họ hàng thân thích:
+ Cấm kết hôn khi mất trật tự thê thiếp;
+Cấm quan cưới phụ nữ bộ dân làm thê thiếp (Điều 103,183);
+ Cấm nô tì lấy dân tự do (Điều 107);
+ Cấm sư nam, đạo sĩ kết hôn (Điều 106);
+Cấm cường hào cưỡng đoạt đàn bà, con gái làm vợ (Điều 106);
+ Cấm cưới phụ nữ phạm tội chạy trốn (Điều 104);
+Cấm lừa dối trong hôn nhân (Điều 94, 95);
+ Cấm mệnh phụ hu nhân cải giá (Điều 98).

2.

Hôn nhân chấm dứt do vợ hoặc chồng chết trước
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng chấm dứt .Cần lưu ý là quan hệ hôn
nhân chỉ thực sự chấm dứt ngay nếu người chết là vợ ,còn nếu người chết là
chồng thì nó chỉ chấm dứt sau khi mãn tang.Quy định này được đặt ra một cách


Quan hệ gia đình
Quan hệ gia đình Trong lĩnh vực quan hệ gia đình, bộ luật đã điều chỉnh các
quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, giữa

8


các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con nuôi, vai trò của
người tôn trưởng tức trưởng họ).
1.

Quan hệ vợ-chồng
Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng,
tuy nhiên luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và
nghĩa vụ nhân thân như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách
nhiệm với nhau (các điều 321 và 308, 309), không được ngược đãi vợ (điều
482), nghĩa vụ chung thủy (điều 401, 405), nghĩa vụ để tang nhau (các điều 2,

2.

7).
Quan hệ cha mẹ-con cái
Đề cập tới các nghĩa vụ và quyền nhân thân của con cái, bao gồm: nghĩa vụ
phải vâng lời và phụng dưỡng cha mẹ, ông bà (khoản 7 điều 2), nghĩa vụ chịu
tội roi, trượng thay cho ông bà, cha mẹ (điều 38), nghĩa vụ không được kiện cáo
ông bà-cha mẹ (điều 511), nghĩa vụ che dấu tội cho ông bà, cha mẹ (các điều 9,
504), ngoại trừ trường hợp cha mẹ hay ông bà phạm các tội mưu phản, mưu đại
nghịch, cha mẹ nuôi giết con đẻ hay mẹ đẻ- mẹ kế giết cha thì được phép tố cáo


bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ.
So với Bộ Hoàng Việt Luật Lệ (năm 1811) ra đời sau hàng thế kỉ, có thể thấy
Bộ Quốc triều hình luật chưa có tính khái quat hoá cao và phân ngành chưa rõ
như Hoàng Việt luật lệ. Tuy nhiên, sự bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong
Quốc triều hình luật lại tốt hơn. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết “ Bao nhiêu
sự tân kỳ mới lạ trong Bộ luật triều Lê đã không còn lưu lại một chút dấu tích
nào trong Luật nhà Nguyễn. Không còn những điều khoản liên quan đến …chế
độ tài sản của vợ chồng” Bộ Quốc triều hình luật tiếp thu nhiều thành tựu lập
pháp của Trung Hoa, chịu ảnh hưởng của cả luật pháp Nhà Đường và Nhà
Minh.
+ Tuy vậy, các quy định về hôn nhân trong Bộ Quốc triều hình luật vẫn có
+ So sánh với Luật phong kiến Trung Quốc và các nước Đông Á khác ta thì
Quốc triều hình luật cũng có sự những điểm tiến bộ hơn Về nhân thân :
Quốc triều hình luật quy định rằng: Người con gái có quyền trả lại sính lễ khi
biết người con trai sắp cưới bị ác tật hoặc tù tội (điều 322), Người vợ có quyền
ly dị nếu người chồng lăng mạ ,mắng nhiếc cha mẹ vợ (điều 333). Đặc biệt ,Bộ
luật còn quy định nếu người chồng bỏ bê vợ mình vì bất cứ lí do gì ( trừ khi thi
hành công vụ) mà kéo dài tới 5 tháng hoặc 1 năm (nếu đã có con), thì người vợ
có thể kiện chồng. Những quy định này không có trong Luật phong kiến Trung
Quốc, các nước Đông Á, cũng như các văn bản cổ Luật trước hay sau triều Lê.
Ngay cả khi Luật bắt buộc người chồng phải bỏ vợ ngoài ý muốn chủ quan, điều
310 quy định “vợ, nàng dâu phạm điều “thất xuất” mà người chồng ẩn nhẫn
không bỏ thì phải tội biếm…”. Tuy nhiên, sẽ không thể ly hôn nếu như khi
phạm điều “thất xuất” người vợ đang ở trong ba trường hợp “tam bất khứ”

.

+ Tiến bộ trong quy định về tài sản: Theo Điều 78 của Đại Thanh Luật Lệ, khi
10


dân được ổn định , trật tự xã hội được duy trì bền vững.

11


-

Chế định hôn nhân trong Bộ Quốc triều hình luật thể hiện tính dân tộc sâu
sắc,mang đậm nét phong tục tập quán cũng như những nét tinh hoa Việt.
Các quy định về hôn nhân trong Bộ Quốc triều hình luật rất phù hợp với hoàn
cảnh , điều kiện kinh tế xã hội cũng như phong tục tập quán của người Việt lúc
bấy giờ. Chẳng hạn như trong các điều 314, 315, 322, quy định về hình thức kết
hôn phải thông qua đính hôn rồi đến thành hôn mà không cần phải lập văn tự
hôn thú , cho thấy rằng các nhà làm luật triều Lê đã rất chú trọng đến phong tục

-

tập quán của người Việt.
Hình thức thể hiện của các chế định hôn nhân trong Bộ Quốc triều hình luật rất
tiến bộ ,các hình thức và thủ tục kết hôn cũng như chấm dứt hôn nhân được quy
định rõ ràng cụ thể ,nhanh gọn và tinh tế.
Chẳng hạn như thủ tục ly hôn rất đơn giản là hai bên vợ chồng viết giấy, viết
giáp lai và cùng kí sau đó mỗi bên giữ một tờ (Việc ly hôn được sự đồng ý của
hai bên và được chứng nhận bằng văn bản).

2.

Những điểm hạn chế :
Mặc dù có rất nhiều điểm tiến bộ nhưng bản chất, Bộ luật Hồng Đức vẫn
mang đậm nét pháp luật phong kiến, và nó giống như các bộ luật phong kiến


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status