Huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng với công tác phòng, chống truyền đạo
trái phép
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hoạt động tôn giáo là một trong những vấn quan trọng và là vấn đề hết sức nhạy
cảm của thế giới, trong nước nói chung và huyện Nguyên Bình tỉnh Cao Bằng nói
riêng. Trong suốt chiều dài lịch sử, nhất là trong 2 cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc, Đảng ta, Bác Hồ luôn coi trọng vấn đề đoàn kết tôn giáo, coi đây là một bộ
phận của cách mạng Việt Nam, cùng với các giai cấp khác góp phần quan trong
trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Thực tế lịch sử cũng đã chứng minh rằng
lực lượng tôn giáo đã có đống góp cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân
tôc ta.
Nguyên Bình là một huyện có tiềm năng đa dạng về đất đai, tài nguyên rừng,
khoáng sản, có vai trò quan trọng và có vị trí chiến lược đặc biệt về an ninh, quốc
phòng. Những năm qua, huyện đã có những thay đổi tích cực, đa số nhân dân các
dân tộc cần cù chịu khó, yên tâm lao động sản xuất, góp phần tạo chuyển biến đáng
kể về phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng. Bên cạnh những mặt tích
cực, vùng huyện vẫn còn một số vấn đề xã hội bức xúc, đặc biệt là hoạt động
truyền đạo Tin lành - Vàng Chứ trái phép đang là vấn đề phức tạp, gây ra những tác
động tiêu cực đến đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, đòi phải
tập trung giải quyết.
Đạo Tin lành xuất hiện ở vùng đồng bào dân tộc thuộc huyện Nguyên Bình vào
cuối những năm 80 của thế kỷ XX. Tuy xuất hiện muộn hơn so với các tôn giáo
khác, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, dưới tên gọi là Tin lành hay “Vàng
Chứ”, đạo Tin lành đã phát triển khá nhanh và lôi kéo được một bộ phận quần
chúng, chủ yếu là đồng bào Mông, Dao tham gia. Mặc dù vài năm gần đây, tình
hình phát triển đạo Tin lành trái phép có chững lại nhưng vẫn diễn biến rất phức
tạp. Đáng chú ý là đạo Tin lành đã thâm nhập vào cả một số cán bộ ở cơ sở thuộc
vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào còn nhiều khó khăn của huyện.
Việc truyền và học đạo Tin lành trái phép ở vùng đồng bào của huyện, nhất là
trong đồng bào Mông, Dao đã để lại hậu quả nghiêm trọng:
Thứ năm, việc phát triển đạo Tin lành trái phép đã gắn với những mục đích
chính trị đen tối, đó là lợi dụng việc phát triển Tin lành để kích động đồng bào di
cư tự do, lôi kéo, tập hợp lực lượng, âm mưu hình thành “Khu toàn Mông”,
“Vương quốc Mông” và thông qua di cư tự do để lan nhanh và loang rộng việc phát
triển đạo Tin lành trái phép, tạo ra nhiều “điểm nóng” ảnh hưởng đến an ninh chính
trị địa bàn biên giới.
Từ những vấn đề trên, tôi thiết nghĩ cần tập trung tuyên truyền, giải thích cho
đồng bào dân tộc đang sinh sống ở huyện Nguyên Bình nói riêng và cả tỉnh Cao
Bằng nói hung thấy rõ tính chất nguy hiểm của việc truyền đạo trái phép. Giúp bà
con hiểu rằng đây không chỉ là vấn đề truyền đạo một cách thuần tuý mà chính là
chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch; vạch trần âm mưu, thủ
đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng
nước ta cũng như những thủ đoạn lừa bịp, dụ dỗ, lôi kéo của những kẻ truyền đạo
trái phép; chỉ rõ cho đồng bào thấy những tác hại, hậu quả nặng nề của việc học và
truyền đạo trái phép. Là cán bộ công tác trong lĩnh vực tư tưởng, thôi nhận thấy vai
trò quan trọng của mình trong việc chỉ đạo công tác tuyên truyền vận động quần
chúng, làm cho đồng bào thấy được Đảng và Nhà nước ta luôn bảo đảm quyền tự
do tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo nhưng cũng kiên quyết đấu
tranh chống mọi sự lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước, kích động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh
quốc gia. Đạo Tin lành - Vàng Chứ trái phép hiện nay không chỉ đi ngược lại với
những giá trị, bản sắc văn hoá của đồng bào các dân tộc, phá hoại sản xuất, làm mất
ổn định xã hội mà còn bộc lộ âm mưu đen tối, muốn lợi dụng vấn đề dân tộc gắn
với vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng nước ta. Sự phát sinh, phát triển của
nó hiện nay đều trái pháp luật, không nằm trong phạm vi tự do tín ngưỡng tôn giáo
một cách chính đáng, vì vậy cần phải loại bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội của đồng
bào các dân tộc.
Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài này. Với
Về người truyền đạo và cách thức truyền đạo:
Người truyền đạo phải là người có chức vụ đạo hợp pháp, được tổ chức giáo hội
bổ nhiệm đảm nhận công việc của Hội thánh trên một địa bàn nhất định, khi sang
một địa bàn khác, người truyền đạo phải được sự chấp thuận của chính quyền địa
phương nơi đi và nơi đến. Người truyền đạo phải theo những quy định mà Điều lệ
của các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân đã ghi và được phê duyệt. Nếu người
truyền đạo thuộc về những tổ chức truyền đạo hợp pháp, nhưng lại đi truyền đạo
không đúng với những quy định của Điều lệ, Hiến chương thì cũng bị xem là
truyền đạo trái phép. ở các tỉnh Tây Bắc hiện nay, đại đa số những người đi truyền
đạo đều không đáp ứng được các quy định nêu trên. Sự thực là, những người truyền
đạo lại hoàn toàn không phải là mục sư, giảng sư... theo đúng nghĩa của tôn giáo
được Nhà nước thừa nhận. Phần lớn họ là những trưởng đạo tự phong, công nhiên
tự coi mình là người truyền đạo có quyền làm Bắt têm, quyền truyền dạy những lời
của Vàng Chứ và Giêsu cho mọi người, quyền làm lễ “vảy nước thánh” đuổi tổ tiên
của người Mông ra khỏi mái nhà của đồng bào. Cách thức truyền đạo của họ cũng
sai trái pháp luật. Không có chức vụ hợp pháp, không được giáo hội bổ nhiệm,
không được chính quyền địa phương cho phép, chúng len lỏi khắp các bản làng với
nhiều hình thức như đe doạ, mua chuộc, lừa bịp, dụ dỗ... để lôi kéo người vào đạo.
2.2. Nội dung của tình huống
Xưa nay tín ngưỡng của đồng bào huyện Nguyên Bình (Cao Bằng) chủ yếu là thờ
cúng tổ tiên. Bỗng vào năm 1989, một số phần tử xấu đã lén lút phát tán tài liệu,
băng hình, băng tiếng tuyên truyền, nhằm lôi kéo một bộ phận đồng bào dân tộc
nhẹ dạ, dân trí thấp, điều kiện kinh tế khó khăn theo đạo Tin lành. Những năm gần
đây Nguyên Bình đã xuất hiện nhiều điểm truyền đạo và sinh hoạt đạểutái phép tại
các bản thuộc các xã vùng cao ngày càng nhiều. Trước tình hình đó, chính quyền
các cấp đã khẩn trương tìm cách giải quyết nhằm ngăn chặn kịp thời tình trạng trên.
Vậy chính quyền huyện Nguyên Bình đã có giải pháp khắc phục như thế nào? tình
hình truyền đạo trái phép ở huyện Nguyên Bình hiện nay ra sao? đây chính là nội
phủ về tín ngưỡng, tôn giáo và ký cam kết từng hộ không theo đạo trái pháp luật.
Bên cạnh đó, lực lượng công an đã thu giữ được hơn 300 băng hình và băng tiếng
có nội dung tuyên truyền đạo trái pháp luật và phối hợp gọi hỏi, răn đe 12 phần tử
tuyên truyền đạo trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị trên địa bàn. Từ năm
2005 đến nay, huyện còn tăng cường hàng chục cán bộ xuống thôn, bản để vận
động, giáo dục quần chúng nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh chính sách của Đảng,
Nhà nước, giải quyết kịp thời những kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân,
đồng thời phản ánh những đề nghị chính đáng của nhân dân lên cấp có thẩm quyền
xem xét, giải quyết. Với phương châm vận động, giáo dục, thuyết phục là chủ yếu,
đến nay, bản Vằng Quan, xã Phúc Lộc, là bản đầu tiên có 100% số hộ theo đạo trái
pháp luật đã nhận biết được âm mưu của bọn xấu và từ bỏ đạo trái phép, trở về với
phong tục truyền thống thờ cúng tổ tiên của gia đình, dòng họ, cộng đồng dân tộc
mình, tích cực tăng gia sản xuất phát triển kinh tế gia đình để cải thiện cuộc sống;
thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.
III.NGUYÊN NHÂN VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC CỦA TÌNH HUỐNG
Thời gian qua việc truyền và theo đạo trái phép trong đồng bào dân tộc thiểu số
vùng Tây Bắc diễn biến phức tạp do nhiều nguyên nhân khác nhau, có nguyên nhân
chủ quan và nguyên nhân khách quan. Đó là đời sống kinh tế - xã hội gặp nhiều
khó khăn, hệ thống chính trị ở nhiều nơi còn yếu; là sự suy yếu của một số thiết chế
xã hội, văn hoá truyền thống; sự khủng hoảng, mất uy tín của tín ngưỡng, phong
tục tập quán cũ, là sự dụ dỗ về vật chất, khống chế, cưỡng ép về tinh thần, phao tin
đồn nhảm... trong cả một âm mưu tôn giáo hoá các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc,
dùng Tin lành - Vàng Chứ để xây dựng cơ sở tư tưởng và xã hội, để lôi kéo người
Mông, từng bước thâm nhập gây ảnh hưởng và tập hợp lực lượng để chống chế độ,
chống Đảng và Nhà nước.
Để khắc phục, hạn chế, tiến tới giải quyết dứt điểm việc truyền và theo đạo trái
phép phải được giải quyết đồng bộ từ kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh chính trị đến
những vấn đề thuộc tâm lý, lối sống dân tộc... ở đây, bước đầu chúng tôi xin nêu ra
rõ tính chất nguy hiểm của chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù
địch; vạch trần âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo
để chống phá cách mạng nước ta cũng như những thủ đoạn lừa bịp, dụ dỗ, lôi kéo
của những kẻ truyền đạo trái phép; chỉ rõ cho mọi người thấy những tác hại, hậu
quả nặng nề của việc học và truyền đạo trái phép.
Công tác tuyên truyền vận động quần chúng phải làm cho đồng bào thấy được
Đảng và Nhà nước ta luôn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và không tín
ngưỡng tôn giáo nhưng cũng kiên quyết đấu tranh chống mọi sự lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích
động chia rẽ các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia. Đạo Tin lành - Vàng
Chứ trái phép hiện nay không chỉ đi ngược lại với những giá trị, bản sắc văn hoá
của đồng bào các dân tộc, phá hoại sản xuất, làm mất ổn định xã hội mà còn bộc lộ
âm mưu đen tối, muốn lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để chống
phá cách mạng nước ta. Sự phát sinh, phát triển của nó hiện nay đều trái pháp luật,
không nằm trong phạm vi tự do tín ngưỡng tôn giáo một cách chính đáng, vì vậy
cần phải loại bỏ nó ra khỏi đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc.
Xưa nay tín ngưỡng của đồng bào huyện Ba Bể (Bắc Kạn)
chủ yếu là thờ cúng tổ tiên. Bỗng vào năm 1989, một số
phần tử xấu đã lợi dụng việc tham quan du lịch tới các
Tăng cường cán bộ giúp
đồng bào ở cơ sở phát triển
sản xuất, nâng cao cảnh
giác trước các thế lực phản
động
bản làng xa xôi vùng cao đời sống khó khăn lén lút phát
tán tài liệu, băng hình, băng tiếng tuyên truyền, lôi kéo
- Phần 2: Thực trạng về vấn đề
Thông thường phần này đề cập đến:
+ Một số đặc điểm tình hình liên quan đến vấn đề nghiên cứu
+ Nêu ra những kết quả đạt được về cả mặt số lượng và các giá trị chính trị, xã hội
của nó và rút ra nguyên nhân đạt được kết quả đó.
+ Nêu ra những hạn chế, khuyết điểm và nhận định hậu quả của nó đối với chính
trị, kinh tế, xã hội và rút ra nguyên nhân đẫn đến khuyết điểm đó.
+ Rút ra những vấn đề cần giải quyết.
- Phần 3: Các giải pháp
Qua phân tích, đánh giá thực trạng và nguyên nhân của nó tác giả đưa ra các giải
pháp với mong muốn giải quyết có hiệu quả các vấn đề nhằm góp phần ổn định
chính trị xã hội, phát triển các mặt đời sống, kinh tế, xã hội.
- Kết luận: Là phần khái quát vấn đề nghiên cứu và kỳ vọng, mong đợi việc triển
khai thực hiện để đạt được mục đích nghiên cứu.
Kiến nghị: Đây là phần mà tác giả có ý kiến đề nghị với các cấp, cá nhân có thẩm
quyên đáp ứng một số điều kiện để cho các giải pháp thực sự có tính khả thi và
khắc phục được một số tồn tại, khuyết điểm.
Trong một thời kỳ dài trước đây cũng như hiện nay việc viết tiểu luận theo chủ đề
vẫn còn nhiều giá trị vì nó phản ánh được thực trạng cũng như lý giải các vấn đề,
đề ra các biện pháp, giải pháp thực hiện; tuy vậy mặt hạn chế của hình thức này
thường dễ rập khuôn, mang tính nghiên cứu nhiều hơn là trực tiếp giải quyết thực
tiễn.
Vì vậy, bắt đầu từ cuối những năm 90 của thế kỷ XX, trước xu thế của thời đại đã
buộc các nhà khoa học, nhà giáo dục phải có những tư duy mới trong giáo dục đào
tạo, bồi dưỡng trong đó có việc chuyển hình thức viết tiểu luận theo hình thức chủ
đề sang hình thức giải quyết tình huống.
B. TIỂU LUẬN THEO TÌNH HUỐNG
I. Tình huống quản lý Nhà nước là gì ?
1. Mô tả tình huống.
Là kể lại (viết lại) câu chuyện về sự kiện, vụ việc đã xảy ra hoặc dự kiến có thể xảy
ra trong hoạt động quản lý nhà nước .
Cần lưu ý một số khía cạnh về phương pháp và yêu cầu của việc mô tả tình huống
quản lý sau:
- Cố gắng trình bày tình huống như là một câu chuyện, viết theo lối kể chuyện để
gây sự hấp dẫn nhưng vẫn phải đảm bảo văn phong, ngôn ngữ hành chính.
- Trình tự câu chuyện được trình bày chặt chẽ, logic về thời gian và không gian.
- Các dữ liệu đưa vào cốt chuyện là sự việc, văn bản có thật nhưng có thể thay đổi
địa danh, nhân vật để không gây sự bất tiện hoặc là những dữ liệu hư cấu nhưng
phải hợp logic câu chuyện và phản ánh thực tiễn.
- Kết thúc việc mô tả (câu chuyện kể) là những vấn đề "mở" đặt ra cho cán bộ,
công chức phải suy nghĩ tìm cách để giải quyết. Các vấn đề mà câu chuyện đặt ra
càng phức tạp và gợi mở nhiều phương án giải quyết thì tình huống càng có sức
hấp dẫn và kích thích sự tham gia không những của bản thân mà còn cho cả đọc
giả.
- Cố gắng tránh các tình huống "pháp lý" chỉ có một cách giải quyết duy nhất đúng
hoặc các tình huống khác mà sau khi đọc đã thấy ngay cách giải quyết duy nhất,
không có cách giải quyết thứ 2, thứ 3 khác.
2. Phân tích nguyên nhân và hậu quả.
Là bước và nội dung quan trọng của xử lý tình huống, qua đây thể hiện kỹ năng
phân tích, đánh giá các sự kiện, vụ việc diễn ra. Đây cũng là cơ sở để xây dựng,
phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống cũng như đề xuất các kiến
nghị ở phần sau.
Tùy thuộc từng tình huống cụ thể mà phân tích các nguyên nhân và hậu quả của sự
kiện, vụ việc đó. Tuy nhiên có thể định hướng phân tích nguyên nhân của tình
huống theo các khía cạnh:
a. Nguyên nhân
- Bảo vệ lợi ích chính đáng của tổ chức nhà nước, của tổ chức xã hội và của công
dân.
4. Xây dựng, phân tích và lựa chọn phương án giải quyết tình huống.
Với bước này học việc rèn luyện kỹ năng xây dựng phương án, phân tích phương
án và quyết định chọn lựa phương án.
Mỗi tình huống có thể được giải quyết theo 2, 3, 4 phương án khác nhau.
Mỗi phương án đưa ra cần được phân tích theo 2 khía cạnh:
- Mặt mạnh, lợi thế của phương án
+ Đáp ứng được nhiều nhất các mục tiêu đặt ra, các mặt nhược điểm, khuyết điểm
của phương án có thể chấp nhận được.
+ Có tình, có lý, phải giải quyết vụ việc trên cơ sở kết hợp giữa pháp lý và đạo
lý được sự ủng hộ của nhân dân.
+ Có tính khả thi: Trong thực tế có những phương án rất lý tưởng nhưng không
được lựa chọn vì chúng không có tính khả thi, chỉ tồn tại trên lý thuyết.
- Mặt bất lợi, yếu điểm của phương án.
Cần lưu ý rằng việc đánh giá chất lượng của việc lựa chọn phương án ngoài mặt
chủ yếu là sự đúng, sai của phương án được lựa chọn còn cần chú ý tới kỹ năng
phân tích và lựa chọn quyết định, tức là khả năng lập luận để đi đến quyết định cuối
cùng. Vì vậy một tình huống như nhau có thể có sự lựa chọn các phương án giải
quyết khác nhau. Vấn đề là ở chỗ khi chọn phương án nào học viên phải phân tích
lập luận cho ý kiến quyết định của mình.
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án đã được lựa chọn.
Với bước này học viên sẽ rèn luyện kỹ năng lập kế hoạch, tổ chức và điều hành
công việc. Cần lưu ý các khía cạnh sau ở khâu này.
- Lập biểu đồ công việc theo thời gian.
- Thiết lập tổ chức và phân công trách nhiệm thực hiện các phần việc cho các tổ
chức và cá nhân.
- Tổ chức sự kiểm tra, kiểm soát.
“Tài liệu tham khảo” (Nếu có phần phụ lục nên đánh số trang riêng). Số trang nên
được đánh ở giữa, phía trên đầu mỗi trang giấy.
- Trình bày mục: Có thể sử dụng một trong 02 cách:
+Các tiểu mục được trình bày và đánh số thành nhóm chữ số Ả rập, nhưng nhiều
nhất chỉ nên gồm bốn chữ số với số thứ nhất chỉ số chương (Ví dụ: 4.1.2.1. dùng để
chỉ tiểu mục 1 nhóm tiểu mục 2 mục 1 chương 4). Tại mỗi nhóm tiểu mục phải có
ít nhất hai tiểu mục, nghĩa là không thể có tiểu mục 2.1.1 mà không có tiểu mục
2.1.2 tiếp theo.
+ Trình bày theo số La mã: I, II; III; mục: 1; 2; 3…; Tiểu mục: a, b,c…; Ý chính: -,
-, -; Ý nhỏ: +, +, +, +.
- Số trang của tiểu luận: tối thiểu là 10 trang(Không kể phần mục lục; danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục (nếu có)).
''Chức sắc, nhà tu hành được truyền đạo tại các cơ sở thờ tự, ngoài phạm vi
đó phải được sự chấp thuận của UBND cấp huyện. Các hình thức truyền đạo
khác được coi là trái phép''.
Những ngày "theo" đạo Tin lành ở Cô Ba.
Thứ Hai, 17.03.2008, 10:21am
(TinNhanhBlog.com) Trúc Hà : Bấy lâu tôi ấp ủ sẽ được “3 cùng” với bà con dân tộc Mông, Dao để tìm hiểu vấn đề “Đạo Tin Lành với người đồng bào dân tộc” và trong lần đi
công tác tại Cao Bằng, tôi đã có cơ hội làm điều ấy. Chưa làm còn háo hức, làm rồi thấy buồn. Không phải tôi là người vô thần, nhưng tôi nghĩ: cứ hiền lành, chăm chỉ làm ăn,
đừng làm điều gì xấu với người khác, hãy giúp đỡ mọi người...... thì cuộc sống như vậy là quá đủ. Chúng ta còn không đủ làm những việc đó thì thời gian đâu mà còn làm
những việc khác. xin chia sẻ cùng mọi người về vấn đề tôi đã tìm hiểu.
NHỮNG NGÀY "THEO" ĐẠO TIN LÀNH Ở CÔ BA
Bài 1: Về Lũng Cuổng nghe hát thánh ca
Do đã được giới thiệu trước về địa bàn quản lý của Đồn BP Cô Ba hiện đang là "rốn" của hoạt động tôn giáo trái pháp luật ở tỉnh Cao Bằng nên tôi quyết định “cắm bản”
tại đây. Những ngày “ba cùng” với bà con dân bản, lòng tôi cứ băn khoăn tự hỏi: Vì đâu mà đạo Tin Lành (hoạt động trái phép) lại có thể dễ dàng đến với đồng bào nơi đây đến
thế?
Đúng 6h 30 phút, mọi người đến chật kín nhà ông Mìn. Căn nhà rộng chừng 70m2 được chiếu sáng bởi duy nhất 1 bóng đèn nê ông chạy bằng thủy điện. Phụ nữ ngồi trên tấm
cót trúc trải giữa nhà, đàn ông ngồi trên những chiếc ghế gỗ.
Tiếng trẻ con khóc oe oe bên cạnh. Tôi chợt nhận ra em Mẩy Hiang (8 tuổi nhưng trông như em bé 6 tuổi) được mẹ đỡ lấy đứa em Hiang địu từ trưa. Dây địu thắt vào vai đau
điếng, Hiang lấy hai bàn tay vừa xoa bờ vai vừa lách vào ngồi cạnh tôi. Sau khi ông Mìn đứng lên bục giảng kinh nói vài lời phát biểu, 1 thanh niên trẻ (về sau tôi mới biết đó là
Tẩn Dấu Nần) cầm quyển thánh ca bắt nhịp cho mọi người hát theo. Tiếng thánh ca du dương, trầm bổng thỉnh thoảng lại bị phá vỡ bởi tiếng trẻ con khóc vì đói.
Kết thúc bài thánh ca, phó nhóm Phủng Sài Liềm đứng dậy giảng nghĩa bài thánh ca. Tất cả nhắm mắt, cúi đầu lắng nghe chăm chú rồi đồng loạt Amen! Tiếp đó, các đội thánh
ca thanh niên (do Tẩn Tả Mẩy phụ trách), đội thánh ca thiếu nhi (do Tẩn Dấu Quên phụ trách) vừa múa vừa hát thánh ca. Tất cả đều hát say sưa, không ngại ngần như quên
hết sự hiện diện của những người xung quanh.
Ngoài ra còn có các đội thánh ca của những người có vợ, chồng nhưng chưa có con ( do Tẩn Dấu Liềm phụ trách) và đội thánh ca của những người có chồng đã có con (do
Tẩn San Mẩy, vợ của nhóm trưởng Tẩn Quán Mìn phục trách).
Kết thúc, tất cả khoanh tay về phía trước, cúi đầu, mắt nhắm và hát thánh ca bỏ mặc những đứa trẻ mệt, đói nằm lăn ra sàn ngủ tự lúc nào.
Tôi rời khỏi nhà ông Mìn khi trời đã tối. Gió thổi phần phật qua những tàu lá chuối. Mấy đứa trẻ vẫn cứ đuổi nhau ngoài hiên, tranh nhau rít lấy vị ngọt từ những đoạn thân
ngô nhạt thếch.
Đón tôi, Thiếu uý Kiên thở dài: "Vừa nãy mấy người thợ xây than phiền, ngày mai người dân bỏ cả ngày đi cầu nguyện, không đi chuyển vật liệu. Cứ đà này, phân trường
sẽ không hoàn thành theo kế hoạch".
Tuy nhiên, vấn đề đạo Tin lành ở các tỉnh miền núi phía Bắc còn nhiều bất cập. Phần lớn bà con chưa
hiểu hết được tín lý chính thống cơ bản của đạo Tin lành, mới chỉ dừng ở mức độ sơ khai, có nơi thực
hiện các bí tích tôn giáo chưa đúng bài bản. Số người cầm đầu đạo đều có trình độ văn hoá thấp, chưa
được đào tạo làm chức sắc tôn giáo ( thậm chí có người mù chữ).
Vì vậy, việc thực hiện chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước tại khu vực miền núi phía Bắc còn gặp
nhiều khó khăn và chậm so với các địa bàn khác. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo
quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, Nhà nước ta không phân biệt đối xử về
chính sách tôn giáo với các dân tộc, vùng miền và giải quyết vấn đề tôn giáo một cách hài hoà với các
chính sách về kinh tế, văn hoá và đại đoàn kết dân tộc để ổn định, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội
theo hướng bền vững.
việc rà soát, sắp xếp, ổn định và đưa hoạt động của các chi hội địa phương đi vào nền
nếp, kỷ cương, xử lý nghiêm các chức sắc, tín hữu vi phạm Hiến chương của Giáo hội
cũng như vi phạm pháp luật, bảo đảm cho sinh hoạt lành mạnh, tích cực của Hội Thánh
theo đúng pháp luật và đường hướng đã xác định.
Mục sư mong muốn được Nhà nước và các cấp chính quyền tiếp tục giúp đỡ để Hội
Thánh hoàn thành trọng trách của mình trong nhiệm kỳ, củng cố mối quan hệ tốt đẹp
với các hệ phái Tin Lành khác, nâng cao vai trò, vị trí, những đóng góp tích cực của Hội
Thánh trong lòng dân tộc, thực hiện hữu hiệu phương châm mà Hội Thánh đã đồng tâm
lựa chọn" Sống Phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc".
TỈNH CAO BẰNG
06/05/2009
I. MỘT SỐ THÔNG TIN CƠ BẢN
1. Khái quát điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Tỉnh Cao Bằng là tỉnh miền núi, vùng cao, nằm ở toạ độ địa lý 22022'-23007' vĩ độ Bắc, 105016'-106050' kinh độ Ðông, cách thủ đô Hà Nội 286km. Phía
Bắc và Ðông Bắc giáp tỉnh Quảng Tây-Trung Quốc, có đường biên giới dài trên 311km. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.690,72 km2, chiếm 2,03% diện tích tự nhiên cả
nước. Các đường giao thông quan trọng gồm: Tuyến đường quốc lộ 3, quốc lộ 4. Hệ thống sông ngòi chính gồm có sông Bằng Giang, sông Gâm, sông Bắc Vọng, sông
Quây Sơn.
Ðịa hình: Ðặc điểm địa hình tỉnh Cao Bằng chia cắt phức tạp bởi nhiều dãy núi cao, xen kẽ là những sông suối ngắn, thung lũng hẹp, độ dốc lớn với vùng núi chiếm
90% diện tích tự nhiên toàn tỉnh, gồm: Núi đá vôi chiếm 25% diện tích toàn tỉnh; núi đất chiếm 65% diện tích toàn tỉnh. Ðiểm cao nhất có độ cao 1.980m; điểm thấp nhất có
độ cao dưới 200 m. Ðộ cao trung bình 600-1000 m so với mực nước biển.
Khí hậu: Cao Bằng có khí hậu mang tính chất đặc thù của dạng khí hậu lục địa miền núi cao (khí hậu châu Á nhiệt đới) thể hiện 4 mùa trong năm, nhưng rõ rệt nhất
là mùa hè và mùa đông, biên độ nhiệt độ thay đổi lớn, lượng mưa ít và phân bố không đều. Mưa, bão tập trung từ tháng 5 đến tháng 8 với lượng mưa trung bình hàng
năm là 1.500 mm. Vùng mưa nhiều gồm các huyện Nguyên Bình, Bắc Hà Quảng, Thông Nông, Trà Lĩnh, Quảng Hoà, Hạ Lang là 1.500-1.900 mm; vùng mưa trung bình:
Hòa An, Nam Hà Quảng, Trùng Khánh là 1.300-1.500 mm. Các hiện tượng gió lốc, gió bấc, tuyết rơi, sương muối, mưa đá xảy ra thường xuyên. Nhiệt độ trung bình hàng
năm cao nhất 350C, thấp nhất 0oC. Hàng năm có 3 tháng mùa hè (từ tháng 6 đén tháng 8) nhiệt độ trung bình là 30-340C, tháng nóng nhất là tháng 7; mùa đông, nhiệt độ
trung bình là 5-60C, tháng lạnh nhất là tháng 1. Tần suất sương muối thường xảy ra vào tháng 1 và tháng 2.
2. Dân số - Dân tộc
Dân số - Dân tộc: Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Cao Bằng có 490.335 người. Trong đó, lao động xã hội toàn tỉnh là 273.456 người, chiếm 55,5% dân số.
nhì trong các động Việt Nam, có chiều dài điều tra sơ bộ khoảng 3 km nhưng nhiều lối lạch chưa thám hiểm hết.
4. Cơ sở hạ tầng có đến năm 2002
4.1. Mạng lưới giao thông bộ: Toàn tỉnh hiện có 1.671,57km đường giao thông, trong đó: đường do Trung ương quản lý dài 347km, chiếm 21%; đường do tỉnh quản
lý dài 535,948km, chiếm 32%; đường do huyện quản lý dài 788,62km, chiếm 47%. Chất lượng đường bộ: Ðường cấp phối, đường đá dăm chiếm 24,6%, đường nhựa chỉ
chiếm 9,3%, còn lại là đường đất. Hiện còn 5 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm.
4.2. Mạng lưới bưu chính viễn thông: Tổng số lượng bưu cục và dịch vụ toàn tỉnh là 35 đơn vị; số máy điện thoại là 8.948 máy, tỷ lệ đạt 1,79 máy/100 người dân;
số xã có điện thoại là 135 xã/189 xã.
4.3. Mạng lưới điện quốc gia: Hệ thống điện lưới quốc gia đã hoà mạng đến tất cả các huyện trong tỉnh. Hiện số xã có điện lưới quốc gia là 115 xã, đạt 60,84%, còn
76 xã chưa có điện lưới quốc gia.
4.4. Hệ thống cấp nước sinh hoạt: Hệ thống cấp nước sinh hoạt được xây dựng ở thị xã và một số thị trấn, hàng năm có khả năng cung cấp 961.000m3 nước sinh
hoạt cho nhân dân. Năm 2002, đã cấp nước sinh hoạt cho 170.790 người, chiếm 42% dân số nông thôn.
5. Kinh tế - Xã hội năm 2002
- Tốc độ tăng trưởng GDP đạt 10%.
- Thu nhập bình quân đầu người: 2,7 triệu đồng/năm.
- Tóm tắt cơ cấu ngành:
+ Nông lâm nghiệp:
46,31%.
+ Công nghiệp - XDCB: 16,03%.
+ Thương mại và dịch vụ: 37,66%.
- Một số sản phẩm chủ yếu: Xi măng, vật liệu xây dựng, ngô, đậu tương, thuốc lá, cà phê, chè, hạt dẻ, mận, mơ, trâu, bò, lợn.
II. MỘT SỐ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ MIỀN NÚI
1. Kết quả phân định 3 khu vực
Huyện Bảo Lạc:
- Khu vực I (VC): Thị trấn Bảo Lạc.
- Khu vực II (VC): Xã Bảo Toàn, Lý Bôn, Mông Ân, Hồng Trị, Hưng Ðạo, Vĩnh Quang , Nam Quang, Tân Việt.
- Khu vực III (VC): Xã Phan Thanh, Khánh Xuân, Xuân Trường, Huy Giáp, Ðịnh Phùng, Sơn Lộ, Vĩnh Phong, Hồng An, Cô Ba, Thương Hà, Cốc Păng, Ðức Hạnh,
Quảng Lâm, Yên Thổ, Thái Học.
Huyện Hạ Lang:
- Khu vực I (VC): Xã Thanh Nhật.
- Khu vực II (VC): Xã Ðồng Loan, Vĩnh Quý, An Lạc.
- Khu vực II (VC): Xã Lê Lợi, Thụy Hùng, Vân Trình, Kim Ðồng, Thái Cường.
- Khu vực III (VC): Xã Ðức Xuân, Danh Sỹ, Ðức Long, Thị Ngân, Trọng Con, Ðức Thông, Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng.
Huyện Hoà An:
- Khu vực I (MN): Xã Ðề Thám, Hưng Ðạo, Vĩnh Quang, thị trấn Nước Hai.
- Khu vực II (MN): Xã Bình Long, Hồng Việt, Bế Triều, Hoàng Tung; (VC): Xã Nam Tuấn, Ðức Long, Nguyễn Huệ, Ðại Tiến, Chu Trinh.
- Khu vực III (VC): Xã Dân Chủ, Quang Trung, Hồng Nam, Lê Chung, Ngũ Lão, Trương Lương, Công Trường, Ðức Xuân, Bạch Ðằng, Bình Dương, Hà Trì, Trưng
Vương.
Thị xã Cao Bằng:
- Khu vực I (MN): Phường Sông Hiến, phường Sông Bằng, phường Hợp Giang, phường Tân Giang.
- Khu vực II (VC): Xã Ngọc Xuân, Hoà Chung, Duyệt Trung.
2. Danh sách các xã thuộc chương trình 135
- Huyện Bảo Lạc: Xã biên giới: Khánh Xuân, Xuân Trường, Cô Ba, Thượng Hà, Cốc Pàng; xã ÐBKK: Phan Thanh, Huy Giáp, Ðỉnh Phùng, Sơn Lộ, Hồng Trị, Hồng
An, Hưng Ðạo, Bảo Toàn.
- Huyện Hạ Lang: Xã biên giới: Ðồng Loan; Minh Long, Lý Quốc, Quang Long, Việt Chu, Thái Ðức, Thị Hoa, Cô Ngân; Xã ÐBKK: Thắng Lợi, Ðức Quang, Kim Loan,
Vĩnh Quý.
- Huyện Thông Nông: Xã biên giới: Vị Quang, Cần Yên; Xã ÐBKK: Ngọc Ðộng, Yên Sơn, Thanh Long, Bình Lãng, Lương Thông, Ða Thông, Lương Can.
- Huyện Nguyên Bình: Xã ÐBKK: Tam Kim, Triệu Nguyên, Ca Thành, Yên Lạc, Phan Thanh, Mai Long, Vũ Nông, Thành Công, Quang Thành, Hưng Ðạo, Hoa Thám,
Thịnh Vượng, Thái Học, Lang Môn, Bắc Hợp.
- Huyện Hà Quảng: Xã biên giới: Nà Sác, Sóc Hà, Trường Hà; Xã ÐBKK: Quý Quân, Kéo Yên, Lũng Nặm, Vân An, Cải Viên, Thương Thôn, Nội Thôn, Hạ Thôn,
Tổng Cọt, Hồng Sĩ, Sĩ Hải, Mã Ba.
- Huyện Trà Lĩnh: Xã biên giới: Hùng Quốc, Quang Hán; Xã ÐBKK: Xuân Nội, Tri Phương, Cô Mười, Lưu Ngọc, Quang Vinh, Quốc Toản, Quang Trung.
- Huyện Trùng Khánh: Xã biên giới: Chi Viễn; Xã ÐBKK: Ðàm Thuỷ, Ðoài Côn, Phong Nặm, Ngọc Khê, Ngọc Chung, Lăng Hiếu, Thân Giáp, Ðình Phong, Lăng Yên,
Cao Thắng, Trung Phúc.
- Huyện Quảng Uyên: Xã ÐBKK: Quảng Hưng, Bình Lăng, Cai Bộ, Hoàng Hải, Hạnh Phúc, Ðài Khôn, Hồng Quang, Phi Hải.
- Huyện Thạch An: Xã ÐBKK: Ðức Xuân, Danh Sỹ, Ðức Long, Thị Ngân, Trọng Con, Ðức Thông, Canh Tân, Minh Khai, Quang Trọng, Thuỵ Hùng, Vân Trình.
- Huyện Hoà An: Xã ÐBKK: Dân Chủ, Quang Trung, Hồng Nam, Lê Trung, Ngũ Lão, Trưng Lương, Công Trừng, Ðức Xuân, Bạch Ðằng, Bình Dương, Hà Trì, Trưng
Vương, Ðại Tiến, Chu Trinh, Hồng Việt.
- Huyện Bảo Lâm: Xã ÐBKK: Tân Việt, Nam Quang, Vĩnh Quang, Lý Bôn, Mông Ân, Vĩnh Phong, Ðức Hạnh, Quảng Lâm, Yên Thổ, Thái Học.
- Huyện Phục Hoà: Xã biên giới: Tà Lùng; Xã ĐBKK: Cách Linh, Mỹ Hưng, Triệu Ẩu, Ðại Sơn, Lương Thiện, Tiên Thành, Hoà Thuận.
3. Một số vấn đề dân tộc và tôn giáo
350 USD, năm 2010 đạt trên 500 USD.
Cơ cấu kinh tế năm
Nông, lâm nghiệp
Công nghiệp và xây dựng
Thương mại và dịch vụ
năm 2005
47%
18%
35%
năm 2010.
40%
22%
38%
- Tổng sản lượng lương thực đạt 185-190 ngàn tấn vào năm 2005.
- Tỷ lệ tích luỹ đầu tư GDP giai đoạn 2001 - 2005 là 14% và giai đoạn 2006 - 2010 là 15%.
- GDP đầu người năm 2005 là 2,6 triệu đồng và năm 2010 là 5,7 triệu đồng (tính theo giá thực tế).
- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp trên 1 ha đạt hơn 15 triệu đồng vào năm 2005 và 20 triệu đồng trở lên vào năm 2010. Tỷ lệ che phủ rừng năm 2005 đạt 45-47%,
năm 2010 đạt khoảng 50%.
- Trước năm 2005 cơ bản hoàn thành xây dựng đường ôtô đến trung tâm các xã trong toàn tỉnh. Năm 2005 phấn đấu đạt 90% số xã có điện và 80% số dân được sử
dụng điện. Năm 2010 đạt 100% các xã trong tỉnh có điện.
- Thu ngân sách trên địa bàn tỉnh mỗi năm tăng 10% trở lên. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt từ 15-20 triệu USD vào năm 2005 và từ 30-40 triệu USD vào năm 2010.
- Năm 2005 có 100% dân cư thành thị và 50% dân cư nông thôn, năm 2010 có 90% dân cư trong toàn tỉnh được dùng nước sạch.
- Cơ bản xóa xong hộ đói vào năm 2003, giảm hộ nghèo xuống mỗi năm 2-3%.
- Năm 2005 có 100% số xã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học- xóa mù chữ, chống tái mù chữ; 50% số xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục trung
học cơ sở. Năm 2010 có 80% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập trung học cơ sở.
- Năm 2005 phủ sóng truyền hình đạt 70% số xã. Có 80% dân số được xem truyền hình vào năm 2010; 100% số xã có điện thoại, bình quân 2 máy/100 dân. Năm
2010 có 100% số xã được phủ sóng và 100% số hộ được nghe đài.