VAI TRÒ CỦA KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG BARACK OBAMA - Pdf 40

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NGOẠI GIAO

HỌC VIỆN NGOẠI GIAO

ĐOÀN THỊ MINH NGỌC

VAI TRÒ CỦA KHU VỰC CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG
ĐỐI VỚI MỸ DƯỚI THỜI TỔNG THỐNG
BARACK OBAMA

Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế
Mã số: 60310206

LUẬN VĂN THẠC SĨ


Hà Nội, tháng 6 năm 2014
Luận văn được hoàn thành tại Học viện Ngoại giao – Bộ Ngoại giao
...................................................................................................................................
Người hướng dẫn: TS. Đỗ Sơn Hải
Trưởng khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao – Học viện Ngoại giao

Phản
biện
1
:
.........................................................................................................................................

Phản

Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 01 tháng 6 năm 2014
Tác giả luận văn

Đoàn Thị Minh Ngọc


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast
Asian Nations

EU

Liên minh châu Âu

European Union

GDP

Tổng sản phẩm quốc nội

Gross Domestic Product

APEC

Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á –

Asia-Pacific Economic

Free trade area

OPCON

Quyền chỉ huy tác chiến trong thời

Operational control

chiến
ARF

Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEAN Regional Forum

ADMM+

Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các The ASEAN Defence
nước ASEAN mở rộng

Ministers' Meeting Plus

ASEAM

Diễn đàn hợp tác Á – Âu

The Asia-Europe Meeting

EAS



Tập đoàn đầu tư tư nhân hải ngoại

USTDA

Cơ quan Phát triển và Thương mại
Mỹ

Overseas Private
Investment
Corporation
United States Trade and
Development Agency

TIFA

Hiệp định khung về thương mại và
Đầu tư

Trade and Investment
Framework Agreement

PIF

Diễn đàn các quốc đảo Thái Bình
Dương

LMI

Pacific Islands Forum

TIỂU KẾT......................................................................................................24
CHƯƠNG 2: .................................................................................................26
VAI TRÒ CỦA CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI CHÍNH
QUYỀN BARACK OBAMA (2009 – 2016)...............................................26
2.2. Mục tiêu của Chính sách tái cam kết với khu vực châu Á - Thái
Bình Dương.................................................................................................28
2.2.1. Chính trị........................................................................................29
2.2.2. Kinh tế............................................................................................36
2.2.3. An ninh..........................................................................................38
2.2.4. Quân sự: .......................................................................................40


2.3. Vai trò của khu vực châu Á - Thái Bình Dương đối với chính quyền
Barack Obama............................................................................................45
2.3.1. Vực dậy nền kinh tế Mỹ thời kỳ suy thoái. .................................45
2.3.2. Củng cố vai trò “lãnh đạo thế giới”.............................................48
TIỂU KẾT......................................................................................................54
CHƯƠNG 3: .................................................................................................56
KHẢ NĂNG THAY ĐỔI VAI TRÒ CỦA CHÂU Á – THÁI BÌNH
DƯƠNG ĐỐI VỚI MỸ THỜI KỲ HẬU OBAMA....................................56
3.1. Dự báo thay đổi đối với chính quyền Mỹ..........................................56
3.1.1. Một nhân vật thuộc đảng Dân chủ...............................................57
3.1.2. Một nhân vật thuộc đảng Cộng hòa.............................................58
3.2. Khả năng thay đổi đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương......59
3.2.1. Triển vọng xung đột......................................................................61
3.2.2. Triển vọng hợp tác........................................................................63
3.3. Liên hệ với Việt Nam .........................................................................64
3.3.1. Việt Nam tận dụng tốt thời cơ có được từ quan hệ với Mỹ.........64
3.3.2. Một vài dự báo về tương lai.........................................................72
TIỂU KẾT......................................................................................................77

Với mục đích nghiên cứu để có thể trả lời phần nào cho những câu hỏi đó,
tôi đã chọn cho mình đề tài nghiên cứu Luận văn có tên: “Vai trò của khu vực
châu Á – Thái Bình Dương với Mỹ dưới thời tổng thống Barack Obama”.


2

2. Tình hình nghiên cứu đề tài:
Tầm quan trọng của khu vực châu Á – Thái Bình Dương đối với nước Mỹ
đã được khẳng định từ lâu trong nhiều nghiên cứu. Hơn nữa các công trình
nghiên cứu đã có cũng tập trung rất nhiều vào việc phân tích chính sách “hướng
Đông” của Mỹ trong những năm gần đây. Tuy nhiên các nghiên cứu đó lại mới
chỉ chú ý phân tích việc triển khai chính sách hoặc tầm ảnh hưởng của chính
sách này chứ để chỉ rõ vai trò của khu vực châu Á – Thái Bình Dương trong việc
đáp ứng các mục tiêu mà giới lãnh đạo Mỹ đặt ra thì hầu như vẫn chưa được chú
trọng đúng mức và chưa có một nghiên cứu cụ thể nào. Trong bối cảnh như vậy,
việc chọn đề tài là “Vai trò của khu vực châu Á – Thái Bình Dương với Mỹ
dưới thời tổng thống Barack Obama” sẽ có những ý nghĩa nhất định, đóng
góp cả về mặt lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu chính sách “hướng
Đông” của chính quyền tổng thống Barack Obama.
Luận văn có tham khảo từ một số sách, tạp chí, bài nghiên cứu của các
chuyên gia, học giả trong và ngoài nước về vai trò của châu Á- Thái Bình Dương
trong chính sách đối ngoại Mỹ qua các giai đoạn từ sau chiến tranh Lạnh đến
nay. Một số tài liệu tham khảo có giá trị như sách “Sự điều chỉnh chiến lược hợp
tác khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong bối cảnh quốc tế mới” của Nguyễn
Xuân Thắng (2004), “Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu”, Lý Thực Cốc
(1996), “Chính sách kinh tế của Mỹ đối với khu vực châu Á- Thái Bình Dương
kể từ sau chiến tranh Lạnh”, Đinh Quý Độ (2000), “Quan hệ của Mỹ với các
nước lớn ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương”, Học viện quan hệ quốc tế
(2003) và các bài nghiên cứu đăng trên tạp chí như “Chính sách châu Á - Thái

Mỹ thời hậu Obama.

5. Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Chính sách châu Á - Thái Bình
Dương của chính quyền Tổng thống Barack Obama
• Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung vào các mục tiêu trong chính
sách châu Á – Thái Bình Dương của Chính quyền Barack Obama.
6. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu.
• Về phương pháp nghiên cứu: Để làm rõ vai trò của châu Á - Thái Bình
Dương đối với Mỹ, Luận văn sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống, cụ thể là:
Vai trò của châu Á - Thái Bình Dương sẽ được đánh giá dựa vào khả năng đáp
ứng của khu vực này, trên thực tế những mục tiêu mà chính quyền Obama đặt ra


4

trong chính sách đối ngoại.
• Về nguồn tài liệu: Các tài liệu sẵn có trên thư viện Học viện Ngoại giao
là nguồn tài liệu chính trong quá trình thực hiện Luận văn. Bên cạnh đó có sử
dụng các nguồn tài liệu trên mạng Internet và một số tài liệu tự sưu tầm.
7. Ý nghĩa của Đề tài nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về chính sách của Tổng thống Obama với khu vực châu
Á- Thái Bình Dương không còn là một đề tài mới mẻ mà đã được phân tích, tìm
hiểu từ khi nó mới ra đời, bởi tính nóng hổi cũng như cần thiết của vấn đề này.
Tuy nhiên, người viết chỉ định hướng luận văn đi sâu vào phân tích và nghiên
cứu vai trò của khu vực này đối với chính sách đối ngoại của Mỹ. Từ đó, người
viết mong muốn đề tài nghiên cứu này sẽ đóng góp vào nguồn tư liệu phục vụ
cho công tác nghiên cứu chính sách của một đối tác quan trọng của Việt Nam.
Thông qua việc xác định vai trò của khu vực cũng như phân tích và dự báo phản
ứng của Mỹ đối với khu vực này, chúng ta có thể xác định được cơ hội cũng như


6

CHƯƠNG 1:
VAI TRÒ CỦA CHÂU Á – THÁI BÌNH DƯƠNG ĐỐI VỚI MỸ SAU
CHIẾN TRANH LẠNH (1991 -2008)

1.1. Trong giai đoạn chính quyền Bill Clinton (1993 – 2000)
Khi tổng thống Bill Clinton lên cầm quyền, tình hình thế giới có nhiều biến
chuyển. Thế giới bước vào thời kì hậu chiến tranh lạnh với sự sụp đổ của Liên
Xô và các nước Đông Âu. Thế đối đầu về tư tưởng giữa hai cực đã hoàn toàn
chấm dứt, thay vào đó là sự nổi lên của các vấn đề kinh tế. Xu hướng chủ đạo
của các nước trên thế giới là duy trì hòa bình, ổn định và tìm kiếm lợi thế tương
đối nhất trong trật tự quốc tế mới đang hình thành.
Mặc dù nguy cơ nổ ra một cuộc chiến tranh giữa các cường quốc đã bị đẩy
lùi nhưng thế giới sau chiến tranh lạnh lại chứa đựng nhiều yếu tố bất ngờ và
không chắc chắc, nguy cơ xung đột hay các cuộc chiến tranh cục bộ ở các khu
vực do mâu thuẫn về sắc tộc, tôn giáo và bất cân bằng về phát triển kinh tế hoặc
những tranh chấp lãnh thổ ngày càng lớn. Hơn nữa, những vấn đề mang tính toàn
cầu như nạn khủng bố, ô nhiễm môi trường, buôn bán ma túy… đang trở thành
nỗi lo ngại chung đối vơi tất cả các quốc gia, đòi hỏi sự hợp tác chung tay giải
quyết các vấn đề này.
Bill Clinton – vị tổng thống đầu tiên thời kỳ “hậu chiến tranh Lạnh” đã phải
đối mặt với một môi trường đầy biến động. Là siêu cường duy nhất còn tồn tại,
nước Mỹ đã gặp phải những thách thức cũng như những cơ hội hết sức lớn lao.
Sức mạnh tổng hợp của Mỹ đã giảm đi một cách tương đối. Nền kinh tế đã giảm
sút nghiêm trọng, vai trò lãnh đạo của Mỹ trên thế giới cũng bị thách thức, bất
chấp thắng lợi của Mỹ và đồng minh trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Ở trong
lòng nước Mỹ lúc đó diễn ra một cuộc tranh luận về mục tiêu chiến lược của Mỹ
trong giai đoạn mới. Trước tình hình đó, Clinton được bầu làm tổng thống với

Một mục tiêu chiến lược được chính quyền Clinton đặc biệt coi trọng, đó là


8

khôi phục và phát triển kinh tế Mỹ phải là ưu tiên số một. Quan điểm này bắt
nguồn từ nhận thức, đánh giá của chính quyền đảng Dân chủ rằng nền kinh tế
đang suy yếu của Mỹ vào đầu thập niên 90 là nguy cơ thách thức nghiêm trọng
nhất đối với nước Mỹ. Đặc biệt, trong bối cảnh thế giới đang ở trong thời kỳ hòa
hoãn mới, mà nội dung chính là chạy đua kinh tế trên quy mô toàn cầu, sức
mạnh của một quốc gia chủ yếu dựa trên sức mạnh kinh tế; sức mạnh quân sự
tuy vẫn có ý nghĩa quan trọng nhưng không còn là yếu tố chủ yếu quyết định sức
mạnh quốc gia. Căn cứ vào quan điểm này, Chính quyền Clinton chủ trương xử
lý mối quan hệ giữa kinh tế, an ninh quốc phòng và đối ngoại theo nguyên tắc
kinh tế là ưu tiên hàng đầu, đồng thời coi trọng các vấn đề an ninh, quốc phòng
và đối ngoại nhằm đảm bảo cho nước Mỹ hùng mạnh, tạo cơ sở vững chắc cho
việc thực hiện chiến lược toàn cầu mới, xây dựng một trật tự thế giới theo ý đồ
của Mỹ.
Duy trì sự ổn định trong khu vực, ngăn ngừa xung đột quân sự
Mục tiêu chiến lược an ninh của Tổng thống Bill Clinton đề ra là duy trì
vững chắc nền an ninh của Mỹ dựa vào lực lượng vũ trang luôn sẵn sàng chiến
đấu hỗ trợ cho việc phát triển kinh tế phồn thịnh ở trong nước và phát triển dân
chủ ra nước ngoài; duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực cần thiết cho việc
thiết lập trật tự quốc tế mới trong vùng do Mỹ điều khiển. Chính vì vậy, điều
quan trọng là duy trì sự cân bằng tương đối ổn định giữa các cường quốc trung
tâm trong khu vực, ngăn ngừa xung đột quân sự với bất cứ cường quốc hay liên
minh nào nổi lên thống trị khu vực, thách thức lợi ích của Mỹ, đảm bảo lợi ích
an ninh kinh tế, đề cao giá trị Mỹ.
Bên cạnh đó, mục tiêu của Mỹ hướng đến châu Á- Thái Bình Dương còn
là ngăn chặn sự nổi lên của một đối trọng. Cùng với châu Âu, châu Á - Thái

phát biểu tại Liên hợp quốc, Tổng thống Clinton đã nhấn mạnh: “Trong chiến
tranh lạnh chúng ta tìm cách ngăn chặn mối đe dọa đối với sự sống còn của các
thể chế tự do… giờ đây chung ta tìm cách mở rộng tập hợp các quốc gia sống
dưới các thế chế tự do đó” [11].


10

Đây cũng chính là hạt nhân của “học thuyết Clinton” về mở rộng dân chủ với
bốn điểm chính: (1) tăng cường các “nền dân chủ thị trường”; (2) Thúc đẩy và
củng cố các nền dân chủ mới và các nền kinh tế thị trường ở nơi nào có thể; (3)
Chống lại sự xâm lược và ủng hộ việc tự do hóa các nhà nước thù địch với nền dân
chủ; (4) giúp nền dân chủ và các nền kinh tế thị trường bám rễ vào những khu vực
có “mối quan tâm nhân đạo lớn nhất” [28]. Từ học thuyết “mở rộng dân chủ” này,
có thể thấy Mỹ đã chuyển từ Chiến lược “Ngăn chặn” trong chiến tranh lạnh sang
chiến lược “Cam kết và mở rộng” thời kỳ sau chiến tranh lạnh và chuyển vai trò
trên thế giới từ “sen đầm quốc tế” sang “lãnh đạo thế giới”.
1.1.2. Vai trò của châu Á - Thái Bình Dương đối với chính sách châu Á - Thái
Bình Dương của chính quyền Bill Clinton
Khác với vị tiền nhiệm G.Bush I, Tổng thống B.Clinton đã đánh giá rất cao
châu Á - Thái Bình Dương và khu vực này ngày càng có vị trí quan trọng trong
Chiến lược “cam kết và mở rộng” của Mỹ. Sự nhìn nhận đúng đắn và coi trọng
châu Á - Thái Bình Dương trong thời kỳ sau chiến tranh lạnh đã khiến báo chí
phương Tây coi B.Clinton là người “phát hiện” ra châu Á - Thái Bình Dương.
Vốn là một khu vực có mối liên hệ lịch sử nhiều mặt với nước Mỹ, song
trước những chuyển biến sâu sắc của khu vực do chiến tranh Lạnh đã kết thúc,
chính quyền B.Clinton đã sớm nhận ra tầm quan trọng của khu vực này đối với
nước Mỹ cũng như những cơ hội và thách thức ở đây đối với tham vọng bá chủ
thế giới của mình. Bản báo cáo “Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ” năm 1995 nêu
rõ khu vực này “có ý nghĩa ngày càng tăng đối với nền an ninh và sự tồn tại của

Xô đã tan rã.
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương còn có những tuyến hàng hải quan
trọng của thế giới, nổi bật là eo biển Malacca (nằm giữa đảo Sumatra của
Indonesia và Malaysia) chiếm ¼ lưu lượng giao thông hàng hải thế giới và vùng
biển Đông – được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế
giới. Eo biển Malacca vô cùng quan trọng vì tất cả hàng hóa của các nước Đông
Nam Á phải đi qua. Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết
mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, châu Âu - châu Á, Trung Đông
- châu Á. Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế


12

giới. Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới thực hiện bằng đường biển
và 45% trong số đó phải đi qua vùng biển Đông [14]. Năm trong số mười tuyến
đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến biển Đông gồm:
tuyến Tây Âu, Bắc Mỹ qua Địa Trung Hải, kênh đào Suez, Trung Đông đến Ấn
Độ, Đông Á, Australia, New Zealand; tuyến Đông Á đi qua kênh đào Panama
đến bờ Đông Bắc Mỹ và biển Caribe; tuyến Đông Á đi Australia và New
Zealand, Nam Thái Bình Dương; tuyến Tây Bắc Mỹ đến Đông Á và Đông Nam
Á. Các lợi ích của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương sẽ được đáp ứng
nếu duy trì các tuyến đường giao thông trên biển, giúp cho việc buôn bán dầu mỏ
và các hàng hóa khác được thuận lợi, như việc chuyển dầu mỏ từ Vịnh Pecxich
về Nhật Bản và Mỹ.
Tiềm năng cũng như sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của những nước này
đã trở thành xung lực phát triển mạnh mẽ cho toàn khu vực, tạo đà cho các nền
kinh tế đi sau cũng tăng trưởng theo, làm nên điều kì diệu châu Á. Điều này thu
hút các cường quốc cũng như các tập đoàn lớn đầu tư vào đây, tạo sự đan xen lợi
ích. Đây cũng là động lực thúc đẩy nhu cầu hợp tác, liên kết trong khu vực cũng
như liên kết khu vực.

hiện diện quân sự Mỹ được tiếp tục sẽ là nền tảng cho vai trò an ninh của Mỹ
trong khu vực” [49; tr125].
Trên thực tế, Mỹ đã củng cố và tăng cường liên minh quân sự với các nước
đồng minh ở châu Á - Thái Bình Dương. Mỹ đã tái khẳng định 5 hiệp ước an
ninh song phương với các đồng minh (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan,
Phillipines, Australia). Trong đó, liên minh an ninh Mỹ – Nhật được coi là hòn
đá tảng cho chính sách của Mỹ ở châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh
lạnh. Mỹ cũng vạch ra chiến lược phòng thủ “phòng ngừa – ngăn chặn – đánh
bại” dựa trên sự hợp tác chặt chẽ với đồng minh để giải quyết xung đột ở khu
vực [45; tr65]. Hoa Kỳ đặc biệt coi trọng việc thực hiện chính sách “chia sẻ trách
nhiệm, thúc ép các nước đồng minh đóng góp nhiều hơn nữa vào việc thực hiện
chiến lược của Mỹ. Thêm vào đó, Mỹ còn tìm kiếm mô hình cân bằng lực lượng
và tập hợp lực lượng. Mỹ chủ trương sử dụng mối quan hệ tam giác Mỹ – Trung
– Nhật làm nhân tố chính giữ cân bằng lực lượng ở châu Á - Thái Bình Dương.


14

Mỹ dùng liên minh Mỹ – Nhật để kiềm chế Trung Quốc, đồng thời dùng Trung
Quốc để kiềm chế Nhật Bản. Mỹ còn dùng thế ba cực Nhật – Trung – ASEAN
mở rộng thêm cho Đông Dương để thực hiện sự đối trọng và kiếm chế lẫn nhau.
Đây là điều kiện rất tốt để Mỹ tiếp tục duy trì sự có mặt trong khu vực và dàn
xếp một trật tự khu vực có lợi cho Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương thuộc
cấp độ thứ hai - lợi ích quan trọng, với bốn lợi ích cơ bản: 1) Hòa bình và an ninh;
2) Sự tiếp cận thương mại với khu vực: 3) Tự do giao thông hàng hải và 4) Ngăn
chặn sự nổi lên của bất kỳ một liên minh hay cường quốc nào. Hòa bình và an ninh
ở đây là môi trường ổn định, không có xung đột để đảm bảo điều kiện thuận lợi
cho các hoạt động thương mại và đầu tư của các công ty Mỹ tại khu vực.
Tuy nhiên, Mỹ cũng gặp phải một số thách thức nhất định để có thể duy trì
được ưu thế của mình ở khu vực. Có thể dễ dàng nhận thấy tại châu Á - Thái

trong chính sách đối ngoại của mình và tìm mọi cách để thúc đẩy dân chủ nhân
quyền kiểu Mỹ ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là những nước đang phát triển,
đồng thời tăng cường áp đặt vấn đề này đối với các nước xã hội chủ nghĩa còn
lại. Tuy nhiên Chính quyền Bill cũng chủ trương không để vấn đề dân chủ, nhân
quyền có tác động xấu đến lợi ích kinh tế và an ninh của Mỹ ở các khu vực liên
quan, đồng thời không đặt yêu cầu đạt được dân chủ và nhân quyền bằng bất cứ
giá nào trong quan hệ với các nước. Đối với mục tiêu thúc đẩy dan chủ, nhân
quyền, Mỹ chủ trương xúc tiến việc củng cố các vấn đề dân chủ, thị trường tự do
ở tất cả các nước, đặc biệt là những nước thực hiện sự thay đổi chuyển từ các xã
hội khép kín sang mở cửa. Washinton cũng cam kết thúc đẩy các hoạt động tự do
tư tưởng, tôn giáo, đồng thời nhấn mạnh an ninh của Mỹ phụ thuộc vào việc bảo
vệ và mở rộng dân chủ trên toàn thế giới.
Tóm lại, là vị Tổng thống Mỹ đầu tiên của thời kỳ sau chiến tranh Lạnh,
dựa vào thế và lực của nước Mỹ trước một bối cảnh quốc tế có những chuyển
biến to lớn, Bill Clinton đã đề ra Chiến lược toàn cầu mới “Cam kết và mở rộng”
cho nước Mỹ hậu chiến tranh Lạnh. Về cơ bản, lợi ích quốc gia vẫn là kim chỉ
nam cho chiến lược mới của Mỹ, tuy nội dung và cách thức có những điều chỉnh


16

cho phù hợp với tình hình mới. Mỹ vẫn sử dụng ba công cụ cơ bản kinh tế, ngoại
giao và quân sự để đạt được các mục tiêu của chính sách đối ngoại, song mức độ
ưu tiên của từng biện pháp đã có sự thay đổi đáng kể. Bên cạnh việc tiếp tục duy
trì các biện pháp an ninh – quân sự và chính trị – ngoại giao để ngăn chặn bất cứ
một nguy cơ nào nổi lên đe dọa lợi ích của nước Mỹ, chính quyền Clinton đã gia
tăng sử dụng các biện pháp kinh tế và ngọn cờ “dân chủ, nhân quyền” để tiến
hành hợp tác với các nước trên thế giới, thực hiện chính sách can dự và dính líu.
Chiến tranh Lạnh kết thúc làm thay đổi sự phân bổ sức mạnh quốc gia, đồng thời
làm thay đổi nội hàm của sức mạnh và các thách thức qua đó có thể sử dụng sức

diện. Mặt khác, dưới thời Tổng thống G.Bush lại đứng trước những thách thức
lớn và mới về an ninh. Mỹ cho rằng sự trỗi dậy mạnh mẽ của Trung Quốc, sự
phục hồi kinh tế nhanh chóng của Nga cùng chính sách quyết đoán của Tổng
thống Putin trong cả đối nội lẫn đối ngoại đều thách thức vai trò, vị thế siêu
cường thế giới duy nhất và lợi ích của Mỹ. Đặc biệt, sự nóng lên của vấn đề hạt
nhân trên bán đảo Triều Tiên, tác động của sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001 và
của cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ phát động đến các nước Hồi giáo trong
khu vực... đang làm gia tăng các nguy cơ đe dọa đến lợi ích của Mỹ tại châu Á Thái Bình Dương.
Những khó khăn và thách thức trên buộc chính quyền Tổng thống Bush có
những điều chỉnh trong chiến lược đối với khu vực nhằm vừa tận dụng cơ hội và
điều kiện thuận lợi do vị thế siêu cường thế giới duy nhất mang lại, vừa đối phó
với những nguy cơ mới xuất hiện.
1.2.1. Mục tiêu của chính quyền Bush tại châu Á - Thái Bình Dương
Mục tiêu và lợi ích cơ bản của Mỹ ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương
sau chiến tranh Lạnh vẫn mang tính liên tục và kế thừa, điều này khiến cho sự
tiếp tục, điều chỉnh và phát triển của chính sách đối với châu Á - Thái Bình
Dương của Mỹ đan quyện với nhau. Nhìn chung những điều chỉnh chính sách
châu Á - Thái Bình Dương của chính quyền Bush được triển khai chủ yếu theo


18

hướng phối hợp với chiến lược chống khủng bố toàn cầu, đối phó với những
nguy cơ mới đang ngày càng tăng lên trong khu vực, tập trung vào ba mục tiêu
lớn: một là duy trì mục tiêu kinh tế của Mỹ tại khu vực, hai là khẳng định cam
kết của Mỹ đóng vai trò chủ chốt trong việc đảm bảo an ninh khu vực thông qua
việc tiếp tục duy trì lực lượng triển khai phía trước khoảng 100.000 quân đóng
tại Nhật Bản, Hàn Quốc, và các đảo thuộc lãnh thổ Mỹ ở Thái Bình Dương như
Hawaii, Guam…, ba là tái khẳng định các cam kết an ninh song phương với Nhật
bản, hàn Quốc, Australia, New Zealand, Thái Lan, Singapore, Malaysia, Phillipines.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status