SỰ KẾT HỢP YẾU TỐ NÔM VÀ YẾU TỐ ĐƯỜNG LUẬT QUA BÀI THƠ TỰ TÌNH I
VÀ II CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
SỰ KẾT HỢP YẾU TỐ NÔM VÀ YẾU TỐ ĐƯỜNG LUẬT QUA BÀI THƠ TỰ TÌNH I
VÀ II CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG
1. Hoàn cảnh sáng tác: sgk
2. Thể loại và xuất xứ
- Bài thơ Tự tình I và tự tình II nằm trong chum thơ “tự tình” ba bài được rút ra từ tập
thơ Lưu Hương Kí của Hồ Xuân Hương.
- Hai bài thơ tự tình I và II là hai bài thơ thuộc thể loại thơ trữ tình trung đại Việt
Nam. Chất trữ tình trong hai bài thơ đã được nhà thơ thể hiện rất rõ qua thiên nhiên
và hình tượng người phụ nữ trong bài. Đấy cũng chính là tiếng lòng đau đớn đến tê
tái của họ.
- Cái tôi trữ tình ở cả trong hai bài thơ là cái tôi Hồ Xuân Hương – chủ thể trữ tình
phiếm chỉ.
3. Vấn đề về hình thức nghệ thuật: Yếu tố Nôm kết hợp với yếu tố Đường luật. (Văn học
dân gian kết hợp với văn học bác học)
∗
Thơ Hồ Xuân Hương là sự kết hợp của hai dòng chảy văn học
dân gian và văn học Bác học. Trong đó tác giả sử dụng những
yếu tố Nôm đặc trưng cho văn học dân gian và Yếu tố Đường
luật đặc trưng cho văn học Bác học. Tuy nhiên dù thơ bà mang
tính văn học dân gian nhưng vẫn có phong cách, đặc trưng riêng
của tác giả.
- Ngôn ngữ dân gian
Cả hai bài thơ đều được Xuân Hương sử dụng ngôn ngữ dân gian, dễ hiểu, đơn giản, dễ đi
thuộc, dễ đi sâu vào lòng người, tạo ra được sự đồng cảm của người đọc. Bởi ngôn ngữ dân
gian lấy chất liệu từ hình ảnh đời sống hằng ngày nên khi đưa vào trong thơ cũng trở nên
gần gũi với đông đảo tầng lớp nhân dân . Ngôn ngữ đời sống của bà là ngôn ngữ thông tục,
mang tính dân tộc sâu sắc. Cũng xuất phát từ đó mà Hồ Xuân Hương được mệnh danh là
- Niêm: Cả hai bài thơ đều tuân theo nguyên tắc niêm trong một bài thơ Thất ngôn
Bát cú, không bị thất niêm.
+ Ở tự tình I: câu 1 niêm câu 8, câu 2 niêm câu 3, câu 4 niêm câu 5 và câu 6 niêm câu 8 đều
cùng luật trắc.
+ Ở tự tình II: câu 1 niêm câu 8, câu 4 niêm câu 5 theo luật bằng.
câu 2 niêm câu 3 , câu 6 niêm câu 7 theo luật trắc.
Tác dụng của niêm: tạo âm điệu và sự gắn kết giữa các câu thơ.
- Đối: Tuân thủ đúng nguyên tắc đối của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật: câu 3
đối câu 4, câu 6 đối câu 6. Chia làm 3 kiểu đối: đối thanh, đối từ loại và đối ý (đối
tương đồng).
+ Ở tự tình I:
Mõ thảm không khua mà cũng cốc, (3)
Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om. (4)
Trước nghe những tiếng thêm rầu rỉ, (5)
Sau giận vì duyên để mõm mòm.
(6)
+ Ở tự tình II:
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh,
(3)
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn, (4)
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám.
(5)
Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.
(6)
* Xét về đối thanh: đối rất chuẩn, đúng nguyên tắc thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật.
+ Ở tự tình I: Ở câu 3 đối câu 4: T T B B B T T đối B B T T T B B (chú ý 2,4,6).
Ở câu 5 đối câu 6: T B T T B B T đối B T B B T T T (chú ý 2,4,6).
+ Ở tự tình II: Ở câu 3 đối câu 4: T T B B B T T đối B B T T T B B (chú ý 2,4,6).
Ở câu 5 đối câu 6: B B T T B B T đối B T B B T T B (chú ý 2,4,6).
theo nguyên tắc đối từ loại.
- Biện pháp tu từ
+ Ở bài thơ tự tình I tác giả sử dụng biện pháp câu hỏi tu từ.
+ Ở bài thơ tự tình II tác giả sử dụng biện pháp đảo ngữ: đảo từ “đâm” và “xiên” lên đầu
câu để nhấn mạnh sự vùng vẫy đạp ra khỏi của tạo hóa của thiên nhiên trước cuộc đời.
+ Ở bài thơ tự tình II sử dụng biện pháp đảo ngữ “trơ” nhấn mạnh nỗi trơ trọi, bẽ bàng.
- Nghệ thuật tiểu đối.
+ Ở bài thơ tự tình II tác giả sử dụng nghệ thuật tiểu đối lấy “cái hồng nhan” đem đối với
“nước non” càng làm nổi bật được tâm trạng cô đơn chán chường của mình.
- Nghệ thuật tăng tiến
+ Ở bài thơ tự tình I tác giả sử dụng nghệ thuật tăng tiến: “mảnh tình” “san sẻ” “tí
con con” làm nổi bật tâm trạng chua chát, buồn đau trước duyên hạnh phúc lận đận nhưng
cũng làm nổi bật khát vọng hạnh phúc lứa đối.
3