Header Page 1 of 123.
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRƢƠNG THỊ MAI
§éNG Tõ TIÕNG NHËT- NH÷NG §ÆC TR¦NG
NG÷ NGHÜA, NG÷ DôNG THÓ HIÖN QUA C¸C
T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA NATSUME SOUSEKI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI-2016
Footer Page 1 of 123.
Header Page 2 of 123.
VIN HN LM KHOA HC X HI VIT NAM
HC VIN KHOA HC X HI
TRNG TH MAI
ĐộNG Từ TIếNG NHậT- NHữNG ĐặC TRƯNG
NGữ NGHĩA, NGữ DụNG THể HIệN QUA CáC
TáC PHẩM TIÊU BIểU CủA NATSUME SOUSEKI
Chuyờn ngnh : Ngụn ng hc
Mó s
MỤC LỤC
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN
ĐỀ LÍ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU ............... 8
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .....................................................................8
1.2. Những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu.....................14
Chương 2: ĐỘNG TỪ XUẤT HIỆN TRONG CÁC TÁC PHẨM TIÊU BIỂU
CỦA NATSUME SOUSEKI .......................................................................... 44
2.1. Kết quả thống kê chung .................................................................................44
2.1. Kết quả thống kê phân loại theo một số tiêu chí của luận án ...................44
Chương 3: ĐẶC TRƯNG NGỮ NGHĨA CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG NHẬT TRƯỜNG HỢP MỘT SỐ ĐỘNG TỪ TIÊU BIỂU ...................................... 62
3.1. Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ qua khảo sát một số động từ đa nghĩa .....62
3.2. Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ qua khảo sát một số động từ đồng nghĩa .. 80
Chương 4: ĐẶC TRƯNG NGỮ DỤNG CỦA ĐỘNG TỪ TIẾNG NHẬT,
ĐẶC ĐIỂM NGÔN TỪ CỦA N.SOUSEKI VÀ NHỮNG ỨNG DỤNG
TRONG GIẢNG DẠY ................................................................................. 100
4.1. Hoạt động của một số động từ ngữ vi tiêu biểu ..................................... 100
4.2. Vai trò tạo liên kết và mạch lạc về tiêu điểm phát ngôn từ sự đối ứng nội
động - ngoại động ................................................................................................ 107
4.3. Dạng hoạt động của động từ - yếu tố góp phần chỉ xuất mối quan hệ và tính
cách của các nhân vật giao tiếp. ........................................................................... 118
4.4. Đặc trưng ngôn từ của N. Souseki qua cách sử dụng động từ ................... 134
4.5. Ứng dụng các kết quả nghiên cứu trong giảng dạy tiếng Nhật................... 143
KẾT LUẬN ................................................................................................... 149
Footer Page 4 of 123.
ii
ĐTLD:
Động từ lưỡng dụng
ĐTNV:
Động từ ngữ vi
HVTL:
Hành vi tại lời
NĐT:
Nội động từ
NGĐT:
Ngoại động từ
N.Souseki :
Natsume Souseki
Botchan:
Botchan (Cậu ấm ngây thơ)
Kokoro :
19
19
20
Bảng 1.5: Tình thái và hình thức biểu hiện trong tiếng Nhật
21
Bảng 1.6: Dạng thức biến hình theo phạm trù lịch sự của ĐT tiếng Nhật
22
Bảng 1.7: Sự tương ứng giữa vai nghĩa và hình thức biểu đạt theo đề nghị của
Ooduka (2011)
31
Bảng 2.1: Phân loại động từ theo nguồn gốc của các yếu tố tham gia tạo từ
Bảng 2.2: Phân loại động từ theo cấu trúc nội tại
Bảng 2.3: Tần suất sử dụng của các động từ
Bảng 2.4: Danh sách 63 động từ có số lần xuất hiện cao nhất (trên 50 lần)
Bảng 2.5: Danh sách các động từ có số lần xuất hiện cao nhất theo nhóm
44
45
48
51
53
Bảng 2.6: Kết quả thống kê động từ thuần Nhật theo tiêu chí nội động - ngoại động
54
55
Footer Page 7 of 123.
v
Header Page 8 of 123.
MỞ ĐẦU
0.1. Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, trong những năm gần đây số người học tiếng Nhật ở Việt Nam
tăng lên nhanh chóng. Sự giao lưu văn hóa giữa Việt Nam và Nhật Bản cũng nở rộ
với hàng loạt các tác phẩm văn học Nhật Bản được dịch sang tiếng Việt và được
độc giả Việt Nam đón nhận tích cực. Trong bối cảnh như vậy, việc tìm hiểu tiếng
Nhật ở góc độ lí luận, có gắn kết với thực tiễn thông qua các tác phẩm văn học
Nhật Bản là một hướng đi thích ứng và cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả cho
công tác nghiên cứu và giảng dạy tiếng Nhật cũng như trích giảng văn học Nhật
Bản cho sinh viên chuyên ngành tiếng Nhật tại Việt Nam hiện nay.
Ở Việt Nam, từ những năm 60 của thế kỉ XX, đã có một số công trình nghiên
cứu các tác giả, tác phẩm tiêu biểu của văn học Nhật Bản. Hầu hết các nghiên cứu
này đều được thực hiện dưới góc độ nghiên cứu văn học và được tiến hành trên
ngữ liệu là các văn bản dịch vòng từ các thứ tiếng khác như tiếng Nga, tiếng Anh,
tiếng Pháp… sang tiếng Việt. Cho tới nay, nghiên cứu các tác phẩm văn học Nhật
Bản trên cơ sở các bản gốc tiếng Nhật dưới góc độ ngôn ngữ học c n có số lượng
hạn chế. Đây chính là hướng tiếp cận mới của luận án.
Natsume Souseki (N.Souseki), tên thật là Natsume Kinnosuke, sinh năm 1867,
là nhà văn, nhà thơ, nhà trí thức đa tài đặc biệt. Cuộc đời và sự nghiệp văn học của
ông có nhiều nét độc đáo mà Kenzaburo Oe 1 gọi là “một hiện tượng lạ lùng hiếm
có của văn học Nhật Bản” [30]. Cùng với Mori Ogai và Akutagawa Ryunosuke,
phần lớn đều nhờ vào sự trợ giúp của động từ” [dẫn theo 39;1].
Với những nhận xét trên đây, có thể cho rằng nghiên cứu về ĐT trong tiếng
Nhật sẽ cho ta thấy được nhiều đặc trưng của tiếng Nhật nói riêng và đặc trưng
trong tư duy, suy nghĩ của người Nhật nói chung. Bên cạnh đó, có thể thấy rằng có
một số lượng lớn các ĐT được sử dụng trong những tác phẩm nổi tiếng của
N.Souseki qua tư duy hình tượng và tư duy lôgic tuyệt vời của ông đã được hiện
diện lên trong rất nhiều ngữ cảnh với ngữ nghĩa và ngữ dụng khác nhau. Dưới góc
độ ngôn ngữ học, đây hẳn sẽ là kho tư liệu phong phú để khai thác những đặc
trưng ngôn ngữ của tiếng Nhật nói chung và ĐT tiếng Nhật nói riêng. Vì vậy,
chúng tôi lựa chọn đề tài: “Động từ tiếng Nhật - Những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ
dụng thể hiện qua các tác phẩm tiêu biểu của Natsume Souseki” để tiến hành
nghiên cứu với mong muốn không chỉ góp phần vào việc nghiên cứu lí luận về
tiếng Nhật mà còn giúp ích cho công tác giảng dạy tiếng Nhật cũng như giảng dạy
văn học Nhật Bản tại Việt Nam.
0.2. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các ĐT tiếng Nhật được sử dụng trong
một số tiểu thuyết nổi tiếng của N.Souseki.
Footer Page 9 of 123.
2
Header Page 10 of 123.
Theo Miyajima (1972), “với các tác phẩm văn học sử dụng hành văn của
ngôn ngữ nói thì sự biến đổi về ý nghĩa của ĐT từ thời kì Minh Trị, Đại Chính đến
thời kỳ hiện đại chỉ là rất nhỏ, ở mức không đáng kể. Các tác phẩm văn học này từ
khi được xuất bản đến khi tác giả qua đời vẫn được in lại hàng năm, được đọc rộng
3
Header Page 11 of 123.
từ đó chỉ ra bức tranh toàn cảnh về các ĐT được sử dụng trong các tác phẩm nổi tiếng
của N.Souseki, liên hệ tới đặc trưng ngôn ngữ của tác giả.
- Khảo sát ý nghĩa và cách dùng cũng như hoạt động của các ĐT trong hành
chức qua các ngữ cảnh trên cơ sở các lí thuyết đã nêu. Từ đó phân tích để làm rõ
những đặc trưng ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT.
- Chỉ ra những nét độc đáo trong cách sử dụng ĐT của nhà văn cũng như một
số ứng dụng trong giảng dạy tiếng Nhật và trích giảng văn học Nhật Bản cho sinh
viên tiếng Nhật.
0.5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng những phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp miêu tả được sử dụng chủ yếu để mô tả
những kết quả thu được trong thống kê ngữ liệu. Đặc biệt, bằng thủ pháp phân tích
vị từ - tham tố, luận án mô tả những đặc điểm của các vai nghĩa với vị từ là các ĐT
tiếng Nhật trong ngữ cảnh sử dụng từ đó phân tích, tổng hợp nhằm chỉ ra đặc trưng
ngữ nghĩa của ĐT.
- Phương pháp đối chiếu: Phương pháp đối chiếu được sử dụng trong đối chiếu ý
nghĩa của ĐT được giải thích trong các từ điển với thực tế hoạt động của chúng
trong ngữ liệu để chỉ ra đặc điểm riêng đáng lưu ý về ngữ nghĩa và đối chiếu ý
nghĩa của các ĐT đồng nghĩa với nhau để tìm ra điểm chung, điểm riêng giữa
chúng, từ đó tiếp tục đối chiếu giữa các tổng kết trong từ điển với thực tế hành
chức của ĐT trong ngữ liệu.
- Thủ pháp thống kê: Thủ pháp này được sử dụng để thống kê các ĐT trong ngữ
liệu theo từng tiểu loại, chỉ ra mức độ sử dụng của chúng nhằm có được cái nhìn
với chủ đề phê phán chủ nghĩa cá nhân. Bản điện tử các tác phẩm trên được lấy từ
trang web hỗ trợ việc tìm đọc các tác phẩm văn học cổ điển của Nhật:
htttp://www.Aozora.gr.jp. Sau khi lưu dữ liệu bằng phần mềm Microsoft Word,
chúng tôi chọn khảo sát văn bản theo cách: khảo sát ít nhất 100 trang cho mỗi tác
phẩm, các trang khảo sát được phân bố đều theo các chương để tạo mạch liên kết
cho việc phân tích.
Trong quá trình phân tích ngữ liệu, chúng tôi chủ yếu sử dụng phần dịch tiếng
Việt trích từ các bản dịch đã được công bố của các tác phẩm. Đó là bản dịch “Cậu
ấm ngây thơ” (Botchan) của Nguyễn Thị Loan, “Nỗi l ng” (Kokoro) của Đỗ
Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh. Tuy nhiên, hai tác phẩm “Wagahai wa neko
de aru” và “Sorekara” hiện chưa có các bản dịch sang tiếng Việt nên phần dịch
tiếng Việt cho các ví dụ trích từ hai tác phẩm này là do chúng tôi thực hiện.
2
Một thể loại thơ của Nhật, quy định về số âm tiết mỗi câu là 5, 7, 7; trong nội dung thể hiện phải có phần
mô tả về thời tiết theo các mùa.
Footer Page 12 of 123.
5
Header Page 13 of 123.
0.7. Đóng góp của luận án
Với cách tiếp cận nghiên cứu về đặc trưng của tiếng Nhật thông qua các tác
phẩm văn học của Nhật Bản, luận án có những đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu
liên ngành giữa ngôn ngữ học và nghiên cứu văn học về mặt lí luận cũng như thực
tiễn như sau:
Header Page 14 of 123.
- Điểm lại các nghiên cứu về ngôn ngữ của N.Souseki, các nghiên cứu về ĐT
tiếng Nhật, chỉ ra việc nghiên cứu về ĐT trong các tác phẩm của N.Souseki là hoàn
toàn mới, chưa từng được đề cập tới trước đây.
- Tổng hợp những nội dung lí thuyết cơ bản về ĐT tiếng Nhật, những cơ sở lí
luận cơ bản cần thiết về ngữ nghĩa, ngữ dụng phục vụ cho quá trình thống kê và
phân tích ngữ liệu.
Chƣơng 2: Động từ xuất hiện trong các tác phẩm tiêu biểu của N.Souseki
Qua thống kê và phân loại, mô tả bức tranh tổng quan về ĐT trong các tác
phẩm tiêu biểu của N.Souseki, đưa ra nhận xét về khuynh hướng hoạt động của ĐT
làm cơ sở việc lựa chọn ĐT tiểu biểu và hướng triển khai phân tích đặc điểm ngữ
nghĩa, ngữ dụng của ĐT trong các chương sau.
Chƣơng 3: Đặc trưng ngữ nghĩa của động từ tiếng Nhật - Trường hợp một số động
từ tiêu biểu
Khảo sát, phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ nghĩa của các ĐT tiêu biểu từ
hai góc độ tiếp cận là đa nghĩa và đồng nghĩa.
Chƣơng 4: Đặc trưng ngữ dụng của động từ tiếng Nhật, đặc điểm ngôn từ của N.
Souseki và những ứng dụng trong giảng dạy
Phân tích để làm rõ đặc trưng ngữ dụng của ĐT qua việc khảo sát hoạt động
một số động từ ngữ vi tiêu biểu, tập trung phân tích hành chức của các cặp đối ứng
nội động - ngoại động, khảo sát dạng hoạt động của ĐT liên quan đến việc chỉ xuất
nhân vật, đến phạm trù lịch sự trong tiếng Nhật. Từ những kết quả nghiên cứu về
ngữ nghĩa, ngữ dụng của ĐT, chỉ ra một số đặc trưng ngôn từ của N.Souseki qua
cách sử dụng ĐT và những ứng dụng trong giảng dạy.
Footer Page 14 of 123.
dẫn từ 11 cuốn tiểu thuyết của N.Souseki và cho rằng: điểm thú vị về ngôn ngữ tạo
nên tiếng cười cho tiểu thuyết của N.Souseki là những lối chơi chữ, các cách nói tỉ
dụ, thậm xưng, cách diễn đạt dài dòng cụ thể quá mức cũng như cách bố cục tạo ra
độ lệch giữa các câu từ trong diễn đạt [49]. Rishunran (2010) nghiên cứu về cách
biểu hiện thái độ lịch sự trong tiểu thuyết “Botchan” thông qua việc thống kê và
Footer Page 15 of 123.
8
Header Page 16 of 123.
phân tích cách nói thông thường (sử dụng “da”) và cách nói lịch sự (sử dụng
“desu”). Từ sự tương ứng giữa việc sử dụng hay không sử dụng kính ngữ trong các
lời thoại và lời dẫn miêu tả suy nghĩ của Botchan về các nhân vật khác, tác giả
phân tích thái độ, tình cảm của Botchan đối với họ, góp phần làm sáng tỏ dụng ý sử
dụng ngôn từ của nhà văn [156].
- Bên cạnh đó, còn có nghiên cứu về cách sử dụng các loại chữ viết, cụ thể là
sự sử dụng chữ Kana3 trong bản thảo của N.Souseki của Narita Tetsuo (2008). Tác
giả đã chỉ ra rằng: ngoài các trường hợp từ ngoại lai được ghi bằng chữ Kana như
“paipu” (tẩu)… như quy định chung, còn có những từ tuy là thuần Nhật nhưng vẫn
được ghi bằng chữ Kana như các từ chỉ sinh vật như “inago” (cào cào)..), các từ
tượng thanh như “ohoho” (ohôhô)…; có những từ tuy là từ ngoại lai nhưng lại
được ghi bằng chữ Hán như “tabako” (thuốc lá)..., lại có những từ khi được ghi
bằng chữ Hán, khi được ghi bằng chữ Kana như hankachi (khăn tay), shatsu (áo sơ
mi)..; và đưa ra những kiến giải riêng cho từng trường hợp [120].
Như vậy, qua sự tìm hiểu, chúng tôi nhận thấy rằng hiện chưa có nhiều
nghiên cứu về tiếng Nhật thông qua các tác phẩm văn học của N.Souseki và chúng
cũng chỉ dừng lại ở những khảo sát nhỏ lẻ. Trong số các nghiên cứu này, đáng kể
nhất là công trình của Terada. Bà đã phần nào đưa ra được một số nhận định về
(1985), “Phương diện sự tình và tình thái của thời và thể” của Teramura (1982), “Cú
pháp và ý nghĩa tiếng Nhật” của Teramura (1984), “Động từ và phạm trù dạng” của
Kageyama Taro (1989), “Dạng và tính ngoại động trong tiếng Nhật” của Nita
Yoshio (1991), “Ngữ pháp hình tròn đồng tâm của tiếng Nhật” của Minami Fuji
(1993), “Nghiên cứu ngữ pháp ngữ nghĩa của động từ” của Morita (1994), “Động từ
tiếng Nhật” của Kayano Naoko (2001), “Hệ thống thời, thể và văn bản - các cách
biểu hiện thời trong tiếng Nhật” của Kudou Mayumi (1995), “Hệ thống thời, thể,
tình thái trong tiếng Nhật - Vượt qua những nghiên cứu về tiếng Nhật chuẩn” của
Kudou Mayumi (2004) [65], [66], [70], [71], [113], [123], [124], [135].
b) Chỉ tập trung nghiên cứu về ĐT hoặc một số nhóm nhỏ trong ĐT:
Trước tiên, có thể thấy rằng trong các công trình lớn tổng hợp nhiều vấn đề
về ĐT như các công trình của Morita (1981), Nita (1984)..., các tác giả đều có
những phần riêng đi sâu bàn luận về ĐT theo các tiểu loại, các nhóm có chung đặc
trưng nào đó như ĐT chỉ sự biến đổi, sự chuyển động, sự cho nhận...
- Từ những năm 50 của thế kỉ XX cho đến nay, đã có hàng loạt công trình
nghiên cứu về các ĐT phức4 trong tiếng Nhật, từ những nghiên cứu về ĐT phức
nói chung cho tới từng trường hợp các yếu tố đứng sau trong câu trúc như các
nghiên cứu của Takebe (1953), Okuda (1984), Himeno (1999) [107], [57], [151].
- Các nghiên cứu về nội động từ và ngoại động từ trong tiếng Nhật của
Okutsu (1967), Hayatsu (1989)... Trong đó, tiêu biểu là nghiên cứu của Sato
Takuzo (2005) khi bàn về ý nghĩa của câu được tạo thành từ các NĐT và NGĐT
[59], [96], [148].
- Các nghiên cứu về nhóm các ĐT thể hiện sự cho - nhận như nghiên cứu của
các tác giả Okutsu (1986), Kubo Miori (1998), Sou Eisen (2002), Machita (1999)
[60], [77], [101], [132].
4
Các nhà Nhật ngữ học thường gọi ĐT ghép từ hai ĐT là các ĐT phức
Footer Page 17 of 123.
sinh động về nghĩa và cách sử dụng của các ĐT tiếng Nhật trong các mối tương
quan lẫn nhau.
Tiếp theo nghiên cứu của Miyajima, Kobayashi Hideki tiến hành khảo sát ý
nghĩa của các ĐT có cấu trúc {~suru} trong tiếng Nhật, tập trung chủ yếu vào các
ĐT gốc Hán. Tác giả đã sưu tập trên báo chí hai nhóm ĐT gốc Hán là các ĐT thể
hiện nghĩa quá trình biến mất, loại bỏ, như jyokyo-suru (xóa bỏ, loại bỏ)… cùng
các ĐT thể hiện ý nghĩa dịch chuyển, như unpan-suru (vận chuyển)… và mô tả chi
tiết về ý nghĩa cũng như cách sử dụng của các ĐT này qua một số bài báo chuyên
Footer Page 18 of 123.
11
Header Page 19 of 123.
ngành [86], [87]... Ngoài ra, cũng phải kể đến công trình “Tiếng Nhật - từ điển về
cách dùng các ĐT cơ bản” do nhóm các tác giả Koizumi biên soạn, đã cung cấp
cho người đọc, đặc biệt là người học tiếng Nhật những thông tin về ý nghĩa và
cách dùng của hơn 700 ĐT được coi là các ĐT cơ bản nhất trong tiếng Nhật [176].
d) Xem xét hoạt động của ĐT trong cấu trúc động ngữ và vị ngữ ĐT:
Cho tới nay, có thể nói cuốn “Ngữ pháp tiếng Nhật - Đoản ngữ” do Hội ngôn
ngữ học Nhật Bản biên soạn năm 1983 là công trình mô tả đồ sộ nhất về đoản ngữ,
trong đó có một phần đáng kể là các đoản ngữ ĐT. Đây là tập hợp một số bài viết
về đoản ngữ của học giả Okuta Tasuo, trong đó, đoản ngữ ĐT được khảo sát với
trong sự kết hợp của ĐT chính với các danh từ (DT) bằng các giới từ cách5 là wo,
ni, made [79].
Chức năng quan trọng nhất của ĐT tiếng Nhật là làm vị ngữ, câu có ĐT làm
vị ngữ được gọi là câu vị ngữ ĐT (doushijyutsugobun 動詞述語文). Trong nghiên
cứu ngữ pháp ngữ nghĩa hiện đại, mối quan hệ giữa ĐT vị ngữ và các DT trong câu
thể hiện qua một loạt các bài viết đăng trong số đặc biệt “Mọi vấn đề về ĐT tiếng
Nhật” của tạp chí “Giải nghĩa và suy ngẫm về tiếng Nhật” số 51- tháng 1 năm
1986 [78]. Ngoài những vấn đề cơ bản về hình thái, các phạm trù ngữ pháp như
thời, thể, dạng của ĐT, tập san đăng tải 21 bài viết đối chiếu ĐT tiếng Nhật với ĐT
trong các thứ tiếng khác như Đức, Hungari, Ả Rập, Hàn Quốc, Philippin, Eskimo...
Tuy nhiên, không có bài viết nào đối chiếu ĐT tiếng Nhật với ĐT tiếng Việt.
Ngoài ra, các công trình “Ngữ pháp của động từ - cấu trúc tiếng Nhật và
tiếng Anh nhìn từ sự khác biệt về ý đồ phát ngôn” của Yoshikawa Chikako (1994),
“Luận về ý nghĩa của động từ - tiếp điểm giữa ngôn ngữ và tri nhận” của
Kageyama Taro (1996) là những công trình tiêu biểu đối chiếu ĐT tiếng Nhật và
ĐT tiếng Anh, được giới nghiên cứu đánh giá cao [62], [165].
1.1.4. Nghiên cứu về động từ tiếng Nhật tại Việt Nam
Ở Việt Nam, các nghiên cứu liên quan tới ĐT tiếng Nhật còn có số lượng rất
hạn chế. Đáng kể nhất là luận án tiến sĩ nghiên cứu về ĐT phức tiếng Nhật và sau
đó là công trình “Sổ tay động từ phức tiếng Nhật” của Trần Thị Chung Toàn.
Trong các công trình này, theo khảo sát của tác giả, ĐT phức tiếng Nhật là một hệ
thống mở, về nguyên tắc, chúng có thể tạo ra đến 16 kiểu loại kết hợp, nhưng trên
thực tế chỉ có 9 trong số đó được sử dụng phổ biến và thường xuyên trong lời nói.
Giữa các kiểu loại của ĐT phức có một sự chuyển tiếp về nghĩa, sự nối tiếp và phát
triển nghĩa từ kiểu loại trước đến kiểu loại sau tạo thành một sự phát triển liên tục
trong hệ thống cấu tạo từ. Hơn nữa, tuy phần lớn các ĐT phức là ĐT đa nghĩa
nhưng hiện tượng đa nghĩa của ĐT phức bị hạn chế nhiều hơn so với ĐT đơn vì có
hai yếu tố trong từ và chúng bị ràng buộc vào với nhau [39], [42].
Trong luận văn thạc sĩ của mình, Nguyễn Phương Thảo (2013) đã tiến hành
khảo sát các cấu trúc ĐT {từ ngoại lai + suru} trong tiếng Nhật. Theo tác giả, các
từ ngoại lai hoạt động với tư cách vừa là ĐT vừa là DT trong ngôn ngữ được vay
mượn có tỉ lệ được ĐT hoá (“suru hoá”) cao hơn so với các từ chỉ được dùng với
tư cách ĐT trong ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc thống
miêu tả về ĐT tiếng Nhật cùng những tư liệu cụ thể cho công tác giảng dạy.
1.2. Những vấn đề lí thuyết liên quan đến nội dung nghiên cứu
1.2.1. Những nội dung lí thuyết cơ bản về động từ tiếng Nhật
1.2.1.1. Nhận diện động từ trong tiếng Nhật
Trong lịch sử nghiên cứu tiếng Nhật, ĐT chính thức được tách ra thành một
trong các từ loại bắt đầu từ thời đầu Minh Trị, trong một số cuốn sách ngữ pháp
tiếng Nhật biên soạn theo kiểu ngôn ngữ học phương Tây như “Ngữ pháp tiếng
Nhật tiểu học” (Shogakunihonbunten 小学日本文典) của Tanaka Yoshikato (1874),
“Ngữ pháp tiếng Nhật” (Nihonbunten 日本文典) của Nakane Kiyoshi (1876). Đây
chính là những bước đi tiên phong của nghiên cứu tiếng Nhật thời hiện đại. Trước
đó, trong hệ thống nghiên cứu ngữ pháp tiếng Nhật, ĐT chưa được phân định là
một từ loại độc lập mà được xếp trong nhóm các vị từ gọi là “yogen” (用言) theo
cách gọi của Motoori Norinaga, hay “yososhi” (ヨソ詞) theo cách gọi của Fujitani
Footer Page 21 of 123.
14
Header Page 22 of 123.
Nariakira c n sự biến hình của vị từ trong tiếng Nhật được gọi là “katsuyo” (活用).
Tuy nhiên sự phân định từ loại trong các tài liệu này còn nhiều điểm không hợp lí
như coi “yoshi” (善し6 ) là ĐT. Sau đó, Ootsuki Fumihiko, trong phần phụ lục “Chỉ
nam ngữ pháp” (Gohoushinan 語法指南) kèm trong cuốn từ điển Genkai (言海)
(1889), đã bước đầu chỉ ra những cơ sở lí luận về phân định từ loại, và theo đó ĐT
là một trong tám từ loại được phân định cùng với DT, tính từ, phó từ, đại từ, trợ
ĐT, trợ từ (tác giả gọi là nhóm từ teniwawo) và cảm thán từ [69], [154]. Tiếp sau
đó, Hashimoto Shinkichi đã đề xuất cách phân định từ loại theo tiêu chí về hình
thái (tức là về sự biến hình) và về hành chức (tức là sự kết hợp với các từ khác).
15
Header Page 23 of 123.
Nhóm II: bao gồm những ĐT có thân từ kết thúc là nguyên âm “e” hoặc
nguyên âm “i” c n đuôi từ là “ru”. Ví dụ: ne-ru (ngủ), oki-ru (thức dậy)…
Nhóm III: gồm “suru” (làm), “kuru” (tới) và các ĐT dạng “~ suru” (như
giron-suru (bàn luận), chekku-suru (kiểm tra)…)
- Xét từ nguồn gốc của các yếu tố tham gia cấu tạo từ, có thể phân chia ĐT
thành ĐT thuần Nhật, ĐT gốc Hán và ĐT ngoại lai (ĐT có nguồn gốc từ các yếu tố
Ấn - Âu). Ví dụ:
+ ĐT thuần Nhật: iku (đi), ataisuru (đáng giá), amanzuru (nuông chiều)...
+ ĐT gốc Hán: unpansuru (vận động), kaisuru (hiểu), hinikuru (than phiền)...
+ ĐT ngoại lai: pasusuru (qua), hittosuru (gây sốt), daburu (nhân đôi)…
- Xét về cấu trúc nội tại, có thể phân chia các ĐT trong tiếng Nhật thành ĐT
đơn, ĐT ghép và ĐT phái sinh. Tuy nhiên, trong số các ĐT ghép, cũng có một số
nhà nghiên cứu tiếp tục phân nhỏ chúng thành ĐT phức (gồm 2 căn tố ĐT đơn
ghép lại với nhau) và ĐT phái sinh (chỉ gồm một căn tố ghép với các yếu tố tạo từ
phái sinh). Ví dụ: ĐT đơn: taberu (ăn), nomu (uống)...; ĐT ghép: nomi-komu
(uống vào), tobi-agaru (nhảy lên), ura-tsukeru (tạo căn cứ)...; ĐT phái sinh: taberareru (có thể ăn / bị ăn), tabe-saseru (bắt ăn, để cho ăn), bun-nageru (đấm mạnh)...
- Khi phân loại ĐT, phần lớn các nhà ngữ pháp đều đề xuất cách thức và nội
dung phân chia ĐT tiếng Nhật thành 2 loại lớn là nội động từ (NĐT) và ngoại động
từ (NGĐT). "NGĐT là những động từ chỉ ra những quá trình vận động gây tác động
đến đối tượng khác. Lúc này, đối tượng nhận tác động sẽ được biểu thị bằng danh từ
kết hợp với giới từ cách wo. Những không có đặc tính này là NĐT." [99;270].
Các nhà Nhật ngữ cũng chỉ ra rằng, có một số ĐT vừa có khả năng hoạt động
như NGĐT vừa như NĐT và gọi chúng là các động từ lưỡng dụng (ĐTLD). Morita
(1994) cho rằng có thể chia các ĐTLD thành hai loại chính là:
Loại 1 (LV1): có những nét nghĩa chung khi là NĐT và khi là NGĐT. Ví dụ:
loại là “thời quá khứ” qua hình thức biểu hiện là dạng “ta” (“ta” kei タ形) làm đuôi
từ và đối lập với nó là “thời phi quá khứ”, bao gồm cả “hiện tại” và “tương lai”
qua hình thức biểu hiện là dạng “ru” (“ru”kei ル形) làm đuôi từ [175]. Tuy nhiên,
trong thực tế, dạng “ru” và dạng “ta” của ĐT tiếng Nhật lại biểu những ý nghĩa
khác nhau tùy thuộc vào việc nó được sử dụng làm vị ngữ cho câu hay làm thành
phần định ngữ trong các mệnh đề của câu. Xét từ góc độ này, thời của ĐT tiếng
Nhật được chia cụ thể hơn thành “thời tuyệt đối” và “thời tương đối”. Trong đó,
“thời tuyệt đối” được hiểu là thời so với mốc chuẩn thời gian là thời điểm phát
ngôn, “thời tương đối” được hiểu là thời so với mốc chuẩn thời gian là một sự kiện
mà người phát ngôn lựa chọn [116]. Bảng 1.1 cho biết ý nghĩa thời của ĐT tiếng Nhật.
Bảng 1.1: Thời của động từ tiếng Nhật
Phân
loại
Hình
thức
biểu
hiện
Ý nghĩa thời
(1) Những quy luật, chân lí
mang tính bất biến
Footer Page 24 of 123.
Ví dụ
地球は公転する(koutensuru)。
(Trái đất quay tròn.)
(5) Hành động có thể xảy ra
trong tương lai
(1) Sự việc, hành động trong
quá khứ
Dạng
“ta”
(2) Thói quen trong quá khứ
(た形)
(3) Sự việc, hành động diễn
ra cho tới một thời điểm
nào đó trong quá khứ
(Tôi nghĩ anh ta không phải là thủ phạm)
最近よく小説を読みます(yomimasu)。
(Dạo này tôi hay đọc tiểu thuyết)
私は来年日本へ行きます(ikimasu)。
(Năm tới tôi sẽ đi Nhật)
昨日、彼に会った(atta)。
(Hôm qua tôi đã gặp anh ấy)
彼女は当時、日曜日にパーティを開いた(hiraita)。
(Hồi đó, cứ chủ nhật là cô ấy lại mở tiệc)
2000 年までは東京に住んだが、その後京都に引っ
越ししてきた(hikkoshitekita)。(Tôi đã sống ở
Tokyo cho tới năm 2000 và sau đó thì chuyển về
やっぱりここにあった(atta)。
(Đúng là nó ở đây mà!)
そうだ、干し物があった(atta)んだ。
(2) Nhớ ra việc gì
(3) Yêu cầu, đề nghị một
cách thô bạo
Dạng (4) Nêu nhận định, cảm xúc
“ta”
đối với sự kiện nào đó
(タ形)
trong quá khứ
(5) Thể hiện sự lắng nghe,
đồng tình với những điều
đã qua, những điều đối
phương đưa ra
(6) Hoàn tất một quyết định
(Phải rồi, còn quần áo đang phơi!)
さあ、どいた、どいた(doita,doita)。
(Tránh ra, tránh ra nào!)
一時停車していれば、あの事故は防げた
(fusegeta)。(Nếu dừng tàu lại một chút thì đã có thể
tránh được tai nạn đó rồi.)
ああ、そういうふうにやった(yatta)んだ。
(À, ra là làm như vậy!)
わるいけど、俺、しばらく休憩もらった