Quản lý thuế thu nhập cá nhân ở việt nam trong điều kiện hiện nay - Pdf 41

MỤC LỤC
MỤC LỤC.........................................................................................................1
DANH MỤC BẢNG BIỂU..............................................................................3
DANH MỤC HÌNH VẼ...................................................................................4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT...............................................................5
LỜI MỞ ĐẦU..................................................................................................6
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
THUẾ VÀ TUÂN THỦ THUẾ..................................................................................8
1.1. Lý luận chung về quản lý hành chính thuế.............................................................................8
1.2. Quản lý hành chính thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế........................11
1.2.1. Quan niệm về tính tuân thủ của người nộp thuế................................................................11
1.2.2. Các yếu tố tác động đến tính tuân thủ của NNT..................................................................16
1.2.3. Các phương pháp để đo lường mức độ tuân thủ của NNT..................................................18
1.2.4. Phương thức quản lý thuế và mối quan hệ với tính tuân thủ của NNT...............................21
1.3. Kinh nghiệm một số nước trong quản lý thuế nhằm việc nâng cao tính tuân thủ của NNT....23
1.3.1. Kinh nghiệm của Cơ quan thu nội địa Vương quốc Anh......................................................23
1.3.2. Kinh nghiệm của Cục thu nội địa Singapore (IRAS)..............................................................26

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH THUẾ VÀ TÍNH TUÂN THỦ CỦA NGƯỜI
NỘP THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.................................................................28
2.1. Bối cảnh của quản lý hành chính thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp thuế.....28
2.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội Việt Nam.......................................................................................28
2.1.2. Công tác quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay.........................................................................30
2.2. Thực trạng tính tuân thủ của NNT trong quản lý thuế ở Việt Nam hiện nay..........................35
2.2.1. Tình hình đăng ký thuế.........................................................................................................37
2.2.2. Tình hình khai thuế và tính thuế..........................................................................................41
2.2.4. Tình hình nộp thuế...............................................................................................................49
2.3. Đánh giá các nhân tố tác động đến tính tuân thủ của NNT ở Việt Nam.................................50
2.3.1. Hệ thống pháp luật thuế của Việt Nam................................................................................50
2.3.2. Những nhân tố thuộc về người nộp thuế............................................................................52


HÌNH 1.2: TÁC ĐỘNG THEO CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ
THUẾ TỚI NGƯỜI NỘP THUẾ..........................................................................11
HÌNH 1.3: MÔ HÌNH QUẢN LÝ TÍNH TUÂN THỦ CỦA NGƯỜI NỘP
THUẾ........................................................................................................................13
HÌNH 1.4: CÁC NHÓM NGƯỜI NỘP THUẾ - SỐ NGƯỜI NỘP THUẾ
VÀ CÁC ĐẶC TÍNH ĐÓNG GÓP VÀO SỐ THU THUẾ.....................................15
HÌNH 1.5: ĐÁNH GIÁ SỰ TUÂN THỦ CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ.....23
HÌNH 6.1: CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA CƠ
QUAN THUẾ............................................................................................................34


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT


LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong công cuộc cải cách hành chính nói chung và cải cách hành chính
thuế nói riêng và đặc biệt là quản lý thuế thu nhập cá nhân luôn là một vấn đề
lôi cuốn nhiều sự quan tâm của các nhà quản lý và nhà nghiên cứu. Đây là
một loại thuế mang tính nhạy cảm cao, vì nó liên quan trực tiếp đến mọi
người dân và các tổ chức chi trả thu nhập, các cơ quan nhà nước, các tổ chức
xã hội, chính trị. Thuế thu nhập cá nhân được đánh giá là một loại thuế mang
tính công bằng cao khi được sử dụng để điều tiết thu nhập đảm bảo công bằng
theo khả năng trả thuế của người dân. Việc bao quát rộng và liên quan đến
toàn xã hội, nên công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân đã được nghiên cứu
nhiều ở các nước phát triển, các nước đang phát triển sử dụng thuế thu nhập
cá nhân. Ở Việt Nam việc nghiên cứu quản lý thuế thu nhập cá nhân cũng là
vấn đề mới và đứng trên nhiều cách tiếp cận khác nhau. Song trên giác độ
tuân thủ của người nộp thuế chưa được nghiên cứu một cách hoàn chỉnh,

- Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu, trao đổi, bổ sung để làm sáng
tỏ một số vấn đề lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân trên giác
độ tuân thủ thuế của người nộp thuế.
- Đề tài góp phần cung cấp những thực trạng của công tác quản lý thuế
thu nhập cá nhân giác độ tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Việt
Nam trong thời gian qua và đưa ra những kiến nghị mang tính trọng
tâm nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân
ở Việt Nam.


Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ HÀNH
CHÍNH THUẾ VÀ TUÂN THỦ THUẾ

1.1. Lý luận chung về quản lý hành chính thuế
Khi nói đến quản lý thì các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu đều cho
rằng đây là những hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối
tượng bị quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu đặt ra. Chính vì vậy, quản lý
hành chính thuế cũng có chung là sự tác động có hướng đích của chủ thể
quản lý thuế đến người nộp thuế nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định.
Tuy nhiên, quản lý thuế có tính chất là quản lý hành chính công được thể chế
hóa bằng luật pháp và với mục tiêu cuối cùng là đảm bảo thu thuế đủ thuế,
đúng thời hạn cho ngân sách nhà nước với chi phí hành thu thấp và đảm bảo
nâng cao tính ttuân thủ của người nộp thuế.
Như vậy, quản lý thuế đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thực
hiện hệ thống thuế. Quản lý thuế tốt không đơn giản chỉ là thu thuế cho ngân
sách nhà nước, mà thu thuế được thực hiện như thế nào – có nghĩa là, ảnh
hưởng của việc thu thuế đến sự công bằng, ảnh hưởng sự thực hiện cam kết
quản lý kinh tế của nhà nước và ảnh hưởng đến phúc lợi kinh tế - đây là

tế -- Xã
Xã hội
hội
-- Luật
Luật pháp
pháp
-- Chính
Chính trị
trị
-- Văn
Văn hóa,...
hóa,...

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các bên trong quản lý thuế


- Cơ quan quản lý thuế: Tổng cục Thuế, Tổng cục Hải quan hoặc tổ
chức được phép của Nhà nước thực hiện quản lý thuế;
- Người nộp thuế: Cá nhân và tổ chức chịu sự điều chỉnh của các luật
thuế;
- Bên thứ ba: Các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các tổ chức và
cá nhân liên quan đến người nộp thuế (cả trong nước và ngoài
nước).
Như vậy, để thiết lập quản lý hành chính thuế hiện đại có thể đạt được
mục tiêu hiệu quả và thực hiện quản lý hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu của
các bên liên quan và các quy định của luật pháp cần phải có:
- Khuôn khổ pháp lý cho quản lý thuế;
- Tổ chức bộ máy quản lý thuế phù hợp;
- Khuôn khổ pháp luật về thuế đầy đủ, rõ ràng và minh bạch để thực
hiện và xác định rõ quyền và nghĩa vụ đóng thuế của người nộp

Người nộp
thuế
Tuân thủ thuế ngày
càng cao


chức năng hoạch định như ban hành chính sách, lập kế hoạch thuế, chuẩn bị
điều kiện thực hiện; Nhóm chức năng tổ chức như tổ chức bộ máy, tổ chức
nhân sự, ra quyết định, tổ chức hoạt động; nhóm chức năng chỉ đạo như
hướng dẫn, phối hợp, điều chỉnh quá trình thực hiện kế hoạch thuế; nhóm
chức năng kiểm tra bao gồm đo lường, so sánh, đánh giá, cưỡng chế thi hành,
đúc rút kinh nghiệm, khen thưởng, chuẩn bị cho chu kỳ quản lý tiếp theo.

Hình 1.2: Tác động theo chức năng của cơ quan quản lý thuế tới
người nộp thuế
Tóm lại, quản lý hành chính thuế nhằm làm cho sự tuân thủ thuế của
người nộp thuế ngày càng cao và tạo ra mức độ thỏa mãn ngày càng cao của
người nộp thuế.
1.2. Quản lý hành chính thuế nhằm nâng cao tính tuân thủ của người nộp
thuế
1.2.1. Quan niệm về tính tuân thủ của người nộp thuế
Mục tiêu chính của quản lý thuế là thu thuế và các khoản phải thu khác
phù hợp với luật pháp và vẫn đảm bảo củng cố được niềm tin của người nộp
thuế (NNT) vào hệ thống thuế và quản lý thuế. Mọi hành vi của NNT dù là sơ
ý, không cẩn thận, hay hành vi cố tình trốn thuế hoặc là sự yếu kém trong
công tác quản lý thuế đều cho thấy việc không tuân thủ pháp luật là không thể
tránh khỏi. Do đó, cơ quan thuế cần có chiến lược và chương trình để đảm
bảo rằng việc không tuân thủ pháp luật về thuế được giảm tới mức tối thiểu.
Tuy nhiên, trước khi cơ quan ra quyết định thực hiện các chương trình hành
động để nâng cao tính tuân thủ của NNT thì cần phải hiểu thế nào là tính tuân


Áp dụng toàn bộ
các quyền lực theo luật

Doanh nghiệp
Ngành nghề

Không muốn

Ngăn chặn

tuân thủ, nhưng sẽ tuân

thông qua các biện

thủ nếu cơ quan thuế

pháp phát hiện vi

quan tâm
Cố gắng
NNT

tuân thủ nhưng
không phải lúc nào

Xã hội học
Kinh tế

cũng thành công

0


Hình 1.3: Mô hình quản lý tính tuân thủ của người nộp thuế
Tại một số nước thuộc khu vực Bắc Mỹ, quan điểm về tính tuân thủ của
NNT được phân loại theo nghĩa vụ của NNT: tuân thủ trong việc đăng ký
thuế, tuân thủ trong việc nộp tờ khai thuế và nộp các thông tin cần thiết liên
quan đến thuế, tuân thủ trong việc báo cáo các thông tin (kết hợp với việc lưu
giữ sổ sách) và tuân thủ trong việc nộp thuế. Để đo lường mức độ tuân thủ
của NNT thì người ta sử dụng kết hợp các chỉ tiêu như: tỷ lệ phần trăm tờ
khai được kê khai đúng hạn so với số tờ khai được nộp, tỷ lệ phần trăm số
tiền thuế được kê khai so với tổng số tiền thuế phải nộp theo qui định của luật
thuế, tỷ lệ phần trăm số tiền thuế đã kê khai được nộp đúng hạn so với tổng số
tiền thuế được nộp.
Theo quan điểm của cơ quan thuế Úc, New Zealand và một số nước
châu Á như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan,... thì tính tuân thủ của NNT sẽ
được phân loại và xác định theo các mức độ rủi ro quản lý. Theo đó, cơ quan
thuế căn cứ vào lịch sử tuân thủ (hồ sơ các hành vi của NNT về kê khai, nộp
thuế trong một thời gian) và đặc điểm của tưng loại hình, ngành nghề kinh
doanh của NNT để chia NNT thành các nhóm theo mức độ tuân thủ, từ đó
đưa ra các chiến lược áp dụng quản lý thích hợp với từng nhóm như sơ đồ
dưới đây:
Trong mô hình tuân thủ, bên trái của tháp thể hiện bốn mức độ tuân thủ
của NNT, bên phải hình tam giác là các chiến lược quản lý tương ứng của cơ
quan thuế áp dụng với từng nhóm NNT:
- Nhóm không hợp tác. Ở đỉnh tháp tuân thủ là thái độ không hợp tác
thể hiện những NNT quyết không tuân thủ. Những đối tượng có thái
độ này hoặc là cố tình trốn thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc là
chọn lựa cách đứng ngoài. Đây là nhóm mà cơ quan thuế phải dành


ỷ lệ
đối

Đối tượng nộp

> ng
1%

trung bình

Đối tượng nộp

số thu thuế

tượ

thuế lớn

Đối tượng nộp thuế

Tỷ lệ đóng góp vào

70+ %

nộp

5 thu
- 25%

ế có

Để nâng cao tính tuân thủ của NNT thì trước hết cần phải hiểu được
tính tuân thủ của NNT bị tác động bởi những yếu tố nào và mức độ tác động
của những yếu tố này ra sao, từ đó cơ quan thuế mới sử dụng các chiến lược
và biện pháp thích hợp, hiệu quả để nâng cao tính tuân thủ của NNT. Có thể
khái quát những yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ của NNT thành bốn
nhóm sau:
Nhóm yếu tố về tình hình kinh tế - xã hội. Đây là nhóm yếu tố vĩ mô
phản ánh tình hình kinh tế - xã hội nói chung của một quốc gia như tốc độ
tăng trưởng kinh tế, tình hình lạm phát, tình hình chính trị....Vì đây là yếu tố
vĩ mô nên nhóm yếu tố này ảnh hưởng đến tính tuân thủ của tất cả các nhóm
NNT. Thông thường, khi nền kinh tế phát triển, tình hình chính trị, xã hội ổn
định thì thì nhóm nhân tố này có thể bỏ qua vì khi đánh giá mức độ ảnh
hưởng tới tính tuân thủ của NNT qua các năm là tương đối ổn định. Tuy
nhiên, trong trường hợp tình hình kinh tế xã hội bất ổn thì tác động của nhóm
nhân tố này đến tình tuân thủ của NNT lại rất lớn cả về phạm vi và mức độ
ảnh hưởng. Do vậy, cơ quan thuế cần đưa yếu tố này vào tính toán với trọng
số thích hợp trong quá trình đánh giá tính tuân thủ và xây dựng chiến lược
quản lý tính tuân thủ của NNT.
Nhóm yếu tố về hệ thống chính sách pháp luật nói chung và pháp luật
thuế nói riêng. Việc tuân thủ tốt thường bắt nguồn từ chính sách thuế rõ ràng.
Luật càng rõ và dễ hiểu và giải thích rõ được nội dung luật sẽ là căn cứ vững
chắc để xây dựng các chương trình quản lý tuân thủ. Luật phức tạp và không
rõ ràng sẽ làm tăng cơ hội cho NNT có những hành vi lợi dụng kẽ hở của luật.


Mặt khác, khi chính sách rõ ràng thì cơ quan thuế có nhiều cách để thực hiện
quy trình quản lý công bằng. Khi cộng đồng nhận thấy luật không phù hợp
với thực tế thì hiển nhiên các hành vi không tuân thủ sẽ ngày càng tăng thêm.
Hoặc những sự thay đổi của pháp luật về thuế sẽ gây ra những sự hiểu lầm về
luật hoặc vẫn thực hiện theo luật cũ,...

trong việc tránh các nghĩa vụ và tránh để không bị bắt.
Nhóm nhân tố về hoạt động quản lý của cơ quan thuế. Đây là nhóm
nhân tố phản ánh khả năng, trình độ tổ chức quản lý của cơ quan thuế. Nhóm
nhân tố này được xác định bao gồm các nội dung như: tổ chức bộ máy của cơ
quan thuế; các qui trình nghiệp vụ của cơ quan thuế; trình độ, năng lực của
cán bộ thuế; trình độ ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ
quan thuế; dịch vụ hỗ trợ người nộp thuế,.... Một cơ quan thuế có trình độ và
khả năng quản lý tốt sẽ đảm bảo tính thực thi của pháp luật thuế và đảm bảo
tính răn đe đối với những trường hợp cố tình vi phạm pháp luật về thuế.
1.2.3. Các phương pháp để đo lường mức độ tuân thủ của NNT
Như đã phân tích ở trên, hành vi tuân thủ của NNT nếu căn cứ theo
nghĩa vụ của NNT với cơ quan thuế là khá đa dạng, đặc biệt với mỗi nhóm
NNT lại có mức độ tuân thủ khác nhau. Do vậy, phải sử dụng kết hợp nhiều
phương pháp để đo lường mức độ tuân thủ của NNT:
Phương pháp thống kê. Cơ quan thuế xây dựng các chỉ tiêu đánh giá và
thống kê, phân tích số liệu trên cơ sở các dữ liệu sẵn có của mình. Thông
thường, phương pháp này được áp dụng để đo lường các chỉ tiêu như:
•Tổng thu thực tế/tổng thu mục tiêu hàng năm.
•Khoảng cách thuế = 1 – (tổng thu thực tế/tổng thu tiềm năng)
•Số lượng bản khai thuế nhận được/số lượng doanh nghiệp đăng ký nộp
thuế.


•Số lượng bản khai thuế nhận đúng thời hạn/số lượng bản khai thuế
nhận được.
•Số thuế cần tăng thêm sau thanh tra thuế/nghĩa vụ thuế kê khai.
•Số thuế tăng thêm thực tế thu được/số thuế cần phải tăng thêm sau
thanh tra thuế.
•Số nợ thuế thu được/số nợ thuế thực tế tính vào đầu năm thu nợ.
•Số trường hợp tránh thuế và trốn thuế...

cho thấy trình độ hiểu biết, thái độ tuân thủ cũng như những vấn đề
khó khăn của NNT khi thực hiện nghĩa vụ của họ. Tuy nhiên, số liệu
thu thập được và mức độ tin cậy của số liệu thu được qua điều tra,
khảo sát phụ thuộc rất nhiều vào cách thức xây dựng các bảng câu
hỏi và cách thức tổ chức điều tra, khảo sát.
- Quan sát trực tiếp: Khi cơ quan thuế có thể thu thập được những số
liệu tin cậy và xác định được khá chính xác số thuế phải nộp của
một NNT, cơ quan thuế sẽ thực hiện so sánh số dự tính với số kê
khai của NNT để đánh giá mức độ trung thực trong việc kê khai của
họ. Phương pháp này có tính chính xác cao nhưng khó có thể áp
dụng rộng rãi do những khó khăn trong việc khai thác và kiểm soát
các nguồn cung cấp thông tin.
- Xây dựng mô hình phân tích: Thông qua việc tổng hợp các số liệu,
chỉ tiêu liên quan đến tính tuân thủ của NNT qua nhiều năm, cơ
quan thuế có thể xây dựng các ngưỡng giới hạn đối với các số liệu,
chỉ tiêu này. Các trường hợp số liệu kê khai, tính toán vượt các
ngưỡng giới hạn này được coi là có nhiều nguy cơ không tuân thủ
pháp luật thuế.
Các phương pháp thông dụng được đề cập ở trên thường được dùng để
đo lường, đánh giá mức độ tuân thủ của NNT. Tuy nhiên, cần phải thừa nhận


rằng không có một phương pháp nào có thể đo lường một cách tuyệt đối đúng
và toàn diện mức độ tuân thủ của NNT. Vì vậy, cơ quan thuế cần căn cứ vào
điều kiện cụ thể của mình lựa chọn kết hợp nhiều phương pháp để đo lường,
đánh giá mức độ tuân thủ của NNT cho phù hợp và hiệu quả.
1.2.4. Phương thức quản lý thuế và mối quan hệ với tính tuân thủ của NNT
Quản lý thuế truyền thống coi NNT là đối tượng quản lý của cơ quan
thuế. Nhưng các nghiên cứu quản lý thuế hiện nay khi xem xét cách tiếp cận
để đổi mới quản lý thuế đã nhấn mạnh muốn đạt được hiệu lực quản lý thuế

- Trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và nhất là trách nhiệm về hành vi
được qui định rõ ràng cho cả hai phía là cơ quan thuế và NNT;
- Dân chủ trong quan hệ giữa cơ quan thuế và NNT;
- Cơ quan thuế không can thiệp và không làm thay trách nhiệm của
NNT;
- Cơ quan thuế chuyển đổi từ việc chủ yếu dùng quyền lực đẻ quản lý
chuyển sang lấy hỗ trợ là chính. Đây là nền tảng cho một cuộc cái
cách toàn diện hệ thống quản lý thuế;
- Chế độ kiểm tra của cơ quan thuế chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu
kiểm". Tức là chuyển sang quản lý thuế theo cách thức quản lý rủi
ro theo nhóm người nộp thuế.



Đăng ký thuế

quan quản
lý thuế

Khai thuế
Nộp thuế

N
g
ư

i
n



thuế là cơ quan Thu nội địa chịu trách nhiệm quản lý thu các loại thuế trực thu
và cơ quan Hải quan quản lý thu các loại thuế gián thu và thuế tiêu thụ đặc
biệt. Cả hai cơ quan đều trực thuộc Bộ Ngân khố (Bộ Tài chính) của Anh. Cơ
chế tự kê khai, tự nộp thuế được cơ quan thu nội địa Anh áp dụng từ năm


1996, tác động tới hơn 8 triệu NNT cá nhân, 700.000 tổ chức hợp danh và
300.000 quĩ tín thác.
Công tác tuyên truyền, hỗ trợ NNT của cơ quan thu nội địa được thực
hiện như sau:
- Nguồn lực: Công tác tuyên truyền, hỗ trợ đóng vai trò quan trọng
hàng đầu để đảm bảo sự thành công của cơ chế tự kê khai, tự nộp
thuế, nên số cán bộ thuế thực hiện nhiệm vụ này là rất lớn, chiếm
28% số cán bộ toàn ngành thuế. Tuy nhiên, tỷ lệ cán bộ thực hiện
công tác hỗ trợ đang giảm xuống do việc áp dụng các tiến bộ kỹ
thuật như điện thoại, internet,...
- Cơ sở vật chất: các phòng hỗ trợ NNT của cơ quan thuế Anh thường
được bố trí gần ngay phía cửa ra vào và rất thuận tiện cho người nộp
thuế. Đây đồng thời là nơi tiếp nhận các loại văn bản giấy tờ gửi đến
cơ quan thuế. Các phòng được bố trí trong một không gian rộng có
nơi đón tiếp khách hàng, có ghế ngồi chờ, có giá để các tài liệu
hướng dẫn và các tờ khai về nhiều lĩnh vực, nhiều vấn đề và bằng
nhiều ngôn ngữ. Các phòng này trang bị một số máy tính nối mạng
để NNT có thể truy cập tìm hiểu chính sách thuế. Tính đến cuối
tháng 8/2004 toàn ngành thuế nước Anh với 76.600 công chức
nhưng được trang bị đến 90.000 máy tính cá nhân và 3.500 máy in,
750 máy chủ để công tác hỗ trợ NNT.
- Các hoạt động tuyên truyền, hỗ trợ NNT được tiến hành dưới nhiều
hình thức dịch vụ phong phú với phương châm phục vụ khách hàng
tốt nhất:

trả lời của cán bộ thuế.
- Đánh giá kết quả thực hiện: Theo thống kê của cơ quan thuế Anh
thì tính đến cuối năm 2003 có 85% số văn bản trả lời trong 15 ngày
(yêu cầu đặt ra là 80%), 90% số cuộc gọi đến được trả lời sau 20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status