TÀI LIỆU THAM KHẢO hỏi đáp tư TƯỞNG hồ CHÍ MINH về đại đoàn kết TOÀN dân tộc, đoàn kết QUỐC tế và mặt TRẬN dân tộc THỐNG NHẤT - Pdf 41

1

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC, ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ VÀ
MẶT TRẬN DÂN TỘC THỐNG NHẤT

Câu hỏi 1: Vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự ra đời của Mặt
trận dân tộc thống nhất?
Trả lời: Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và thống trị nước ta
đã biến nước ta từ chế độ phong kiến lạc hậu thành một xã hội thuộc địa và nửa
phong kiến, với hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc Việt
Nam với chủ nghĩa đế quốc và mâu thuần giữa toàn thể nhân dân Việt Nam, chủ
yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.
Đầu thế kỷ XX, một số sĩ phu đầy nhiệt huyết đã hướng ra nước ngoài với
hy vọng tìm được con đường cứu nước. Các cuộc cách mạng thế giới, đặc biệt là
Cách mạng tư sản Pháp, Cách mạng Tân Hợi Trung Quốc và Minh Trị duy tân ở
Nhật Bản đã tác động vào nước ta, làm cho phong trào yêu nước sau một thời
gian chìm lắng lại trở nên sôi động và có bước phát triển mới về nhiều mặt.
Ngoài các đòi hỏi về dân tộc, các phong trào còn nêu yêu sách về dân sinh, dân
chủ, không chỉ đấu tranh vũ trang mà còn tiến hành đấu tranh trên các mặt trận
chính trị, tư tưởng, văn hoá. Cũng với những phong trào truyền bá tư tưởng tự
do, bình đẳng, bác ái, bình quyền, xuất hiện các cuộc vận động bài trừ hủ tục, lập
hội buôn, mở mang công thương nghiệp dân tộc…
Tuy vậy, phong trào đấu tranh và các cuộc vận động chấn hưng dân tộc
vẫn bế tắc vì hầu hết các phong trào đều thiên về hướng ngoại, cầu viện và dựa
vào sức mạnh từ bên ngoài, chưa thấy và càng chưa biết phát huy sức mạnh nội
lực dân tộc là chính. Một số người cầm đầu tuy đã kêu gọi, hô hào "đồng tâm,
"hiệp lực", "đồng bào", "đồng chí" nhưng chưa coi trọng và chưa biết đoàn kết,


2

Trần Dân tiên: Những mẫu chuyện về đời hoạt động chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H1994, Tr12
Trần Dân tiên: Những mẫu chuyện về đời hoạt động chủ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, H1994, Tr12


3

Người chẳng những sớm ý thức được tầm quan trọng mà còn đặt nhiệm vụ hàng
đầu của công cuộc giải phóng là phải tiến hành giáo dục và giác ngộ quần chúng.
Trong "Bản án chế độ thực dân Pháp", Người đã nhận định: "Ở Đông Dương
chúng ta có đủ tất cả những cái mà một dân tộc có thể mong muốn… Nhưng
chúng ta thiếu tổ chức và thiếu người tổ chức" 1. Do vậy, khi tổng kết về hoạt
động của Hội liên hiệp các dân tộc thuộc địa, trong Thư gửi các bạn cùng hoạt
động ở Pháp, Người đã nói rõ mục tiêu của mình khi trở về Tổ quốc: "Đối với
tôi, câu trả lời đã rõ ràng: trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, huấn
luyện họ, họ đưa ra đấu tranh giành tự do, độc lập"2.
Khác với các nhà yêu nước tiền bối, ngay từ đầu Nguyễn Ái Quốc đã có
quan niệm đúng đắn về mối quan hệ đoàn kết giữa nhân dân thuộc địa với vô sản
của tất cả các nước là yêu cầu tất yếu, là điều kiện không thể thiếu được để giành
thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Người kêu gọi các dân
tộc phương Đông đoàn kết lại để đặt cơ sở cho một liên minh phương Đông
tương lai vì "khối liên minh này sẽ là một trong những cái cánh của cách mạng
vô sản"3.
Tuy nhiên, để tiến tới việc thành lập Mặt trận dân tộc chống đế quốc ở các
thuộc địa và xác định vị trí, vai trò của liên minh công nông trong Mặt trận đã
được Người từng bước xác lập trong thời kỳ này. Trong bài phát biểu tại Đại hội
quốc tế Nông dân lần thứ nhất (1923) cũng như trong một số tài liệu của Người
khi hoạt động tại Quốc tế Cộng sản, Người đã chỉ rõ: muốn nắm quyền lãnh đạo
cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn thì phải coi trọng vấn đề nông dân vì đó là
lực lượng to lớn nhất trong phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa. Nhưng
mặt khác, Người cũng giải thích: chỉ với lực lượng của chính mình, nông dân

thể giải quyết bằng cách hoà bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác
nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hoà bình được.
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẵn sàng đặt mọi quan hệ thân thiện
hợp tác với bất cứ một nước nào trên nguyên tắc: tôn trọng sự hoàn chỉnh về chủ
quyền và lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp nội trị
của nhau, bình đẳng cùng có lợi và chung sống hoà bình. Chúng tôi tin chắc rằng
sự hợp tác đó sẽ có lợi cho cả đôi bên và có lợi chung cho công cuộc hoà bình
toàn thế giới"1. Trong Lời kêu gọi Chính phủ và nhân dân Pháp (10-1-1947), Hồ
Chí Minh viết:"… Chúng tôi muốn hoà bình ngay để máu người Pháp và Việt
ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau. Chúng tôi mong
đợi ở Chính phủ và nhân dân Pháp một cử chỉ mang lại hoà bình. Nếu không,
chúng tôi bắt buộc phải chiến đấu đến cùng để giải phóng hoàn toàn đất nước"2.
Trong khi ra sức phấn đấu thực hiện tốt mục tiêu đối ngoại của dân tộc
mình, Hồ Chí Minh rất tôn trọng lợi ích chính đáng của các quốc gia dân tộc
khác. "Mình chớ làm cho người những điều không muốn người làm cho mình"3.
Phát biểu nhân dịp Quốc kháng lần thứ 10 của nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà (2-9-1955), Hồ Chí Minh tuyên bố rõ: "Trong quan hệ đối với các
nước khác, chính sách của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà là rõ ràng và trong
sáng: đó là một chính sách hoà bình và quan hệ tốt. Chính sách đó dựa trên năm
nguyên tắc vĩ đại nêu trong các bản tuyên bố chung Trung- Ấn và Trung-Miến,
tức là: tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của nhau, không xâm phạm,
không can thiệp vào các công việc nội bộ, bình đẳng và hai bên cùng có lợi,
chung sống hoà bình"4.

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 8, Sdd… Tr. 4-5
Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 5, Sdd… Tr. 18-19
3 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, Sdd… Tr. 354
4 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 8, Sdd… Tr. 58
1
2

rõ chính sách đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà như sau:
1

Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 9, Sdd… Tr. 84


11

"1. Đối với Lào và Miên, nước Việt Nam tôn trọng nền độc lập của hai
nước đó và bày tỏ lòng mong muốn hợp tác trên cơ sở bình đẳng tuyệt đối giữa
các nước có chủ quyền.
2. Đối với các nước dân chủ, nước Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách
mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư
bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình.
b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao
thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế.
c) Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế
dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc.
d) Nước Việt Nam sẵn sàng ký kết với các lực lượng hải quân, lục quân
trong khuôn khổ của Liên hợp quốc những hiệp định an ninh đặc biệt và những
hiệp ước liên quan…"1.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên Anh Rốt Xenxpô (26-4-1956): "Chủ
tịch có định mở rộng những quan hệ ngoại giao và nhất là thương mại đối với
phương Tây không?", Hồ Chí Minh tuyên bố: "Trên nguyên tắc bình đẳng và hai
bên cùng có lợi, chúng tôi sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và thương mại với tất
cả các nước"2.
Như vậy, theo Hồ Chí Minh việc xác định đúng đắn mục tiêu đối ngoại là
cơ sở để thực hiện chiến lược đại đoàn kết, nhằm đoàn kết, tập hợp mọi lực
lượng có thể đoàn kết, tập hợp, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc triển khai những hoạt động quốc tế
dồn dập nhằm tranh thủ mọi lực lượng có thể đoàn kết, tạo hậu thuẫn cho cách
mạng Việt Nam. Cuối tháng 6-1940, Người đáp máy bay gặp Chu Ân Lai, đại
diện Trung ương Đảng cộng sản Trung Quốc ở Trùng Khánh để trao đổi về thời
cuộc và bàn phối hợp hoạt động giữa cách mạng hai nước. Đầu tháng 7, Người
trở lại Côn Minh, viết báo cáo gửi Quốc tế cộng sản. Tư liệu mới tìm được trong
tập Tư liệu về Đông Dương của Nguyễn Ái Quốc có văn bản Gửi Quốc tế cộng
sản viết bằng chữ Hán đề ngày 12-7-1940. Trong đó, Người trình bày vắn tắt
1
2

Vũ Anh, Những ngày gần Bác trong cuốn: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, Tr 233
Vũ Anh, Những ngày gần Bác trong cuốn: Đầu nguồn, Nxb Văn học, H. 1975, Tr 234


13

những nét chủ yếu tình hình Đông Dương về thái độ của các giai cấp xã hội,
phong trào cách mạng Việt Nam từ năm 1930. Người phân tích kỹ tình hình nội
bộ Đảng ta từ khi thành lập đến đầu chiến tranh thế giới thứ hai. Đặc biệt là
những đánh giá có tính chất dự báo khá chính xác về tình hình quốc tế, về tình
thế cách mạng mới đối với Việt Nam.
Cuối tháng 7, Nguyễn Ái Quốc chuyển về Quảng Tây. Tại đây, Người
triệu tập cuộc họp cán bộ để thảo luận vấn đề: phải nhân danh một tổ chức hợp
pháp để quan hệ với Tưởng, phải có cớ về nước đàng hoàng, càng sớm càng tốt,
trong lúc Tưởng đang ráo riết chuẩn bị kế hoạch "Hoa quân nhập Việt" và quan
hệ Quốc-Cộng lúc này đã xấu đi. Người quyết định cho lập Việt Nam độc lập
đồng minh hội do Hồ Học Lãm, một người yêu nước làm sĩ quan trong Bộ tham
mưu quân đội Tưởng đứng đầu. (Tổ chức này được chính phủ Nam Kinh cho
phép hoạt động hợp pháp). Người căn dặn: "Trong việc giao dịch với Quốc dân

Câu hỏi 4: Đảng ta vận dụng phương châm, mục đích của ta là bất di
bất dịch, nguyên tắc của ta phải vững chắc, sách lược của ta phải linh hoạt,
thực hiện “ dĩ bất biến, ứng vạn biến” của tư tưởng Hồ Chí Minh vào sự
nghiệp đổi mới như thế nào ?
Trả lời: Đảng ta khởi xướng sự nghiệp đổi mới vào lúc đất nước đang
trong tình trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội nghiêm trọng; Mỹ và một số nước
khác tiến hành bao vây về kinh tế, cô lập về chính trị đối với Việt Nam. Trước
những thách thức to lớn, cách mạng Việt Nam lúc này đặt ra hai yêu cầu quan
trọng và cấp bách:
Một là, phải giải toả tình trạng căng thẳng, đối đầu của các thế lực thù
địch, phá thế bị bao vây, cấm vận, nhằm tiến tới thiết lập quan hệ và mở rộng
quan hệ giữa Việt Nam với các nước, tạo môi trường khu vực thuận lợi, tăng
cường hợp tác với bên ngoài để xây dựng, phát triển đất nước.
Hai là, phải giải quyết những khó khăn về kinh tế đưa đất nước ra khỏi
khủng hoảng kinh tế-xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa Việt Nam với
các quốc gia khu vực, trong bối cảnh các nguồn viện trợ, đầu tư từ các nước xã
hội chủ nghĩa Liên Xô và Đông Âu không còn.
Bước vào công cuộc đổi mới, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ VI đã xác định rõ quan điểm về đối ngoại của Đảng ta là, tăng cường quan
hệ đặc biệt giữa ba nước Đông Dương, chủ trương hợp tác toàn diện, giúp đỡ lẫn
nhau, coi đây là quy luật sống còn và phát triển của cả ba dân tộc anh em; xác
định quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Liên Xô luôn luôn là hòn đá tảng
trong chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam; tăng cường quan
hệ hữu nghị và hợp tác với các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế; tăng
cường hợp tác giữa các đảng anh em trong công cuộc đấu tranh vì những mục
tiêu chung là hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội…. Điều đó


18


Minh về đối ngoại với phương châm: mục đích của ta là bất di, bất dịch, nguyên
tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì phải hết sức linh hoạt,
mềm dẻo, thực hiện "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Nắm vững phương châm trên
trong mọi thời kỳ cách mạng, nhất là trong tình hình mới, Đảng ta chỉ rõ: "Tình
hình mới đã đặt ra những nhiệm vụ mới, phương châm mới, sách lược mới…
chính sách và khẩu hiệu cũng phải thay đổi cho phù hợp với tình hình mới".
Nhưng cuối cùng thì các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể đều nhằm mục đích thực
1

ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, Tr. 113, 114


22

hiện cho được mục tiêu cơ bản, đó là: Xây dựng một nước Việt Nam độc lập,
thống nhất, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách
mạng thế giới.

CÂU HỎI 5. Vị trí, ý nghĩa và tầm quan trọng của đại đoàn kết theo tư
tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay ?
Đoàn kết là qui luật tồn tại của mọi quốc gia, dân tộc và là qui luật giành thắng
lợi của cách mạng Việt Nam. Sớm Nhận thức được đặc điểm, tính chất và xu thế
của thời đại mới, Hồ Chí Minh đã gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng vô sản
thế giới, cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa để xác định đường lối chiến
lược, sách lược đúng đắn cho cách mạng Việt Nam trong quá trình xây dựng, củng
cố khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, nhằm tạo ra thực lực cho cách
mạng Việt Nam vượt qua khó khăn, thử thách tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, là một tổng kết lịch sử dựng
nước, giữ nước của dân tộc ta, đúc kết thực tiễn kinh nghiệm xây dựng lực lượng
của các cuộc cách mạng trên thế giới, đồng thời phản ánh đúng đắn xu thế, nguyện

diễn biến hết sức phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang ra sức
ráo riết chống phá cách mạng nước ta một cách quyết liệt, dưới nhiều hình thức hết
sức tinh vi, xảo quyệt. Trong nước, sự tác động của nhiều nhân tố, nhất là sự tác
động của mặt trái kinh tế thị trường, đã gây ra không ít khó khăn, phức tạp cho quá
trình thực hiện xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Để
tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách, làm thất bại mọi âm mưu, hành động của các
thế lực thù địch, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, phải thường xuyên
nêu cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ sự cần thiết phải không ngừng củng cố và
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đồng thời phải nắm vững nguyên tắc,
kiên định mục tiêu chiến lược trong việc mở rộng quan hệ quốc tế, chủ động hội
1
2

ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, H. 2006, Tr. 116
ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, H. 2006, Tr. 112


24

nhập với thế giới nhằm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại vào sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới của cách mạng nước ta.
2. Yêu cầu cơ bản của việc xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết hiện nay
là gì ?
Xây dựng, củng cố và phát triển khối đại đoàn kết là một qúa trình cách
mạng hết sức công phu, đòi hỏi Đảng phải có phương pháp khoa học và phải chủ
động, sáng tạo trong xử lý các mối quan hệ trong nước và quốc tế. Quán triệt tư
tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết, trong bối cảnh quốc tế và trong nước hiện nay,
cần thực hiện tốt một số yêu cầu cơ bản sau:
Trên cơ sở nắm vững mục tiêu chung: “giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ
quốc, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”1, đồng thời

của Đảng làm suy yếu khối đại đoàn kết.
Để xây dựng và mở rộng khối đại đoàn kết ngày càng được bền vững, bên
cạnh sự tích cực, chủ động tìm kiếm và phát huy những yếu tố tương đồng, sự trùng
hợp về lợi ích lâu dài hoặc trước mắt trong cộng đồng dân tộc, khu vực và quốc tế,
đồng thời phải nắm vững nguyên tắc và xử lý khéo các mối quan hệ giữa dân tộc
với giai cấp, quốc gia với quốc tế, thì mới có thể động viên, khơi dậy và phát huy
được những khả năng cao nhất của mọi tổ chức, cá nhân, thành phần và lực lượng ở
trong nước và quốc tế vào sự nghiệp cách mạng của nước ta.
Tuy nhiên, đối với đại đoàn kết dân tộc, phải luôn luôn đặt lên hàng đầu mục
tiêu chung làm điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, các
tầng lớp nhân dân trong toàn dân tộc vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước,
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời chủ động xây dựng được một hệ
thống chính sách đúng đắn, phù hợp cho từng đối tượng, động viên khích lệ các
tầng lớp nhân dân, tích cực, hăng hái tham gia lao động sản xuất, kinh doanh theo
đúng pháp luật, thực hiện “ích nước, lợi nhà”.
Đối với đoàn kết quốc tế, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc
lập tự chủ, mở rộng, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế “Việt
Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia
tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực”. 1 Tích cực cải thiện và mở
rộng tối đa quan hệ hữu nghị, hợp tác với tất cả các nước có chế độ xã hội và
ĐCSVN, Văn kiện ĐHĐBTQ lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006, Tr. 112

1



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status