ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ DÂN
B¶O §¶M QUYÒN Tù DO TÝN NG¦ìNG, T¤N GI¸O
ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ DÂN
B¶O §¶M QUYÒN Tù DO TÝN NG¦ìNG, T¤N GI¸O
ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS CHU HỒNG THANH
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
1.2.1. Quy định quốc tế ............................................................................................... 17
1.2.2. Các văn kiện khu vực ....................................................................................... 22
1.3.
Kinh nghiệm bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo trong pháp
luật một số nƣớc trên thế giới ........................................................................ 24
1.3.1. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ .................................................................................. 24
1.3.2. Cộng hòa Pháp .................................................................................................. 26
1.3.3. Trung Quốc ........................................................................................................ 29
1.3.4. Một số quốc gia Hồi giáo tiêu biểu ................................................................... 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO TÍN NGƢỠNG,
TÔN GIÁO TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM ......................................... 33
2.1.
Khái quát về tín ngƣỡng, tôn giáo ở Việt Nam ............................................ 33
2.1.1. Đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam ...................................... 33
2.1.2. Khái quát về tình hình tín ngưỡng........................................................... 35
2.1.3. Khái quát về tình hình tôn giáo ở Việt Nam ..................................................... 36
2.2.
Bảo đảm quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam ........ 42
2.2.1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam ......................... 42
2.2.2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản Luật, Nghị định ............. 46
2.3.
(The African Commission on
Human and Peoples Rights)
Hiến chương Châu Phi về quyền
con người
ACHR
(The American Convention on
Human Rights)
Công ước Châu Mỹ về quyền con
người
ECHR
(The European Convention on
Human Rights)
Công ước Châu Âu về bảo vệ
quyền con người và tự do cơ bản
ICCPR
(International Convenat on Civil
and Political Rights)
Công ước quốc tế về các quyền
dân sự và chính trị
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và
sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào
tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lịch sử dựng nước và giữ
nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử thống nhất và đoàn kết của cộng đồng dân tộc,
giữa các tôn giáo và tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo du nhập từ bên ngoài. Các
dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có những tín ngưỡng riêng gắn
liền với đời sống kinh tế và tâm linh của mình.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền cơ bản của con người, được
ghi nhận trong pháp luật quốc tế về quyền con người cũng như trong pháp luật của
nhiều quốc gia trên thế giới. Liên hợp quốc đề cao và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo trong Tuyên ngôn về nhân quyền năm 1948 và Công ước quốc tế về
các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Hầu hết các quốc gia đều ghi nhận và bảo
đảm thực hiện quyền này trong hệ thống pháp luật của mình.
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, số lượng người theo tôn giáo khá đông (chỉ
tính riêng 6 tôn giáo lớn, số tín đồ đã chiếm khoảng ¼ dân số) và đang có xu hướng
phát triển mạnh. Với vị trí nằm giữa ngã ba của Đông Nam Á, giáp biển Đông, là nơi
giao lưu của nhiều luồng tư tưởng văn hóa khác nhau và có vị trí thuận lợi cho việc
tiếp thu hai nền văn minh của phương Đông là văn minh Trung Hoa và văn minh Ấn
Độ. Những đặc điểm tự nhiên, lịch sử và văn hóa đó đã tác động sâu sắc đến tín
ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam làm cho chúng trở nên đa dạng và phong phú hơn. Mặc
dù có nguồn gốc khác nhau, phương châm hành đạo không giống nhau nhưng các tôn
giáo đều có giá trị nhân văn cao đẹp, đạo đời hòa hợp, đều mong muốn sống “tốt đời,
đẹp đạo”, làm cho “nước vinh, đạo sáng”. Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn quan
tâm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho tín đồ tôn giáo, bảo đảm cho các tôn
giáo phát triển hài hòa, đồng hành cùng dân tộc. Giáo hội các tôn giáo khi được Nhà
nước công nhận tư cách pháp nhân đều được chính quyền các cấp quan tâm và tạo
nhau trong đời sống xã hội. Theo đó, hoạt động đối ngoại tôn giáo đòi hỏi tương xứng
và phù hợp với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và nhà nước ta và phải phải
phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó có quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo.
2
Cùng với sự nghiệp đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, Đảng đã từng bước
đổi mới về vấn đề tôn giáo và công tác tôn giáo. Trong quá trình đó, tư duy lý luận
của Đảng ta về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo ngày càng được thể hiện một cách đầy đủ,
hoàn thiện hơn theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi
mới và thực hiện chính sách về tôn giáo: Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo là một xu thế tiến bộ của nhân loại đã trở thành một chính sách lớn
của nhiều nhà nước. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một nguyên tắc
trong quan hệ của Nhà nước Việt Nam và các tổ chức tôn giáo; là động lực quan
trọng giúp đồng bào tôn giáo nhận thức rằng: Nhà nước không phân biệt đối xử, luôn
bình đẳng giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; là
một nhân tố quan trọng phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính
vì vậy, Đại hội lần thứ XII của Đảng gần đây tiếp tục chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện
chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo
đức tốt đẹp của các tôn giáo” [18].
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách tín ngưỡng, tôn giáo
của Đảng và Nhà nước ta cũng đã và đang bộc lộ một số hạn chế, chưa phù hợp với
tình hình thực tế. Chính sách của Đảng về tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo chưa
được cụ thể hóa kịp thời thành pháp luật; hoặc chưa rõ ràng, cụ thể dẫn đến việc áp
dụng không thống nhất giữa các địa phương, thậm chí sai chủ trương, chưa đáp ứng
được nhu cầu tôn giáo ngày càng tăng của tổ chức, cá nhân tôn giáo. Ở nhiều nơi, các
hình thức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo diễn ra phức tạp. Một số quan hệ Nhà nước
với các tổ chức tôn giáo, giữa một số tổ chức tôn giáo với nhau hoặc giữa các cộng
mặc dù có nhiều thành tựu, song chưa tạo được hành lang pháp lý vững chắc, tính khả
thi và hiệu quả chưa cao. Với những lí do trên, tác giả đã chọn đề tài “Bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình,
với mục đích góp phần khắc phục những hạn chế trong nghiên cứu khoa học về bảo
đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của cá nhân, tổ chức tôn giáo trước yêu
cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay, nhằm
bổ sung, hoàn thiện và phát triển các quan điểm, chính sách đã có, đề xuất giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam
trong tình hình hình hiện nay.
4
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tín ngưỡng, tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm, được pháp luật quốc tế và các
quốc gai tôn trọng và bảo vệ, trong đó có Việt Nam. Hiện nay, có rất nhiều công trình
nghiên cứu lý luận về tôn giáo, nhiều bài viết về tôn giáo và ảnh hưởng của tôn giáo
đối với các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội.
Liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về tôn giáo ở Việt Nam đã thu hút sự quan tâm của nhiều học giả trong nước
như: Tình hình và thực trạng tôn giáo ở Việt Nam hiện nay của PGS.TS Nguyễn Đức
Lữ; GS.TS Đặng Nghiêm Vạn với Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt
Nam, Nxb Chính trị Quốc gia; Trần Minh Thư với Tìm hiểu Pháp luật Việt Nam về
tôn giáo, tín ngưỡng.
Ngoài ra còn có Tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam,
Viện Khoa học xã hội nhân văn quân sự thuộc Bộ quốc phòng, Nxb Quân đội nhân
dân, Hà Nội, 2005. Ban tôn giáo Chính phủ với cuốn sách Tôn giáo và chính sách tôn
giáo ở Việt Nam đã giúp tác giả có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình tôn giáo, hiểu
rõ quan điểm, nhận thức tư duy lý luận mới của Đảng ta về vấn đề tôn giáo, tôn trọng
tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo trong thời kỳ đổi mới.
Đánh giá thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật
Việt Nam hiện nay; trên cơ sở đó rút ra nguyên nhân của những bất cập trong việc
bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Kiến nghị, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định pháp luật Việt Nam về
hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách của Nhà nước về hoạt động tín
ngưỡng, tôn giáo.
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài về không gian là trên lãnh thổ Việt Nam; về
thời gian là từ khi có Pháp lệnh về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004 đến nay.
5. Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Nội dung nghiên cứu
Những vấn đề lý luận cơ bản về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Thông qua
thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đề xuất một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
6
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được tiến hành dựa trên cơ sở phương pháp luận: Chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tín ngưỡng, tôn giáo và tự do tín ngưỡng, tôn giáo;
quan điểm của cộng đồng quốc tế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quan điểm,
đường lối, chính sách của Đảng về và Nhà nước ta về bảo đảm thực hiện quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.
- Luận văn được thực hiện dựa trên việc vận dụng phương pháp phân tích,
tổng hợp, xã hội học, so sánh, đánh giá để làm sáng tỏ những vấn đề liên quan. Luận
văn cũng khai thác những thông tin tư liệu của các công trình nghiên cứu đã công bố
để chứng minh cho các luận điểm.
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam hiện nay.
8
Chƣơng 1
CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN
TỰ DO TÍN NGƢỠNG, TÔN GIÁO
1.1. Khái niệm, đặc điểm về bảo đảm quyền tự so tín ngƣỡng, tôn
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về tín ngưỡng
Theo Chủ nghĩa Mác – Lênin thì tín ngưỡng, tôn giáo là một loại hình thái ý
thức xã hội phản ánh một cách hoang đường, hư ảo hiện thực khách quan.
Một số nhà thần học thì xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái thiêng,
cái huyền bí ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một
quyền lực to lớn có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc và
sự bình yên.
Ở Việt Nam, tín ngưỡng cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
- Theo GS.TS Đặng Nghiêm Vạn, thuật ngữ tín ngưỡng có thể có hai nghĩa.
Khi nói đến tự do tín ngưỡng, người nước ngoài có thể hiểu đó là niềm tin nói chung
(belief, believe, croyance) hay niềm tin tôn giáo (belief, belive, croyance riligieuse).
Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm
tin tôn giáo thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu nhất cấu thành của tôn giáo.
- Các học giả như Toan Anh, Phan Kế Bính… xem tín ngưỡng là tín ngưỡng
dân gian với các nghi lễ thờ cúng thể hiện qua lễ hội, tập quán, phong tục truyền
thống của dân tộc Việt Nam.
- Tác giả Nguyên Chính cho rằng tín ngưỡng là niềm tin, sự trông cậy và yêu
quý một thế lực siêu nhiên mà với tri thức con người và kinh nghiệm chưa đủ để giải
thích và lý giải được.
cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao
giờ có tôn giáo”. C.Mác trong tác phẩm “Góp phần phê phán Triết học Pháp quyền”
của Hêghen viết: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của
thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có
tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [4]. P. Ăngghen thì cho rằng: “Tôn
giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên
ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày”.
Ở Việt Nam, gần đây một số nhà nghiên cứu tôn giáo cũng đưa ra những lý
10
giải hoặc chia sẻ quan điểm của mình về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong Từ điển tiếng
Việt xuất bản năm 1992, tác giả Hoàng Phê đưa ra định nghĩa: “Tôn giáo là hình thức
xã hội, gồm những quan niệm dựa trên cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu
nhiên, cho rằng lực lượng siêu tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải
phục tùng, tôn thờ”.
Theo Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn thì “Tôn giáo có nghĩa là thu lượm thêm sức
mạnh siêu nhiên”. Trong cuốn “Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt
Nam” xuất bản năm 1998 ông cho rằng:
Tôn giáo là thế giới siêu nhiên vô hình được chấp nhận một cách
trực giác và tác động qua lại hư ảo giữa con người và thế giới đó nhằm lý
giải những vấn đề trên trần thế, cũng như ở thế giới bên kia trong những
hoàn cảnh lịch sử, địa lý khác nhau, của từng cộng đồng tôn giáo hay xã
hội khác nhau [50, tr.23].
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Xuân, Phó trưởng ban Tôn giáo Chính phủ đã đưa ra
một định nghĩa về tôn giáo khá bao trùm: “tôn giáo là niềm tin của con người vào thế
giới siêu nhiên và hành vi thực hiện những niềm tin đó. Tôn giáo là “đức tin vào sự
thờ phụng”. Như vậy, với định nghĩa trên thì tôn giáo bao gồm hai phạm trù đó là
niềm tin và hành vi của con người để thực hiện niềm tin vào thế giới siêu nhiên và
thực hành, thờ phụng, rao giảng hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm
này thường được thừa nhận là có bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do
không theo một tôn giáo nào. Tại nhiều quốc gia, tự do tín ngưỡng được nhiều người
coi là một quyền cơ bản của con người.
Quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo được hình thành ở Châu Âu với các
cuộc cách mạng tư sản Thế kỷ XVII- XVIII. Những nhà tư tưởng như John Locker đã
đặt nền móng cho quyền tự do tôn giáo khi cho rằng tôn giáo là vấn đề của cá nhân hơn
là của xã hội. Vai trò của nhà nước không phải là khuyến khích phát triển tôn giáo mà
là bảo vệ quyền của mỗi cá nhân có thể sở hữu niềm tin tôn giáo của chính mình và
cách tốt nhất là hãy để cá nhân, mỗi người hãy tự lựa chọn tôn giáo cho mình.
Quan niệm về tự do tín ngưỡng, tôn giáo dần dần trở nên hoàn thiện hơn theo
tiến trình vận động của lịch sử. Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 đã đề cập
đến tự do, song chưa nói cụ thể về tự do tôn giáo. Tuyên ngôn nhân quyền và dân
quyền của Pháp năm 1789 đã nói đến tự do cá nhân, tự do tư tưởng, tự do tôn giáo
song cũng chưa đề cập đến một cách cụ thể:
12
Mỗi người đều được phát biểu tư tưởng tự do, về tôn giáo cũng vậy,
miễn là những tư tưởng phát biểu đó không làm tổn thương đến nền trật tự
công cộng đã được pháp luật ấn định phân minh [27].
Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền định nghĩa về tự do tín ngưỡng như sau:
Mỗi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm và tín ngưỡng,
quyền này bao gồm tự do thay đổi tín ngưỡng và tự do thể hiện tôn giáo
hay tín ngưỡng của mình một cách cá nhân hoặc công khai trong việc rao
giảng, thực hành, thờ phụng và tu tập [28].
Tuyên bố về tự do tôn giáo của Hội đồng nhà thờ thế giới năm 1948:
Mọi người đều có quyền bày tỏ niềm tin tôn giáo của mình trong
giảng dạy, thờ phụng và thực hành, và công bố tác động của niềm tin của
kỳ sự kích động phân biệt dối xử nào như vậy [28].
Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật ghi nhận phù
hợp với quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự. Pháp luật Việt Nam một
mặt thừa nhận và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, mặt khác
cũng đề ra những phạm vi, giới hạn của việc thực hiện quyền đó. Nhìn chung, pháp
luật về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã thể hiện được khá đầy đủ quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo được nêu trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 và
Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
Như vậy, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là việc Nhà nước ghi nhận
các quyền tự do của công dân trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo và đề ra các biện
pháp nhằm thúc đẩy cho các quyền đó được thực hiện đồng thời có những cơ chế để
bảo vệ các quyền đó.
1.1.2. Đặc điểm của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một quyền con người cơ bản thuộc nhóm
các quyền dân sự, chính trị, gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân, không thể
chuyển giao, không thể chia cắt và không thể bị tước bỏ bởi bất cứ ai và bất kỳ thể
chế chính trị nào.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được xác lập, thực hiện và phát triển phù
hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và trình độ
phát triển của xã hội, nó luôn phản ánh bản chất của chế độ chính trị xã hội và trình
độ phát triển của xã hội. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo luôn gắn liền với độc lập
dân tộc, chủ nghĩa xã hội, chủ quyền quốc gia, với an ninh và ổn định chính trị, kinh
tế - xã hội của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Tuy nhiên, mọi hoạt động vẫn cần diễn ra
theo đúng khuôn khổ pháp luật.
15
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có quy tắc riêng đó là quy tắc đối nhân xử
thế giữa con người với con người, giữa con người với thế giới; nó đề cao, cổ vũ tình
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị) thì việc giới hạn này là cần thiết cho việc bảo
vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những
quyền và tự do cơ bản của người khác. Nhà nước được quyền dùng những biện pháp
cần thiết để trấn áp những hành vi phi tôn giáo như hoạt động lợi dụng tôn giáo hay
truyền bá những niềm tin đi ngược đạo đức, luân lý (tà giáo). Những giới hạn này chỉ
có thể được hình thành và áp dụng trên cơ sở pháp luật mà thôi.
1.2. Quy định của pháp luật quốc tế
1.2.1. Quy định quốc tế
Điều 18 công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Công
ước ICCPR) đã cụ thể hóa Điều 18 Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền cũng
khẳng định:
Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn
giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc một tín
ngưỡng do mình lựa chọn và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một
mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín
đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền
giảng. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa
chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ [33].
Dưới đây là một số phân tích trong quy định quốc tế:
1.2.1.1. Không phân biệt đối xử dựa trên tôn giáo
Trong Khoản 1, Điều 2 của công ước ICCPR và Khoản 2, Điều 2 của Công
ước ICESCR đã khẳng định: Các quốc gia thành viên Công ước cam kết tôn trọng và
bảo đảm cho mọi người trong phạm vi lãnh thổ và thẩm quyền tài phán của mình các
quyền đã được công nhận trong Công ước này, không có bất kỳ sự phân biệt nào về
chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, quan điểm chính trị hoặc quan điểm
khác, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản, thành phần xuất thân hoặc địa vị khác.
Như vậy, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền được pháp luật
bảo vệ một cách bình đẳng mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc,
màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo.
chọn một tôn giáo hay tín ngưỡng để tin hoặc theo, kể cả việc thay đổi niềm tin từ tôn
giáo, tín ngưỡng này sang tôn giáo, tín ngưỡng khác, thay đổi niềm tin từ vô thần
sang hữu thần và từ hữu thần sang vô thần. Khoản 2 Điều 18 cấm cưỡng ép tin, theo,
18
bỏ hay thay đổi tôn giáo, tín ngưỡng, kể cả bằng những chính sách hay tập quán
nhằm gây sức ép để đạt mục đích đó như hạn chế sự tiếp cận với các dịch vụ giáo
dục, y tế, việc làm hoặc hạn chế các quyền quy định trong Điều 25 và các Điều khác
của ICCPR (đoạn 5).
1.2.1.3. Tự do thể hiện, thực hành tín ngưỡng, tôn giáo
Điều 18 ICCPR phân biệt giữa quyền tự do chính kiến, niềm tin, lương tâm,
tôn giáo hoặc tín ngưỡng với tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng. Điều này
không cho phép có bất kỳ sự giới hạn nào với quyền tự do chính kiến, niềm tin, lương
tâm, và quyền tự do tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng. Những tự do này
phải được bảo vệ không điều kiện, tương tự quyền tự do được giữ ý kiến nêu trong
khoản 1 Điều 19 (đoạn 3) [23].
Quyền tự do thực hành tôn giáo hay tín ngưỡng có thể được thực thi với tư
cách cá nhân hay cùng với cộng đồng, ở nơi công cộng hay chỗ riêng tư; thể hiện ở
các hành động như thờ cúng, tham gia những lễ hội tôn giáo, quan sát, thực hành và
giảng dạy về tôn giáo. Khái niệm thờ cúng bao gồm những hoạt động lễ nghi, kỷ
niệm, xây dựng những nơi thờ tự, sử dụng hay trưng bày các vật dụng và biểu tượng
nghi lễ, tham gia các lễ hội và các ngày nghỉ lễ tôn giáo. Việc quan sát và thực hành
tôn giáo không chỉ bao gồm các hoạt động nghỉ lễ, mà còn bao gồm việc tuân thủ các
nguyên tắc về ăn kiêng, trang phục, sử dụng ngôn ngữ đặc biệt, lựa chọn lãnh đạo tôn
giáo, tăng lữ, người thầy tâm linh, thành lập các trường tôn giáo, biên soạn và phân
phát các tài liệu tôn giáo (đoạn 4) [23].
1.2.1.4. Quyền tự do tín ngưỡng của trẻ em và trách nhiệm của cha mẹ trong
việc giáo dục tôn giáo, đạo đức cho con cái theo đạo đức riêng của họ