Quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp tác xã theo pháp luật hợp tác xã từ thực tiễn tỉnh sóc trăng - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH MINH TRẠCH

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HỢP TÁC XÃ TỪ THỰC TIỂN
TỈNH SÓC TRĂNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRỊNH MINH TRẠCH

QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ
THEO PHÁP LUẬT HỢP TÁC XÃ TỪ THỰC TIỂN
TỈNH SÓC TRĂNG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

2.1.1 Quyền và nghĩa vụ sử dụng dịch vụ ................................................... 30
2.1.2 Quyền được phân phối thu nhập ........................................................ 32


2.1.3 Quyền và nghĩa vụ góp vốn ............................................................... 33
2.1.4 Quyền ứng cử, đề cử, biểu quyết và tham dự đại hội xã viên............ 34
2.1.5 Quyền kiến nghị, tiếp cận thông tin và khiếu nại, tố cáo ................... 38
2.1.6 Quyền được trả lại vốn góp khi rút khỏi Hợp tác xã, liên minh Hợp
tác xã và được chia giá trị tài sản còn lại khi Hợp tác xã giải thể............... 39
2.1.7 Nghĩa vụ tài chính về các khoản nợ và bồi thường thiệt hại ............. 42
2.1.8 Quyền tự nguyện gia nhập và rút khỏi tư cách thành viên Hợp tác
xã ................................................................................................................. 42
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền và nghĩa vụ của xã viên trên
địa bàn tỉnh Sóc Trăng................................................................................. 43
2.2.1 Khái quát một số nét về vị trí địa lý, điều kiện kinh tế, xã hội và
tình hình hoạt động của Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng ................ 42
2.2.2 Thực trạng bảo đảm thực hiện quyền và nghĩa vụ của xã viên hợp
tác xã trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng ............................................................... 46
2.3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về quyền và nghĩa
vụ xã viên hợp tác xã................................................................................... 54
2.3.1 Phương hướng .................................................................................... 54
2.3.2 Giải pháp ............................................................................................ 55
2.4 Phương hướng và giải pháp tăng cường bảo đảm thực hiện quyền và
nghĩa vụ xã viên hợp tác xã ......................................................................... 56
2.4.1 Phương hướng .................................................................................... 56
2.4.2 Giải pháp ............................................................................................ 58
2.5 Một số kiến nghị.................................................................................... 58
2.5.1 Kiến nghị về quyền của xã viên ......................................................... 58
2.5.2 Kiến nghị về nghĩa vụ của xã viên ..................................................... 60
KẾT LUẬN ................................................................................................ 63

1


kinh tế, trong đó thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể, cụ thể là Hợp
tác xã (HTX) đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Bên cạnh hàng loạt công
ty nhà nước ra đời theo quyết định số 90/TTg và 91/TTg ngày 7/3/1994, thì
Đảng và Nhà nước cũng đưa ra nhiều văn bản chỉ đạo nhằm kiện toàn thành
phần kinh tế tập thể, cụ thể là HTX để cùng với thành phần kinh tế nhà nước
giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế.
Như chúng ta đã biết, HTX được thành lập tại nước ta từ năm 1956
trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Sau khi miền Nam
hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, mô hình kinh tế HTX tiếp tục
được nhân rộng tại miền Nam với sự chỉ đạo quyết liệt của cả hệ thống chính
trị từ trung ương đến địa phương, Nhà nước đã quyết liệt hỗ trợ sức người,
sức của nhằm duy trì và phát triển loại hình kinh tế này, nhưng loại hình kinh
tế HTX, đặc biệt là HTX nông nghiệp, không mang lại hiệu quả như kỳ vọng,
đẩy nền kinh tế nước ta nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng, rơi vào trì
trệ và khủng hoảng. Trước tình hình đó, ngày 13/01/1981 Ban bí thư ban hành
chỉ thị số 100 về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, thường gọi tắt
là khoán 100. Tuy nhiên, sau quá trình áp dụng, nhận thấy khoán 100 còn
những hạn chế nhất định, tháng 04/1988 Bộ chính trị ra Nghị quyết 10 để đổi
mới toàn bộ cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, đổi mới kinh tế xã hội ở
nông thôn. Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 đã tạo tiền đề cho mô hình kinh tế
HTX chuyển đổi từ hình thức cũ tập trung, bao cấp, mệnh lệnh với hình thức
sở hữu tập thể sang HTX hình thức mới dân chủ, tự nguyện vận hành theo cơ
chế thị trường với hình thức sở hữu tư nhân. Từ khi HTX chuyển sang hoạt
động theo hình thức mới, loại hình kinh tế này tiếp tục được sự quan tâm và
hỗ trợ của Nhà nước từ cơ chế chính sách đến các nguồn lực như tài chính,
đất đai, nhân lực,… Nhưng thực tế cho thấy, từ khi chuyển đổi cho đến nay,
loại hình kinh tế này tiếp tục gặp khó khăn, trì trệ, không thu hút được sự

3


* Một số vấn đề pháp lý về hợp tác xã và thực tiễn áp dụng trên địa
bàn thành phố Hà Nội, Luận văn cao học luật của Trần Lệ Thu, Đại học quốc
gia Hà Nội, 2010. Đề tài đã tìm hiểu một số quy định pháp luật về thành lập
và hoạt động của HTX một số nước trên thế giới, ở Việt Nam và của một số
loại hình doanh nghiệp có tính chất tương đồng. Tìm hiểu thực tiễn áp dụng
pháp luật về thành lập, hoạt động HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội để tìm
ra những phù hợp và sai lệch giữa lý luận và thực tiễn. Đánh giá những tồn
tại, bất cập và nguyên nhân, để từ đó đưa ra một số kiến nghị và giải pháp
nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật về thành lập, hoạt động HTX.
* Kinh tế hợp tác xã - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Liên minh
HTX Việt Nam, 1998. Đề tài nghiên cứu về sự khác biệt giữa lý luận và thực
tiển trong quá trình thành lập, hoạt động loại hình HTX ở nước ta, từ đó đề
xuất những giải pháp nhằm góp phần ổn định và phát triển loại hình kinh tế
này tại Việt nam trong thời gian tới.
* Khung khổ pháp lý và kinh nghiệm phát triển hợp tác xã của một số
nước, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương, 2006. Đề tài tập trung
nghiên cứu mối quan hệ giữa khung pháp lý và sự phát triển của HTX, nhằm
đưa ra những kiến nghị để hoàn thiện khung pháp lý về loại hình kinh tế này.
* Đổi mới cơ chế quản lý hợp tác xã trên địa bàn thành phố Hà Nội,
Luận văn cao học của Vũ Mạnh Nam, Đại học quốc gia Hà Nội, 2010. Đề tài
tìm hiểu và hoàn thiện cơ chế quản lý HTX trên địa bàn thành phố Hà Nội nói
riêng và cả nước nói chung, góp phần hoàn thiện khung pháp lý HTX.
* Một số giải pháp về khung pháp lý cho dịch vụ hỗ trợ phát triển hợp
tác xã ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), TS. Nguyễn Minh
Tú, 2010.

4

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích tổng quát
Mục đích của bài nghiên cứu này là nhằm tìm ra nguyên nhân tại sao
HTX ra đời và tồn tại ở nước ta trong một thời gian dài như vậy mà không thu
hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là kinh tế hộ? Tại
sao các xã viên không “mặn mà” với loại hình kinh tế này?
3.2 Các mục tiêu cụ thể
Để làm sáng tỏ mục tiêu tổng quát, bài nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ một
số mục tiêu cụ thể sau:
* Làm rỏ sự khác biệt giữa HTX và các loại hình doanh nghiệp theo
luật doanh nghiệp hiện hành;
* Làm rỏ sự khác biệt giữa quyền và nghĩa vụ xã viên HTX với quyền
và nghĩa vụ của thành viên của các loại hình doanh nghiệp khác theo luật
doanh nghiệp hiện hành;
* Khảo sát và thăm dò ý kiến xã viên, lãnh đạo HTX và các tầng lớp
dân cư trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng về quyền và nghĩa vụ của xã viên cũng
như những vướng mắc làm họ chưa hài lòng về loại hình kinh tế này.
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Để làm rỏ các mục tiêu đặt ra, bài nghiên cứu sẽ trả lời được các câu
hỏi sau:
* HTX và các loại hình doanh nghiệp theo luật doanh nghiệp khác nhau
như thế nào?
* Quyền và nghĩa vụ xã viên HTX khác quyền và nghĩa vụ thành viên
các loại hình doanh nghiệp khác như thế nào?
* Tại sao HTX không thu hút được sự quan tâm của các tầng lớp nhân
dân, đặc biệt là kinh tế hộ?

6



* Phương pháp quy nạp và diễn dịch nhằm tìm ra mối liên hệ mang tính
quy luật chung từ kết quả thu thập, phân tích, so sánh của 3 phương pháp trên.
* Quy trình nghiên cứu:
So sánh HTX
với các loại
hình doanh
nghiệp khác

So sánh quyền và nghĩa
vụ xã viên với quyền và
nghĩa vụ thành viên của
các loại hình doanh
nghiệp khác

Phỏng vấn xã viên
và các tầng lớp dân
cư khác về tính hấp
dẫn của HTX đối
với họ

Đề ra kiến nghị
và giải pháp

Kết luận

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo có ý
nghĩa cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Hợp tác xã trong tương lai.
Đồng thời đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo có ý nghĩa cho Hợp tác xã và
xã viên trong việc tổ chức, điều hành HTX trong thực tiển.

ít mà tiêu là chính nên khó tồn tại lâu dài và nhất là không thể đáp ứng nhu
cầu số lượng xã viên lớn.
Cách hiểu 3: HTX có hoạt động kinh doanh nhưng không được coi hoạt
động như doanh nghiệp; hạn chế các hoạt động cạnh tranh và quyền của
HTX trên thị trường. Do đó, tính xã hội, nhân văn của HTX vẫn phần nào
mang màu sắc của tính “từ thiện”, mang tính “chỉ định” như “hạn chế HTX
tham gia thị trường”, “bắt buộc phải sử dụng dịch vụ của HTX”,…. Điều đó
dẫn đến tình trạng HTX dễ ỷ thế độc quyền, không phát triển được, không
9


cạnh tranh được và tất yếu dẫn đến khó khăn, cần sự bao cấp nhiều của Nhà
nước.
Cách hiểu 4: HTX hoạt động như doanh nghiệp, có các quyền như
doanh nghiệp khác, cạnh tranh trên thị trường với các loại hình doanh nghiệp
khác và mang tính xã hội nhân văn cao do thu hút người nghèo, người yếu thế
và đem lại lợi ích cho họ. Với cách hiểu này, HTX có thể phát triển bền vững,
thật sự tự chủ, về lâu dài không nhất thiết cần sự hỗ trợ cụ thể về tài chính của
nhà nước, đem lợi ích lâu dài cho xã viên và cho xã hội. Đây chính là cách
hiểu phổ biến trên thế giới, nhất là ở tất cả các nước có mô hình HTX kiểu
mới thành công.[5, tr. 7]
Theo điều 3 luật HTX hiện hành 2012 của Việt Nam thì HTX được
định nghĩa như sau:
Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp
nhân, do ít nhất 07 xã viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau
trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu
chung của xã viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân
chủ trong quản lý hợp tác xã.
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác Lê-nin, kinh tế nông thôn có
những nét cơ bản sau đây:

sâu và rất chắc cho sự duy trì và phục hồi lại chủ nghĩa tư bản trong cuộc đấu
tranh ác liệt chống chủ nghĩa cộng sản. Đó là một nhiệm vụ khó khăn, nhưng
theo F.Engels, thì “Nếu chúng ta xác định được lập trường của chúng ta đối
với tiểu nông thì chúng ta sẽ có mọi tiêu điểm để xác định được thái độ của
mình đối với những thành phần khác trong dân cư nông thôn.” Thấm nhuần tư
tưởng của F.Engels, V.I.Lenin luôn nhắc nhở giai cấp vô sản là không được
quên kẻ thù chủ yếu trong bước quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã
hội là giai cấp tiểu tư sản và tính tự phát tiểu tư sản, cùng với những tập quán,
11


những thói quen, và địa vị kinh tế của giai cấp ấy. Ông nói, nếu giai cấp vô
sản xóa bỏ được chế độ tư hữu của người tiểu nông thì cũng có nghĩa là họ đã
“nhổ được những gốc rễ sâu xa hơn và dai dẳng hơn của những quan hệ cũ
tiền xã hội chủ nghĩa, thậm chí tiền tư bản.” Khi đó, và chỉ có khi đó giai cấp
tư sản mới hết cơ sở để tái sinh và tồn tại.
Về cải tạo sản xuất nhỏ, cả K.Marx, F.Engels và V.I.Lenin đều có chung
quan niệm là phải lôi cuốn nông dân đi theo chủ nghĩa xã hội. Các ông cho
rằng, nếu giải phóng nông dân mà chỉ dừng lại ở việc đưa ruộng đất và tự do
cho họ, thì đó mới chỉ là bước đầu; nhiệm vụ của giai cấp vô sản và chính
đảng của nó còn lớn hơn, và khó khăn hơn nhiều. Đó là phải xóa bỏ tư hữu,
dẫn dắt nông dân xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, để không vì sự yếu
đuối và thiếu năng lực cạnh tranh của họ mà bị phân hóa trong guồng máy tư
bản chủ nghĩa.
Thứ ba, con đường cơ bản để cải tạo nông dân là tập hợp họ vào các
HTX. Những người nông dân sau khi thoát khỏi chế độ bóc lột của chủ nghĩa
tư bản trở thành người nông dân tự do và được chia ruộng đất thuộc nhà nước.
Nhưng, sự thâm nhập của sản xuất hàng hóa vào nông nghiệp, sự cạnh tranh
giữa nông dân, những cuộc đấu tranh giành đất đai, giành độc lập kinh tế… đã
dẫn đến tình trạng phân hóa trong nông dân: giai cấp tư sản nông dân lấn át

không phải bằng các biện pháp tước đoạt như đối với địa chủ, cũng không
phải bằng những biện pháp lập pháp hay hành chính hấp tấp và thiếu thận
trọng, và nhất là, không được “biến công cuộc hợp tác hóa thành một trò chơi
ngu ngốc” để khiến cho nông dân phải phẫn nộ. Đó là vì, tất cả điều đó chỉ sẽ
gây thêm khó khăn cho bước quá độ, và do đó sẽ kéo dài thêm bước quá độ
đó mà thôi. Ngược lại, giai cấp vô sản phải giúp đỡ nông dân, phải lôi kéo họ
tham gia HTX bằng chính việc làm tốt đẹp của HTX. Nói cách khác, HTX
phải là tấm gương để nông dân nhìn vào đó mà đưa ra quyết định có tham gia
13


HTX hay không. Cho nên, như F.Engels đã khẳng định, là: “tấm gương của
những HTX nông nghiệp đó sẽ chứng minh cho ngay cả những người cuối
cùng trong đám nông dân có mảnh ruộng đất nhỏ, còn ngoan cố và có thể cho
cả một vài phú nông thấy rõ những điều lợi của nền kinh tế lớn, HTX quy mô
lớn.” [51, tr. 1-3]
1.1.1.2 Vai trò
Hiện nay kinh tế hợp tác không phải là khu vực chính để tạo ra nhiều
lợi nhuận và tăng trưởng kinh tế, nhưng là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng
trong việc giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao
động, tạo sự ổn định về chính trị - xã hội góp phần thúc đẩy tăng trưởng và
phát triển kinh tế - xã hội, cụ thể là:
* Hợp tác xã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giúp nhau tăng sức
cạnh tranh, khai thác các nguồn tiềm năng về vốn, lao động, kỹ thuật để phát
triển, góp phần thúc đẩy quá trình xã hội hoá sản xuất, thực hiện tốt vai trò là
cầu nối giữa các hộ sản xuất, xã viên với nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà
nước;
* Hợp tác xã góp phần đưa tiến bộ khoa học, công nghệ, thiết bị kỹ
thuật hiện đại tới các thành phần kinh tế hộ nhỏ lẻ, tích tụ ruộng đất, công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.

thân doanh nghiệp chứ không phải là lợi ích của các thành viên góp vốn. Lợi
ích của các thành viên góp vốn chỉ được thể hiện gián tiếp thông qua việc
phân chia lợi nhuận do kết quả sản xuất kinh doanh tốt của doanh nghiệp hoặc
do tăng giá trị của phần vốn góp trên thị trường chuyển nhượng.
Trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng ngày của doanh nghiệp,
các cá nhân tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp không được phép đặt
lợi ích của các thành viên góp vốn lên trên lợi ích của doanh nghiệp đó.
Doanh nghiệp được lập nên nhằm mục đích giao dịch với các đối tác không
15


phải là các thành viên đã góp vốn lập ra doanh nghiệp để có thể đạt được mục
đích tối đa hóa lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong trường hợp có giao dịch
giữa doanh nghiệp và các thành viên góp vốn vào doanh nghiệp thì vẫn phải
bảo đảm nguyên tắc của thị trường, có nghĩa là thành viên góp vốn vào doanh
nghiệp không được phép có sự ưu tiên hơn, lợi ích nhiều hơn so với các đối
tác bình thường khác của công ty. Thậm chí, mọi giao dịch giữa doanh nghiệp
với thành viên góp vốn của doanh nghiệp và những người có liên quan của
thành viên góp vốn đều được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn nhiều so với
các giao dịch tương tự của doanh nghiệp với đối tác thông thường theo
nguyên tắc kiểm soát giao dịch tư lợi được quy định trong Luật doanh nghiệp.
Trong khi đó, chúng ta có thể thấy một điều trái ngược hẳn trong quan
hệ giao dịch giữa HTX với các xã viên. Có thể nói rằng, hợp tác xã được các
xã viên tạo ra để thực hiện hoạt động kinh doanh như một cánh tay nối dài của
hoạt động sản xuất, kinh doanh hay tiêu dùng của các xã viên, là công cụ của
xã viên trong việc hạn chế chi phí bỏ ra hoặc gia tăng giá trị nhận được. Xuất
phát từ nguyên lý đó, các giao dịch giữa HTX và những người góp vốn thành
lập ra nó chiếm tỷ trọng chủ yếu trong các hoạt động của HTX, bởi vì đây
chính là lý do để HTX được thành lập.
Một điểm khác biệt căn bản nữa giữa HTX và doanh nghiệp, đó là HTX

đóng góp của các xã viên HTX. Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu
hạn chỉ quan tâm duy nhất đến “đối vốn” mà không hề quan tâm đến vấn đề
“đối nhân”.
* Về chế độ trách nhiệm hữu hạn: Đối với HTX, sau khi được thành
lập HTX cũng được coi là tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân, có tài sản
riêng có quyền tự chủ và chịu trách nhiệm hữu hạn bằng tài sản của mình,
trong phạm vi vốn góp của mình, cùng chịu trách nhiệm về các khoản nợ, rủi
ro, thiệt hại, các khoản lỗ của HTX.
17


1.2 Cơ sở và căn cứ pháp lý xác định quyền và nghĩa vụ của xã viên
Hợp tác xã
1.2.1 Khái niệm quyền và nghĩa vụ của xã viên
* Quyền của xã viên là những hành vi mà xã viên được làm hoặc không
phải làm theo quy định của pháp luật hợp tác xã.
* Nghĩa vụ của xã viên là những hành vi mà xã viên phải làm hoặc
không được làm theo quy định của pháp luật hợp tác xã.
1.2.2 Cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của xã viên Hợp tác xã
1.2.2.1 Cơ sở kinh tế - xã hội
* Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất chủ đạo: Đất nước ta đang
trong giai đoạn quá độ lên xã hội Xã hội chủ nghĩa với trình độ của Lực lượng
sản xuất còn thấp cho nên khi xây dựng Quan hệ sản xuất phải dựa trên
nguyên tắc “phù hợp giữa trình độ của Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản
xuất”.
* Nguyên lý kinh tế - chính trị: Nghị quyết số 13-NQ/TW của Đảng đã
xác định “Quá độ” là một quá trình hết sức lâu dài, trong giai đoạn này nền
kinh tế tồn tại nhiều thành phần, nhưng kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể giữ
vai trò chủ đạo, Phân phối thu nhập theo lao động và lấy lợi ích cá nhân làm
động lực phát triển kinh tế.

- Thuật ngữ “Hợp tác xã” chỉ một hiệp hội tự chủ của nhiều người tự
nguyện hợp lại để thỏa mãn nhu cầu và nguyện vọng chung của mình về kinh
tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp đồng sở hữu và được quản
lý một cách dân chủ.
* Tuyên bố về quy định về Hợp tác xã 1995:
Tuyên bố về quy định về Hợp tác xã 1995 được Đại hội đồng Liên Hiệp
Quốc thông qua năm 1995 với những nguyên tắc cơ bản như sau:

19


- Tham gia tự nguyện và mở rộng: các HTX là các tổ chức tham gia tự
nguyện và mở rộng để mọi người có thể sử dụng dịch vụ của mình và sẳn
sàng nhận trách nhiệm xã viên mà không bị phân biệt giới tính, xã hội, nguồn
gốc, chính kiến hay tôn giáo,
- Quản lý thành viên theo hình thức dân chủ: Các HTX là các tổ chức
dân chủ, mỗi xã viên đều có quyền bầu như nhau (mỗi người một lá phiếu).
- Tham gia vào các hoạt động kinh tế,
- Tự chủ và độc lập,
- Giáo dục đào tạo và thông tin,
- Hợp tác giữa các Hợp tác xã,
- Quan tâm tới cộng đồng.
b. Cơ sở pháp lý quốc gia
Việt Nam là một nước với thể chế chính trị xã hội chủ nghĩa, với vai trò
lãnh đạo tuyệt đối của Đảng cộng sản việt nam về mọi mặt đời sống xã hội,
cho nên những quan điểm, nghị quyết, chỉ thị,…của Đảng cộng sản việt nam
cũng là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nghiên cứu, phân tích để hoàn
thiện pháp luật nói chung, pháp luật HTX nói riêng.
* Nghị quyết số 13-NQ/TW:
Nghị quyết số 13-NQ/TW hội nghị lần thứ 5 khóa IX về tiếp tục đổi

thể, luật Hợp tác xã và các chính sách phát triển kinh tế tập thể đến các cấp,
các ngành, các tổ chức kinh tế và đông đảo nhân dân. [4]
* Kết luận số 56-KL/TW:
Kết luận số 56-KL/TW của Bộ chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị
quyết trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu
quả kinh tế tập thể. Từ những vấn đề thực tiển tồn tại, Bộ chính trị đề ra một
số giải pháp như sau:

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status