VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐÀM QUANG KIÊN
QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN THEO LUẬT BẢO VỆ
VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG NĂM 2004
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số
: 60.38.01.07
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội –
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: TS.Trần Quang Huy
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại Học viện khoa học xã hội.
......giờ.......ngày........tháng......năm 2017
hàng năm, độ che phủ rừng tăng dần qua các năm từ 35,5% năm
2000 lên 55,18% năm 2011, 70,6% năm 2013 và 71% năm 2015.
1
Tuy vậy, từ thực tế cho thấy chất lượng rừng vẫn ngày càng suy
giảm do khai thác rừng quá mức cho phép, khai thác bất hợp pháp,
chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và đất rừng, làm nương rẫy… Bên
cạnh đó sự tăng trưởng của ngành Lâm nghiệp thấp và chưa bền
vững, lợi nhuận thấp, sức cạnh tranh yếu, tiềm năng tài nguyên rừng
chưa được khai thác tổng hợp và hợp lý, nhất là lâm sản ngoài gỗ và
các dịch vụ môi trường. Rừng trồng cũng như rừng tự nhiên năng
suất thấp và chất lượng thấp đặc biệt là gỗ lớn cho công nghiệp chế
biến và xuất khẩu. Nguyên nhân chủ yếu là hệ thống quy phạm pháp luật
điều chỉnh trong lĩnh vực khai thác tài nguyên rừng vẫn còn thiếu đồng
bộ, pháp luật chưa đảm bảo được quyền hưởng lợi từ rừng của những
người làm nghề rừng, chưa giúp họ sống được bằng nghề rừng, làm giàu
được từ rừng. hệ quả tất yếu là làm những chủ thể được giao quản lý và
bảo vệ rừng phải tìm cách nhanh chóng khai thác rừng vì lợi ích trước
mắt mà gây những ảnh hưởng nặng nề đến môi trường rừng. Đây là vấn
đề cấp bách cần phải nghiên cứu xây dựng hệ thống pháp luật BV&PTR
phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và nền kinh tế thị trường. Vì vậy, đề
tài nghiên cứu “ Quyền khai thác lâm sản theo luật bảo vệ và phát triển
rừng năm 2004 từ thực tiễn tỉnh Bắc Kạn” có ý nghĩa thiết thực về cả
mặt lý luận và thực tiễn.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Thời gian qua cũng có những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực bảo vệ
và phát triển rừng ở nhiều ngành khoa học khác nhau như: lâm
nghiệp, kinh tế, môi trường… Tuy nhiên, nghiên cứu về khía cạnh
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền khai thác lâm sản
của chủ rừng theo Luật BV&PTR.
- Phân tích thực trạng pháp luật về quyền khai thác lâm sản
của chủ rừng dựa trên thực tiễn địa phương là tỉnh Bắc Kạn.
- Đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật, bảo
đảm quyền khai thác của chủ rừng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là:
3
- Các quy định của pháp luật về quyền khai thác lâm sản của
chủ rừng theo Luật BV&PTR năm 2004.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về quyền khai thác lâm sản
của chủ rừng
Phạm vi: Nghiên cứu các quy định của pháp luật theo Luật bảo vệ và
phát triển rừng năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật
này. Phạm vi nghiên cứu về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng từ
thực tiễn tỉnh Bắc Kạn, lấy số liệu thực tế từ năm 2004 – 2015.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận:
Để thực hiện mục đích và các nhiệm vụ đặt ra, luận án được thực
hiện dựa trên phương pháp luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật, đồng thời luận văn vận dụng các tư tưởng
chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta về đổi mới tư duy chính trị pháp lý
về cải cách hành chính, cải cách tư pháp.
Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng chủ yếu khi phân
tích cơ sở lý luận và các quy định nội dung của pháp luật về quyền
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHAI THÁC LÂM
SẢN CỦA CHỦ RỪNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA CHỦ RỪNG
1.1 Cơ sở lý luận về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
1.1.1 Khái niệm về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
Qua những phân tích về các khái niệm liên quan ta có thể xem
xét khái niệm quyền khai thác lâm sản của chủ rừng như sau: Quyền
khai thác lâm sản của chủ rừng là khả năng của mỗi chủ rừng tiến
hành các hoạt động thu lợi từ nguồn tài nguyên thực vật rừng, động
vật rừng và các sinh vật rừng khác gắn liền với rừng của chủ rừng
được giao, được thuê theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát
triển rừng, quyền khai thác lâm sản của chủ rừng được Nhà nước ghi
nhận trong pháp luật và được bảo đảm bằng quyền lực Nhà nước.
1.1.2 Khái niệm pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ
rừng
Pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là một bộ
phận của pháp luật bảo vệ và phát triển rừng, được hình thành để góp
phần bảo vệ và phát triển rừng nói chung và tạo hành lang pháp lý để
chủ rừng thực hiện quyền quản lý, sử dụng rừng.Có thể hiểu pháp
luật về quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là tổng hợp các quy
phạm pháp luật của Nhà nước quy định về quyền của chủ rừng trong
việc tổ chức tiến hành khai thác lâm sản trong rừng của chủ rừng
được giao, được thuê theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển
rừng và các quy định pháp luật khác có liên quan.
1.2 Điều chỉnh pháp luật về quyền khai thác lâm sản của chủ
rừng
Hệ thống các quy định pháp luật liên quan đến vấn đề khai thác
Chương 2
THỰC TRẠNG QUYỀN KHAI THÁC LÂM SẢN CỦA
CHỦ RỪNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH BẮC KẠN
2.1. Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng theo Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng năm 2004
2.1.1. Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là hộ gia đình, cá
nhân
2.1.1.1. Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân
được nhà nước giao rừng phòng hộ
2.1.1.2. Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân
được nhà nước giao rừng sản xuất.
2.1.1.3. Quyền khai thác lâm sản hộ gia đình, cá nhân
được nhà nước cho thuê rừng sản xuất
2.1.1.4. Quyền khai thác lâm sản của hộ gia đình, cá nhân
được nhà nước cho thuê đất để trồng rừng phòng hộ
2.1.2. Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là các tổ chức sự
nghiệp của Nhà nước
2.1.3. Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là các tổ chức kinh
tế trong nước
2.1.4. Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là Người Việt Nam
định cư ở nước ngoài
2.1.5. Quyền khai thác lâm sản của chủ rừng là tổ chức, cá nhân
nước ngoài
2.2. Thực trạng quyền khai thác lâm sản của chủ rừng từ thực
tiễn tỉnh Bắc Kạn
2.2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc
Kạn
8
vệ rừng và cả trong công tác tư vấn, hỗ trợ lâm nghiệp cho người
9
dân còn nhiều hạn chế.
2.2.2 Các chính sách quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
được triển khai thực hiện ở tỉnh Bắc Kạn.
2.2.2.1. Các chính sách của tỉnh Bắc Kạn để quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng
Có rất nhiều các chính sách đã được chính quyền tỉnh Bắc Kạn
đưa vào áp dụng trong công tác quản lý bảo vệ rừng trong những năm
vừa qua
2.2.2.2. Thực trạng thực hiện chính sách và kết quả tác
động của các chính sách đến quản lý và khai thác rừng
Công tác quản lý khai thác rừng:
Công tác bảo vệ rừng:
Công tác khai thác và sử dụng rừng:
2.2.2.3.
Kết quả tác động của các chính sách quản lý bảo
vệ rừng đến phát triển rừng tỉnh Bắc Kạn.
a.Tác động đến độ che phủ rừng
Độ che phủ rừng lớn và tăng qua các năm là tín hiệu tốt trong
công tác phát triển rừng của tỉnh Bắc Kạn. Tuy nhiên, tỉnh vẫn cần
tăng cường các biện pháp quản lý và bảo vệ rừng để tiếp tục duy trì
và phát huy hơn nữa về độ che phủ rừng và chất lượng rừng trong
những năm tới.
b. Tác động đến tình hình sử dụng đất đai
Diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn là 432.465,25
ha, chiếm 89% diện tích tự nhiên; trong đó diện tích đất rừng
Tuy tình trạng khai thác, vận chuyển, chế biến lâm sản trái
pháp luật có giảm đáng kể về số vụ vi phạm so với những năm trước,
song về quy mô, tính chất vụ việc lại có chiều hướng phức tạp, đặc
biệt số vụ hình sự vẫn còn ở mức cao và chưa có biện pháp ngăn
chặn, xử lý triệt để.
f. Ảnh hưởng của chính sách quản lý và bảo vệ rừng đến tình hình
kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn
Chính sách hỗ trợ trồng rừng và khuyến lâm của Nhà nước
11
được áp dụng và triển khai ở các địa phương trong đó có Bắc Kạn.
Tỉnh Bắc Kạn đã thực hiện tốt chính sách này và nhờ có những hỗ
trợ của Nhà nước mà đời sống người dân trồng rừng ở tỉnh Bắc Kạn
được cải thiện và nâng lên rõ rệt
2.2.3. Đánh giá chung về thực trạng quyền khai thác lâm sản ở
tỉnh Bắc Kạn
2.2.3.1. Những kết quả đạt được
Công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên địa bàn tỉnh có
nhiều chuyển biến tích cực, đặc biệt là đối với những diện tích rừng
đã được giao cho các tổ chức, cá nhân hộ gia đình quản lý, sử dụng.
Hiện tượng khai thác lâm sản trái phép và phát nương làm rẫy đã
giảm và ít xảy ra trên diện tích được giao.
Chính sách giao đất, giao rừng đã tạo nhiều việc làm tại chỗ ở
địa phương
Các hoạt động về khai thác, sử dụng rừng đã được lực lượng
Kiểm lâm thường xuyên kiểm tra, giám sát và hướng dẫn thực hiện
theo quy định đã giúp cho công tác quản lý bảo vệ rừng và quản lý
lâm sản trên địa bàn tỉnh đang dần từng bước đi vào ổn định
chủ rừng:
a. Đối với quyền của Ban quản lý rừng đặc dụng: Chức năng của
ban quản lý khu rừng đặc dụng là bảo vệ, bảo tồn đa dạng sinh học và
phát triển rừng, tuy nhiên do ngân sách hạn hẹp, nên họ chỉ tập trung
vào công tác bảo vệ rừng với lực lượng chính là Hạt Kiểm lâm của
khu rừng đặc dụng. Nhà nước đã có nhiều chính sách hỗ trợ cho hệ
thống rừng đặc dụng, nhưng chưa làm rõ hoặc thiếu quy định các
quyền cơ bản đối với ban quản lý rừng đặc dụng.
b. Đối với quyền của Ban quản lý rừng phòng hộ
- Không có sự thống nhất về bộ máy, biên chế, chức năng
nhiệm vụ của các ban quản lý rừng phòng hộ do việc quy định tại
một số văn bản chưa chặt chẽ.
- Cho phép khai thác gỗ trong rừng phòng hộ là rừng tự nhiên
và tận thu cây phù trợ trong rừng trồng phòng hộ. Đây là một quyền
13
cơ bản đối với ban quản lý rừng phòng hộ. Tuy nhiên, do chính sách
hạn chế khai thác rừng tự nhiên, và đa số diện tích rừng của các ban
quản lý là rừng tự nhiên nghèo và mới phục hồi, nên các ban quản lý
rừng phòng hộ chưa có nguồn thu từ gỗ rừng tự nhiên.
- Trách nhiệm của ban quản lý rừng phòng hộ rất cao nhưng
lại không có quyền gì tương xứng nhất là quyền được cấp kinh phí sự
nghiệp và đầu tư cho bảo tồn và phát triển rừng.
- Chế độ chính sách đối với rừng phòng hộ và cán bộ nhân
viên ban quản lý khu rừng phòng hộ còn rất hạn chế so với chế độ
chính sách cho rừng đặc dụng và cán bộ khu rừng đặc dụng, cũng
như cho giáo viên, bộ đội đóng trên địa bàn.
c.Đối với quyền của chủ thể là các công ty lâm nghiệp
d. Đối với quyền của Hộ gia đình và cá nhân
- Quy định quyền sử dụng rừng tự nhiên của hộ gia đình, cá
nhân hẹp hơn so với quyền sử dụng đất, như: hộ gia đình là chủ rừng
được chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhưng lại không được
chuyển nhượng rừng tự nhiên là rừng sản xuất trên mảnh đất đó,
trong khi đó rừng luôn gắn liền với đất, đất rừng cũng là một yếu tố
cấu thành của rừng.
- Thiếu một số quyền cơ bản, như: được quyền khai thác và sử
dụng lâm sản trên diện tích rừng sản xuất và phòng hộ được giao theo
kế hoạch quản lý rừng bền vững được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
được chuyển nhượng rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên cơ sở bồi
hoàn giá trị của rừng đã giao ban đầu cho Nhà nước; được góp vốn
bằng giá trị rừng sản xuất là rừng tự nhiên trên cơ sở phải bảo toàn
giá trị vốn rừng nhà nước đã giao ban đầu;
- Các văn bản pháp luật hiện hành chưa chấp nhận rừng là tài
sản, nên các chính sách giao, cho thuê, thường là những chính sách
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên hơn là bảo hộ tài sản.
- Việc xử lý các vi phạm pháp luật BV & PTR gặp nhiều khó
khăn, Sự hỗ trợ của các cơ quan bảo vệ pháp luật còn rất hạn chế.
15
Nhiều trường hợp thực tế khi chủ rừng phát hiện đối tượng vi phạm
pháp luật lâm nghiệp cũng lúng túng không biết phải làm thế nào vì
không được quyền bắt người, cũng không có quy định pháp luật nào
quy định vấn đề này.
e. Cộng đồng dân cư thôn, đối tượng sử dụng rừng hiện nay còn
đang chưa được pháp luật công nhận
- Chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn cụ thể về
bản quy phạm pháp luật khác nên việc áp dụng khó khăn.
- Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về BV & PTR còn thiếu và
chưa đủ mạnh để ngăn chặn các hành vi vi phạm.
- Một số nơi diện tích giao rừng còn manh mún, nhiều trường
hợp một chủ rừng nhận rừng ở 3 - 4 nơi, không liền khu, liền
khoảnh, không thuận lợi cho công tác bảo vệ, phát triển rừng.
- Công tác phổ biến, tuyên truyền giáo dục pháp luật và cơ chế,
chính sách về lâm nghiệp đặc biệt là công tác giao đất, giao rừng
tuy đã được thực hiện nhưng chưa đồng bộ.
- Cơ sở hạ tầng nông thôn đã được cải thiện, nhưng chưa đáp
ứng yêu cầu phục vụ dân sinh kinh tế, hệ thống đường giao thông
liên thôn, liên xã còn thấp kém
- Hệ thống dịch vụ cung ứng giống cây trồng, vật tư, phân
bón, thuốc bảo vệ thực vật cho hoạt động sản xuất Lâm nghiệp còn
thiếu, chưa đồng bộ.
- Đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu, đặc biệt đội ngũ cán bộ
khuyến nông viên cơ sở hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm
vụ đề ra. Việc bố trí, sử dụng cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ chưa
thật hợp lý, vừa thiếu, vừa yếu.
17
Chương 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN
KHAI THÁC LÂM SẢN
3.1. Định hướng hoàn thiện và bảo đảm thực hiện pháp luật về
quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
3.1.1. Bảo đảm phát triển lâm nghiệp bền vững kết hợp với bảo
đảm quyền khai thác lâm sản của chủ rừng
sản của chủ rừng
Đầu tiên là sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng trong đó có
các nội dung về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng
Song song với việc sửa đổi Luật bảo vệ và phát triển rừng để
nâng cao quyền và nghĩa vụ của chủ rừng trong công tác bảo vệ và
phát triển rừng cũng cần sửa đổi nội dung các văn bản
Rà soát đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít sung yếu chuyển sang
quy hoạch phát triển rừng sản xuất
Thực hiện Kế hoạch nâng cao chất lượng giống cây trồng lâm
nghiệp nhằm tăng năng suất, quyền được tiếp nhận chuyển giao công
nghệ nuôi cấy mô tế bào sản xuất giống lai cũ và một số giống mới
khác
Cụ thể hóa, đề xuất một số chính sách hỗ trợ cho lâm nghiệp.
Đẩy mạnh xã hội hóa nghề rừng
3.2.2. Các giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về quyền khai
thác lâm sản của chủ rừng
- Thực hiện việc rà soát, quy định cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
- Giải pháp đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện
thông tin đại chúng, nâng cao nhận thức về bảo vệ, phát triển rừng trong
nhân dân cùng với việc tiếp tục thực hiện củng cố hệ thống tổ chức quản
lý gắn với tăng cường bảo vệ tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp.
19
Các đề xuất sửa đổi bổ sung pháp luật về quyền khai thác
lâm sản của chủ rừng
a.Đối với quyền của bản quản lý rừng đặc dụng
- Được ngân sách Nhà nước đầu tư cho các công trình trong khu
- Sửa đổi quyền của các hộ gia đình và cá nhân đối với rừng sản xuất
là rừng tự nhiên
- Bổ xung các quyền khai thác và sử dụng gỗ và lâm sản ngoài gỗ
trên diện tích rừng sản xuất và phòng hộ được giao, được thuê theo
kế hoạch quản lý rừng bền vững được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
- Sửa đổi các quy định đối với rừng sản xuất là rừng tự nhiên chỉ
được thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng rừng
tăng thêm do chủ rừng tự đầu tư vì thực tiễn áp dụng là không khả
thi.
e. Đối với quyền của cộng đồng dân cư thôn
- Đây cũng là một chủ thể sử dụng rừng trên thực tế còn thiếu các
quy định về loại chủ thể này trong các văn bản pháp luật về bảo vệ và
phát triển rừng. Sửa đổi Luật BV & PTR công nhận cộng đồng dân
cư thôn là chủ rừng;
- Quy định việc xây dựng quy chế quản lý rừng cộng đồng và có
chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng.
21
KẾT LUẬN
Tài nguyên rừng đóng vai trò quan trọng với đời sống của con
người cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của nên kinh tế
đất nước ở cả hiện tại và tương lai. Nhà nước ta đã ban hành nhiều
đạo luật để thực hiện quản lý và khai thác tài nguyên rừng một cách
bền vững. Thực tế trong những năm qua cho thấy, để xây dựng và
hoàn thiện các chính sách về quyền và nghĩa vụ của chủ rừng là yêu
cầu tất yếu, khách quan. Pháp luật trong quản lý nhà nước đối với
lĩnh vực bảo vệ tài nguyên thiên nhiên là hết sức cần thiết, cần được
quy định rõ ràng, công khai minh bạch đảm bảo tính thực thi pháp
thác lâm sản của chủ rừng. Tuy nhiên, do trình độ và thời gian có
hạn, luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tác giả
rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, nhà
nghiên cứu, quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn./
23