Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học
Đề 1: Trong một bức thư bàn luận về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết:
“Văn chương […] có loại đáng thờ, có loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ
là loại chỉ chuyên chú ở văn chương. Loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con
người”. Hãy phát biểu ý kiến về quan niệm trên.
Bài làm cần có các nội dung sau:
– Phân tích lí giải hai loại văn chương: “Chỉ chuyên chú ở văn chương” và loại
“Chuyên chú ở con người”.
+ Thế nào là văn chương “Chỉ chuyên chú ở văn chương”?
Đó là loại văn chương chỉ biết có nó, tức là coi hình thức nghệ thuật là trên hết,
nhà văn khi sáng tác chỉ chăm lo cái đẹp của hình thức, không mấy chú ý đến nội dung
tư tưởng và không quan tâm đến đời sống,vân mệnh con người, không có trách nhiệm
đối với xã hội.
+ Thế nào là văn chương “chuyên chú ở con người”?
Đó là loại văn chương quan tâm trước hết đến cuộc sống con người vì con người,
coi giá trị chủ yếu của văn chương ở chỗ nó có ích cho cuộc đời.
– Nêu ý kiến về quan niệm của Nguyễn Văn siêu:
+ Vì sao loại đáng thờ là loại “Chuyên chú ở con người” chứ không phải loại
“Chuyên chú ở văn chương”?
NVS muốn nói đến chân giá trị của văn chương . Nếu văn chương không quan tâm
đến con người thì văn chương sẽ tự đánh mất mình. Áng văn hay phải là áng văn tâm
huyết của người cầm bút. Cái tâm thường nuôi dưỡng, phát huy cái tài.
– Liên hệ đến các nhà văn có cùng quan điểm như NVS.
Bài văn mẫu
Mục đích và ý nghĩa của sáng tác văn chương là gì? Giá trị thật sự của văn chương
là ở đâu? Những câu hỏi ấy thường đặt ra đối với người cầm bút xưa và nay.
Vào giữa những năm ba mươi của thế kỉ XX, văn học nước ta đã nổ ra một cuộc
tranh luận sôi nổi về chính vấn đề đó: “nghệ thuật vị nghệ thuật” hay “nghệ thuật vị
nhân sinh”? Thực ra, không phải tới bây giờ, vấn đề cơ bản, quan trọng hàng đầu của lí
luận văn học đó mới được đặt ra và mới có những câu trả lời khác nhau của hai phái có
hai quan điểm văn chương khác nhau. Từ xưa, cha ông ta đã từng suy nghĩ và phát
(Li tao – Thế Lữ)
Đoạn thơ đã đặt ra một định nghĩa về người nghệ sĩ: đó là người khách tình si ham
cái đẹp, chỉ có một thiên chức: đi tìm cái đẹp và phụng sự nghệ thuật, chứ không bận
tâm đến một trách nhiệm xã hội nào. Có điều là trên thực tế, các cây bút lãng mạn đó
không phải chỉ biết săn tìm cái đẹp và dửng dưng trước niềm vui, nỗi buồn của con
người đương thời và vì thế, văn học lãng mạn 1930 – 1945 vẫn có những yếu tố tích
cực, nhưng đó lại là chuyện khác.
Thái độ “chuyên chú ở văn chương” không dừng ở dó. Sau đó, nó còn được đẩy
tới cực đoan, trở thành chủ nghĩa duy mĩ, chủ nghĩa hình thức. Đó là loại văn chương
coi hình thức là tất cả, phủ nhận hoàn toàn nội dung của văn chương. Chẳng hạn, nó
cho rằng thơ chẳng những không được nói đạo đức, chính trị, xã hội, mà cũng không
được tả cảnh; tả hình và không cần nói về bất cứ cái gì, và bảo rằng như thể thơ mới
“thuần túy”, mới thật là thơ! Nó khẳng định rằng thơ không cần có nghĩa, thơ chỉ là âm
thanh, là hình ảnh… mà thôi. Thứ thơ ấy trở thành bí hiểm, “hũ nút”, không ai hiểu
nổi.
Thế nào là loại văn chương “chuyên chú ở con người”? Đó là loại văn chương
quan tâm trước hết tới con người, luôn hướng tới cuộc sống và vì con người, coi giá trị
chủ yếu của văn chương không phải ở câu hay từ đắt mà ở chỗ có ích cho cuộc đời. Đó
chính là quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”. Khi Goóc-ki nói: “Văn học là nhân học”
thì cũng với tinh thần cơ bản là như vậy. Nhà thơ Tố Hữu cũng phát biểu xác đáng về
quan điểm này: “Văn học không chỉ là văn chương mà thực chất là cuộc đời. Văn học
sẽ không là gì cả nếu không vì cuộc đời mà có. Cuộc đời là nơi xuất phát, cũng là nơi
đi tới của văn học”.
Quan niệm văn chương “chuyên chú ở con người” cũng có những biểu hiện rất đa
dạng. Khi Nguyễn Đình Chiểu viết: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm/Đâm
mấy thằng gian bút chẳng tà”, thì với nhà thơ mù, đạo là nhân nghĩa, là yêu nước
thương dân, văn chương phải chở đạo và đâm gian tức phải là vũ khí phò chính trừ tà,
cứu đời cứu nước.
đã xây dựng được một nền văn học đầy sức sống và thấm đượm tinh thần nhân văn,
nhân đạo với những biểu hiện đa dạng, phong phú, được nền văn học mới kế thừa và
phát huy trong thời đại mới hôm nay.