BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ DS06 TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT - Pdf 42

HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
----------

MÔN: KỸ NĂNG TƯ VẤN DÂN SỰ

HỒ SƠ DÂN SỰ SỐ 06

Họ và tên :
Sinh ngày
Số báo danh
Lớp
Khóa

:
:
:
:


BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN HỒ SƠ DS06
TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn: Trần Văn Hậu
Địa chỉ cư trú: số 200 tổ 11A, phố Long Châu Sa, Thọ Sợ, Việt Trì
Bị đơn: Trần Văn Hùng và Trần Thị Nhân
Cùng trú tại: Khu 1, xã Vân Phú, huyện Việt Trì, tỉnh Phú Thọ
Quan hệ pháp luật tranh chấp: “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất”
Nội dung:
Ngày 30 tháng 5 năm 2004 giữa ông Trần Văn Hậu và vợ chồng ông Trần Văn


1. Hỏi nguyên đơn:
Giữa ông và vợ chồng ông Hùng bà Thanh có mối quan hệ làm ăn với nhau
không? Hai bên có ai nợ tiền ai không?
Sau khi cho vợ chồng ông Hùng bà Nhân mượn nhà ông có thường xuyên tới thăm
nhà không?
-

Căn nhà hiện nay so với hiện trạng trước đây ông xây dựng có thay đổi gì không?

- Tại sao tại thời điểm chuyển nhượng các bên lại không tiến hành thủ tục sang tên
theo quy định của pháp luật mà lại làm giấy tay?
-

Khi ông tiến hành xây dựng nhà có cơ quan nào xử phạt ông không?

2. Hỏi bị đơn
2.1.

Hỏi ông Hùng

Tại thời điểm ký giấy thỏa thuận chuyển nhượng ngày 30 tháng 5 năm 2004 ông
có nhận được số tiền là 1 tỷ đồng không? Số tiền này do ai đưa? Ông đã dùng số tiền
này vào mục đích gì?
Giữa ông Hậu và ông có mối quan hệ làm ăn với nhau thế nào? Ông nói ông có nợ
ông Hậu số tiền 1 tỷ do quan hệ làm ăn vậy ông có chứng cứ gì chứng minh việc ông
nợ ông Hậu số tiền này không?
- Tại thời điểm năm 2005 khi ông Hậu xây nhà thì ông và vợ ông có ý kiến phản đối
gì không? Việc vợ chồng ông tích cực giúp đỡ cho ông Hậu xậy dựng nhà trên đó theo
lời khai của ông Hậu và các nhân chứng ông có phản đối ý kiến đó không? Ông cho

nguyên đơn là có căn cứ và đúng với quy định pháp luật bởi các lẽ sau:
Thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 30 tháng 5 năm 2004 giữa
ông Hùng, bà Nhà với ông Hậu là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp
đồng này được pháp luật công nhận vì:
Tại thời điểm chuyển nhượng ông Hùng, bà Nhân đề có đủ năng lực hành vi
dân sự để thực hiện việc chuyển nhượng.
Việc chuyển nhượng hoàn toàn do các bên tự nguyện xác lập, không có sự ép
buộc, đe dọa điều đó đã thể hiện rõ tại phiên Tòa ngày hôm nay.
Mục đích chuyển nhượng của các bên không vi phạm với cái điều cấm của
pháp luật, không trái với đạo đức xã hội.
Quyền sử dụng đất của ông Hùng bà Nhân mặc dù chưa được cấp giấy chứng
nhận QSDĐ nhưng đã có tên trong sổ địa chính tại xã, đây được xem là giấy tờ hợp lệ
theo quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 50 Luật đất đai. : “. Cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã,
phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau
đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng
đất:

b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm
quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;”


Về hình thức hợp đồng, mặc dù hợp đồng không được công chứng, chứng thực
theo quy định của pháp luật tại thời điểm chuyển nhượng tuy nhiên theo hướng dẫn tại
điểm b1 tiểu mục 2.3 mục II Nghị Quyết 02/2004/NQQ-HĐTP ngày 10 tháng 08 năm
2004 hướng dẫn việc áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và
gia đình của Hội đồng thẩm phán. Điều luật quy định rõ: “b.1. Đối với hợp đồng được
giao kết trước ngày 01-7-2004 vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 tiểu
mục 2.3 mục 2 này, nhưng đã có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status