BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
TẠ THỊ TUYẾT MAI
GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG
THỨC THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI
NGÂN HÀNG TMCP ĐẠI Á
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN VĂN LƯƠNG
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2013
LỜI CAM DOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Tạ Thị Tuyết Mai
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
1.3.1 Kinh nghiệm của Deutsche Bank ........................................................................18
1.3.2 Kinh nghiệm của Vietin Bank..............................................................................19
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho DaiA Bank..................................................................20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1.............................................................................................22
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC THANH
TOÁN TDCT TẠI DAIA BANK...............................................................................23
2.1 Tổng quan về DaiA Bank.......................................................................................23
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển ......................................................................23
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh ............................................................................23
2.2 Thực trạng rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại DaiA Bank..................24
2.2.1 Thực trạng hoạt động TTQT nói chung và TDCT nói riêng tại DaiA Bank........24
2.2.2 Thực trạng rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại DaiA Bank...............32
2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT
tại DaiA Bank...............................................................................................................45
2.2.3.1 Kết quả đạt được ..............................................................................................45
2.2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân...................................................................................46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.............................................................................................51
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HẠN CHẾ RỦI RO TRONG PHƯƠNG THỨC
THANH TOÁN TDCT TẠI DAIA BANK................................................................52
3.1 Định hướng phát triển hoạt động TTQT nói chung và phương thức thanh toán
TCDT nói riêng tại DaiA Bank.....................................................................................52
3.1.1 Định hướng phát triển ngành ngân hàng và chiến lược XNK hàng hóa của Việt
Nam.............................................................................................................................. 52
3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động TTQT của DaiA Bank.....................................54
3.2 Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại DaiA Bank.......57
3.2.1 Giải pháp về con người........................................................................................57
3.2.2 Giải pháp về cơ chế quản lý, quy trình nghiệp vụ................................................59
3.2.3 Giải pháp về sản phẩm.........................................................................................61
: Letter of credit - Thư tín dụng
NK
: Nhập khẩu
SWIFT
: Society for worldwide interbank financial telecommunication – Hiệp
hội viễn thông liên ngân hàng và tài chính quốc tế
TDCT
: Tín dụng chứng từ
TMCP
: Thương mại cổ phần
TTQT
: Thanh toán quốc tế
XK
: Xuất khẩu
XNK
Hình 2.4 : Tỷ trọng L/C của DaiA Bank 2009 – 2012
Hình 2.5 : Cơ cấu thanh toán XNK theo L/C của DaiA Bank 2009 – 2012
Hình 2.6 : Cơ cấu thị trường XK theo L/C của DaiA Bank 2009 – 2012
Hình 2.7 : Cơ cấu thị trường NK theo L/C của DaiA Bank 2009 – 2012
Hình 2.8 : Xếp hạng tín nhiệm các nước Châu Á Thái Bình Dương của Moody’s
và S&P 1998-2012
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tháng 01/2007 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương
mại thế giới (WTO) và sự kiện này đã đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong
lĩnh vực ngoại thương của nước ta. Theo số liệu thống kê từ Tổng cục hải quan, sau 6
năm là thành viên WTO, thương mại hàng hóa của Việt Nam trong năm 2012 đã đạt
228 tỷ USD, cao gấp hơn 2 lần so với kết quả thực hiện của năm 2007. Theo xếp hạng
của WTO, nếu như thứ hạng của Việt Nam xét theo kim ngạch xuất khẩu (XK), nhập
khẩu (NK) hàng hóa năm 2007 lần lượt ở vị trí 50 và 41 thì đến năm 2012 thứ hạng
XK hàng hóa của nước ta đã tăng 11 bậc lên vị trí thứ 37, trong khi NK cũng tăng được
9 bậc và xếp ở vị trí thứ 34 trên toàn thế giới. Điều đó cho thấy sự hội nhập ngày càng
sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu đã mở ra tiềm năng phát triển rất lớn cho ngoại
thương Việt Nam.
Đi cùng với sự phát triển của lĩnh vưc ngoại thương không thể thiếu sự phát triển
đồng bộ của các phương thức thanh toán quốc tế (TTQT) vì đây là công cụ, là cầu nối
quan trọng giữa các chủ thể tham gia trong giao dịch thương mại quốc tế. Trong các
phương thức TTQT hiện nay, tín dụng chứng từ (TDCT) là phương thức được sử dụng
phổ biến vì tính an toàn, giảm thiểu rủi ro cho các bên tham gia. Tuy nhiên, thực tiễn
áp dụng cho thấy phương thức này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro, và khi rủi ro xảy ra thì
việc giải quyết không hề đơn giản do các chủ thể tham gia có sự cách biệt về biên giới
cũng như chế độ chính trị, kinh tế, xã hội. Và đương nhiên khi khối lượng giao dịch
hàng hóa xuất nhập khẩu (XNK) của Việt Nam ngày càng gia tăng thì đi cùng với nó
Đối tượng nghiên cứu: những vấn đề về rủi ro và hạn chế rủi ro trong phương
thức thanh toán TDCT của ngân hàng thương mại.
Phạm vi nghiên cứu: phương thức thanh toán TDCT tại DaiA Bank với dữ liệu
thu thập trong giai đoạn 2009 - 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, luận văn đã dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, vận dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
thống kê, tổng hợp, quy nạp, so sánh và phân tích thông tin để giải quyết các nội dung
nghiên cứu của đề tài.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn đánh giá đúng về thực trạng rủi ro và tầm quan trọng của công tác kiểm
soát, phòng ngừa để hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT tại DaiA
Bank, đồng thời đưa ra những kiến nghị, giải pháp nhằm giúp DaiA Bank hạn chế rủi
ro trong phương thức thanh toán này.
6. Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm 3 chương :
Chương 1 : Tổng quan về phương thức thanh toán tín dụng chứng từ và rủi ro
trong thanh toán tín dụng chứng từ.
Chương 2: Thực trạng rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng từ tại
Ngân hàng TMCP Đại Á.
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán tín dụng chứng
từ tại Ngân hàng TMCP Đại Á
1
CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN TÍN
DỤNG CHỨNG TỪ VÀ RỦI RO TRONG THANH TOÁN TÍN DỤNG CHỨNG
tín dụng có giá trị thanh toán bằng chấp nhận”.
Về bản chất, L/C là một giao dịch riêng biệt với các hợp đồng mua bán hoặc các
hợp đồng khác mà các hợp đồng này có thề làm cơ sở của L/C. Các ngân hàng không
liên quan đến hoặc bị ràng buộc bởi các hợp đồng như thế, thậm chí ngay cả khi trong
L/C có bất cứ sự dẫn chiếu nào đến các hợp đồng như thế.
Các ngân hàng giao dịch bằng các chứng từ và không giao dịch bằng hàng hóa,
dịch vụ hoặc các thực hiện khác mà các chứng từ có liên quan.
1.1.2 Phân loại L/C
Do đặc tính của thương mại quốc tế là rất đa dạng, có sự tham gia của các chủ thể
ở các quốc gia khác nhau với nhiều quy định, tập quán giao thương khác nhau, nên từ
đó cũng phát sinh rất nhiều hình thức của L/C, những hình thức cơ bản khi kết hợp với
nhau hoặc thêm bớt một số điều kiện để phù hợp với các chủ thể trong giao dịch thì lại
hình thành nên một hình thức L/C mới. Dưới đây là một số hình thức L/C thường gặp
nhất:
L/C không thể hủy ngang (Irrevocable L/C).
L/C có thể hủy ngang (Revocable L/C): hiện nay loại L/C này ít được sử dụng
trong thương mại quốc tế và nó không thuộc phạm vi điều chỉnh của UCP 600.
L/C trả ngay (L/C at sight).
L/C trả chậm (Deferred L/C).
L/C xác nhận (Confirmed L/C).
L/C có thể chuyển nhượng (Transferrable L/C).
L/C tuần hoàn (Revolving L/C).
3
L/C giáp lưng (Back to back L/C).
L/C đối ứng (Reciprocal L/C).
L/C điều khoản đỏ (Red clause L/C).
(1)
(4)
(9)
(8)
NGÂN HÀNG PHÁT
HÀNH
(ISSUING BANK)
NGƯỜI THỤ HƯỞNG
(BENEFECIARY)
(7)
(6)
(2)
(5)
(3)
NGÂN HÀNG THÔNG
BÁO
(ADVISING BANK)
Diễn giải quy trình: tham khảo Phụ lục 1.1.
1.1.4 Các chuẩn mực quốc tế điều chỉnh phương thức thanh toán TDCT
Phần lớn chứng từ xuất trình theo L/C hiện nay vẫn được thể hiện dưới dạng
chứng từ văn bản (chứng từ giấy). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của công nghệ
viễn thông người ta dự đoán rằng trong tương lai gần cách thức truyền thống này này
sẽ được thay thế bằng các giao dịch điện tử không dùng giấy. Do đó, ICC đã ban hành
eUCP nhằm điều chỉnh việc xuất trình các chứng từ điện tử hoặc kết hợp với việc xuất
trình các chứng từ bằng văn bản. eUCP 1.1 có hiệu lực từ ngày 01/07/2007 là bản sửa
đổi mới nhất hiện nay.
Quy tắc thống nhất về hoàn trả tiền giữa các ngân hàng theo Thư tín
dụng (URR):
URR 525 được ICC xuất bản vào tháng 11/1995 và có hiệu lực áp dụng từ ngày
01/07/1996. Vào lúc đó, các uỷ quyền hoàn trả đã bắt đầu được phát hành bằng các
6
đồng tiền khác với đồng tiền đã được sử dụng phổ biến là USD, do vậy sự ra đời của
một bộ các quy tắc quốc tế được xem là cần thiết. Trước đó nhiều năm, ở Mỹ đã có quy
tắc về hoàn trả giữa các ngân hàng và chính quy tắc này đã hình thành cơ sở cho việc
thiết lập các nguyên tắc để xem xét trong quá trình dự thảo URR 525.
URR 725 có hiệu lực từ ngày 01/10/2008 là bản mới nhất hiện nay thay cho URR
525. Điều 13 UCP 600 cũng điều chỉnh về thỏa thuận hoàn trả giữa các ngân hàng
nhưng nó không bao hàm hết tất cả các khía cạnh của việc xử lý hoàn trả. Nội dung của
điều 13 UCP 600 chỉ bao hàm những yếu tố cần thiết tối thiểu mà không giải quyết
được những cái riêng. Đây là một quan điểm có chủ ý của ICC nhằm khuyến khích
việc sử dụng các quy tắc được thiết kế riêng cho sản phẩm. Do đó URR được xác định
là sẽ vẫn tồn tại như là một bộ quy tắc riêng.
Tập quán Thư tín dụng dự phòng (ISP98):
Mặc dù L/C dự phòng có nhiều điểm tương đồng với L/C thương mại và các công
Chấp nhận rủi ro là trung tâm của hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng cần phải
đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối quan hệ rủi ro-lợi ích nhằm tìm ra những
cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức rủi ro chấp nhận. Ngân hàng sẽ hoạt
động tốt nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được và nằm
trong phạm vi khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của ngân hàng.
Đối với phương thức thanh toán TDCT – một trong những nghiệp vụ trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro được coi là những biến cố không mong đợi mà
khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so
với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được nghiệp
vụ này. Rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT có thể xảy ra với tất cả các bên
tham gia: người bán, người mua và các ngân hàng liên quan (Trần Huy Hoàng, 2011).
8
Hạn chế rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT bao gồm tất cả những hoạt
động nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, mất mát,
những ảnh hưởng bất lợi của rủi ro trong phương thức này đến hoạt động kinh doanh
của ngân hàng. Cũng như các loại rủi ro khác, rủi ro trong phương thức thanh toán
TDCT là một yếu tố khách quan nên không thể loại trừ được hẳn mà chỉ có thể hạn chế
sự xuất hiện của nó cũng như những tác hại mà nó gây nên. Do đó, cần phải tiếp cận
rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT một cách tích cực để có thể tìm ra được
những biện pháp phòng ngừa, hạn chế những tiêu cực và phát huy được những cơ hội
tích cực mang lại từ rủi ro.
1.2.2 Phân loại rủi ro trong phương thức thanh toán TDCT
Các ngân hàng sẽ phải đối mặt với những rủi ro khác nhau tùy thuộc vào vai trò
của ngân hàng trong phương thức thanh toán TDCT (là ngân hàng phát hành, ngân
hàng thông báo, ngân hàng được chỉ định,…).
1.2.2.1 Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
Người yêu cầu mất khả năng thanh toán:
nghiệp vụ và kinh nghiệm của nhân viên ngân hàng.
Rủi ro này có thể là việc ngân hàng phát hành không chuyển tải hết những nội
dung trong Đơn đề nghị phát hành L/C của người yêu cầu hoặc chuyển tải một cách
mơ hồ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau; không lưu ý cho người yêu cầu những điều
khoản trong L/C có thể gây bất lợi cho cả người yêu cầu lẫn ngân hàng phát hành sau
này; kiểm tra chứng từ xuất trình quá thời hạn quy định của L/C dẫn đến việc mất
quyền từ chối thanh toán cho bộ chứng từ không phù hợp; không thanh toán cho bộ
chứng từ phù hợp trong thời gian quy định của L/C dẫn đến việc phải trả thêm lãi phát
sinh; kiểm tra chứng từ sai sót dẫn đến việc từ chối thanh toán cho một xuất trình phù
hợp. Những rủi ro này ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến ngân hàng phát hành vì ngoài
10
những thiệt hại kinh tế nó còn dẫn đến những tranh chấp, kiện tụng sau này làm giảm
hệ số tín nhiệm của ngân hàng phát hành.
1.2.2.2 Rủi ro đối với ngân hàng thông báo
Ngân hàng thông báo không cam kết bất kỳ một nghĩa vụ thanh toán nào nên
không phải gánh chịu rủi ro tín dụng khi thông báo một L/C. Nghĩa vụ của ngân hàng
thông báo, nếu nó chấp nhận chỉ thị của ngân hàng phát hành, là kiểm tra tính chân
thật, hợp lệ của L/C hoặc tu chỉnh L/C và thông báo cho người thụ hưởng. Bằng việc
thông báo L/C hoặc tu chỉnh L/C, ngân hàng thông báo cho biết rằng tự nó đã thỏa mãn
về tính chân thật bề ngoài của L/C hoặc tu chỉnh L/C và rằng thông báo phản ánh chính
xác các điều kiện và điều khoản của L/C hoặc tu chỉnh L/C đã nhận.
Do đó, rủi ro đối với ngân hàng thông báo xảy ra khi nó thông báo một cách thiếu
cẩn trọng một L/C hoặc tu chỉnh L/C chưa được xác thực về tính chân thật bề ngoài –
hay còn gọi là L/C hoặc tu chỉnh L/C giả, và khi đó ngân hàng thông báo có nghĩa vụ
phải bồi thường cho người thụ hưởng về những thiệt hại mà việc thông báo này gây ra.
Ngoài những thiệt hại về mặt vật chất, rủi ro này còn gây ảnh hưởng không nhỏ đến uy
(ví dụ như do bất hợp lệ của chứng từ).
Vần đề tương tự cũng có thể nảy sinh nếu ngân hàng phát hành không thể chuyển
tiền do sự hạn chế của chính phủ trong việc chuyển ngoại hối hoặc sự hạn chế NK.
Để giảm thiểu rủi ro này, ngân hàng xác nhận cần phải nắm vững năng lực tài
chính của ngân hàng phát hành trước khi đồng ý xác nhận L/C và tìm hiểu kỹ các quy
định tại quốc gia của ngân hàng phát hành đặc biệt là trong vấn đề quản lý ngoại hối và
12
XNK. Đồng thời ngân hàng xác nhận cần có sự cẩn trọng thích hợp trong việc kiểm tra
tính phù hợp của bộ chứng từ trước khi đồng ý thanh toán cho người thụ hưởng để
tránh những thiệt hại về cả vật chất lẫn uy tín về sau.
1.2.2.5 Những rủi ro chung
Đây là những rủi ro mà khi xảy ra thì nó đều có ảnh hưởng nhất định đến các
ngân hàng dù với tư cách là ngân hàng phát hành, ngân hàng thông báo, ngân hàng
được chỉ định hay ngân hàng xác nhận, bao gồm:
Rủi ro quốc gia:
Đây là rủi ro mà việc thực hiện các điều kiện và điều khoản của L/C có thể bị
ngăn chặn bởi những hành động của chính phủ vượt ngoài tầm kiểm soát của các bên,
ví dụ như sau khi L/C được phát hành thì chính phủ bắt đầu áp đặt những quy định hạn
chế thanh toán ra nước ngoài hoặc cấm xuất/nhập khẩu khiến ngân hàng phát hành
không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình, còn ngân hàng chiết khấu thì không
thể thu hồi được số tiền chiết khấu do không nhận được hoàn trả từ ngân hàng phát
hành.
Ngoài ra, đó còn là những rủi ro do biến động về kinh tế, chính trị. Sự khủng
hoảng, suy thoái kinh tế và tình trạng nợ công nặng nề của một quốc gia sẽ kéo theo
việc các ngân hàng bị phong toả hoặc tạm ngưng hoạt động, từ đó làm ảnh hưởng tới
dịch vụ bưu điện cũng ngưng hoạt động. Trong tình huống này, hầu hết các hệ thống
pháp lý đều bao gồm điều khoản chấm dứt hợp đồng nếu việc thực hiện hợp đồng trở
nên bất khả thi.
Điều 36 UCP 600 quy định ngân hàng không chịu trách nhiệm đối với các hậu
quả phát sinh ra từ sự gián đoạn hoạt động kinh doanh của mình do thiên tai, bạo động,
dân biến, nổi dậy, chiến tranh, hành động khủng bố hoặc do bất cứ các cuộc đình công
hoặc bế xưởng hoặc bất cứ các nguyên nhân nào khác vượt ra ngoài sự kiểm soát của
họ. Khi bắt đầu hoạt động kinh doanh trở lại, ngân hàng không phải thanh toán hoặc