BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
PHẠM NGỌC BẰNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH Y TẾ VIỆT NAM
PHÂN TÍCH MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
------
PHẠM NGỌC BẰNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG TÀI CHÍNH Y TẾ VIỆT NAM –
PHÂN TÍCH MỐI LIÊN QUAN GIỮA BẢO HIỂM Y TẾ
VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ Y TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Đặc biệt, con cám ơn gia đình đã luôn dành cho con sự yêu thương và
những điều kiện tốt nhất để con yên tâm học tập và hoàn thành luận văn tốt
nghiệp cao học.
Tôi xin được chân thành cảm ơn bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện luận văn.
i
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi : - Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Y Hà Nội
- Viện Đào tạo Y học Dự phòng và Y tế Công cộng
- Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp, năm học 2011 – 2012
Em xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của em, toàn
bộ số liệu được thu thập và xử lý một cách khách quan, trung thực và luận
văn là bản chưa được công bố trong bất kỳ một tài liệu nào khác.
Hà Nội, ngày 28 tháng 01 năm 2013
Học viên cao học
Phạm Ngọc Bằng
ii
NGO
Non-governmental Organization (Tổ chức phi chính phủ)
NSNN
Ngân sách nhà nước
NSTW
Ngân sách trung ương
ODA
Official Development Assistance (Hỗ trợ phát triển chính thức)
TKYTQG
Tài khoản y tế quốc gia
WHO
World Health Organization (Tổ chức y tế thế giới)
iii
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
2.3 Phương pháp nghiên cứu .................................................................... 28
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu ...................................................................... 28
2.3.2 Cơ mẫu và cách chọn mẫu ............................................................ 29
2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin .................................................... 29
2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu ........................................ 29
2.3.5 Các chỉ số và biến số nghiên cứu .................................................. 29
2.4 Sai số và hạn chế sai số ....................................................................... 30
2.5 Vấn đề đạo đức nghiên cứu................................................................. 31
iv
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
2.6 Hạn chế của nghiên cứu ...................................................................... 31
CHƢƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................... 28
3.1 Nguồn và chi tiêu tài chính y tế Việt Nam trong giai đoạn 2002 2010 .................................................................................................... 32
3.1.1 Tổng nguồn tài chính y tế ............................................................. 32
3.1.1.1 Cơ cầu cầu nguồn tài chính y tế xã hội ................................. 35
3.1.1.2 Các nguồn tài chính y tế chi từ NSNN ................................. 38
3.1.1.3 Các nguồn tài chính y tế chi từ ngoài NSNN ....................... 41
3.1.2 Sử dụng nguồn tài chính y tế tại Việt Nam ................................... 42
3.1.2.1 Sử dụng nguồn tài chính y tế phân theo loại dịch vụ y tế .... 42
3.1.2.2 Sử dụng nguồn tài chính y tế phân theo mục chi ................. 44
3.1.3 Phân tích một số chỉ tiêu tài chính y tế quan trọng của Việt Nam
theo thời gian ................................................................................ 45
3.2 Mỗi liên quan giữa bảo hiểm y tế và sử dụng dịch vụ y tế giai đoạn
2002-2010 ........................................................................................... 49
CHƢƠNG 4 BÀN LUẬN .............................................................................. 53
Cơ cấu nguồn thu phí, lệ phí, dịch vụ khác của cơ sở y tế công
lập so với tổng chi y tế..................................................................
31
32
34
Bảng 3.6.
Chi NSNN cho y tế Việt Nam trong giai đoạn 2002-2010...........
35
Bảng 3.7.
Tình hình tài chính của BHYT Việt Nam.....................................
36
Bảng 3.8.
Cơ cấu chi BHYT theo tuyến kỹ thuật..........................................
37
Bảng 3.9.
Cơ cấu chi y tế từ tiền túi của HGĐ..............................................
38
Bảng 3.18
Bảng 3.19
Tần suất trung bình sử dụng dịch vụ y tế của mỗi người trong 12
tháng...............................................................................................
Tỷ lệ sử dụng dịch vụ y tế trong 12 tháng của người dân theo
tình trạng kinh tế - xã hội..............................................................
Kết quả phân tích hồi quy tìm mối liên quan đến việc sử dụng
dịch vụ y tế của người dân.............................................................
vi
46
46
47
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sau nhiều năm thực hiện chính sách đổi mới và hội nhập quốc tế,
ngành y tế Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, sức khỏe nhân dân
đã được cải thiện một cách rõ rệt và toàn diện. Tuổi thọ trung bình của người
Việt Nam (72,8 tuổi) cao hơn một số nước trong khu vực như Thái Lan (72
tuổi), Philippin (70 tuổi)... [1;6]. Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 1 tuổi ở nước ta
đã giảm nhanh trong hai thập kỷ gần đây, từ 55‰ năm 1983 xuống còn 16‰
đáp ứng được các yêu cầu đầu tư phát triển ngành y tế. Tỷ lệ chi tiền túi của
hộ gia đình vẫn cao, ở trên mức 50%. Chi từ quỹ BHYT cho y tế rất thấp, mới
chiếm 17,9% tổng chi y tế năm 2009. Tổng giá trị viện trợ và vay nước ngoài
hàng năm còn chiếm 1,8% tổng chi y tế và có khả năng sẽ giảm trong tương
lai do Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình [4;5;12].
Mặt khác, giai đoạn này Chính phủ chủ trương xã hội hóa các hoạt
động y tế nhằm huy động các nguồn lực của xã hội khi mà đầu tư công cho y
tế chưa đủ đáp ứng nhu cầu. Cùng với việc các luật BHYT, luật khám chữa
bệnh (KCB),…đã được thông qua và có hiệu lực đang dẫn đến những tác
động cả tích cực và tiêu cực trong hệ thống y tế mà Chính phủ đang yêu cầu
phải đánh giá đầy đủ hơn để có những chính sách thích hợp [5;26]. Nghiên
cứu thực trạng tài chính y tế Việt Nam và mỗi liên quan giữa bảo hiểm y tế và
sử dụng dịch vụ y tế nhằm mục đích mô tả thực trạng nguồn và chi tiêu tài
chính của nước ta, và mỗi liên quan giữa sử dụng bảo hiểm y tế với sử dụng
dịch vụ y tế giai đoạn 2002-2010. Nghiên cứu cũng giúp xác định các vấn đề
ưu tiên liên quan đến lĩnh vực tài chính y tế, từ đó nêu ra các giải pháp phù
hợp có thể đưa vào kế hoạch 5 năm tới của ngành y tế.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1. Mô tả thực trạng tài chính y tế Việt Nam giai đoạn 2002-2010
2. Phân tích mỗi liên quan giữa sử dụng bảo hiểm y tế với sử dụng dịch
vụ y tế giai đoạn 2002-2010
8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
CHƢƠNG 1
PHẠM NGỌC BẰNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
Chi tiền túi hộ gia đình cho y tế là mọi khoản tri trực tiếp của hộ gia
đình chi trả cho các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế khi ốm đau phải khám, chữa
bệnh và sử dụng các dịch vụ và hàng hóa y tế (thuốc, vật tư y tế…) [6;9-12].
Chi tiêu công cho y tế bao gồm chi NSNN cho y tế, chi từ nguồn vốn
hỗ trợ chính thức (ODA) và viện trợ phi chính phủ (NGO) do nhà nước quản
lý và chi từ quỹ BHXH cho y tế [6;9-12].
Chi tiêu tư cho y tế bao gồm chi tiền túi của hộ gia đình cho y tế và các
khoản chi tư khác (do doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, từ thiện chi cho y
tế…) [6;9-12].
Tổng chi y tế là tổng chi của toàn xã hội cho y tế, bao gồm “chi tiêu
công” và “chi tiêu tư” cho y tế [6;9-12].
Bảo hiểm y tế xã hội là chương trình BHYT do nhà nước tổ chức thực
hiện, trong đó mức đóng bảo hiểm thường được tính theo tỷ lệ thu nhập của
người lao động, trong khi quyền lợi KCB được hưởng không theo mức đóng
góp mà theo nhu cầu bệnh tật. Quỹ BHYT xã hội được hình thành từ nguồn
đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động và chính phủ [5;6;16].
Bảo hiểm y tế toàn dân là chương trình BHYT xã hội bao phủ được
toàn bộ dân số. trong một số trường hợp, có thể công bố đạt được mục tiêu
bao phủ toàn dân khi tỷ lệ bao phủ dưới 100%, nhưng với điều kiện những
người chưa có BHYT phải được bảo vệ trước rủi ro bệnh tật bằng những cơ
chế tài chính y tế an toàn khác [5;6;16].
1.1.2 Mục tiêu và chức năng của hệ thống tài chính y tế
Hệ thống tài chính y tế là một bộ phận quan trọng của hệ thống y tế, có
4 mục tiêu chính [5;14;20]:
Huy động đủ nguồn lực tài chính cho công tác CSSK.
Để thực hiện được chức năng này, người lao động, doanh nghiệp, hộ gia đình
phải có những khoản đóng góp trước (trả trước) khi chưa bị đau ốm, chưa sử
dụng dịch vụ. Các đóng góp từ hộ gia đình, doanh nghiệp, ví dụ thông qua hệ
thống thu thuế (sau đó một phần thuế thu được sẽ được phân bổ cho y tế), đều
là các khoản trả trước (pre-payment). Việc trả trước sẽ tạo điều kiện để một
11
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
đơn vị tài chính trung gian đứng ra thu phí, tích lũy (accumulation) và tập
trung quỹ (pooling). Khi đơn vị quản lý quỹ đứng ra thanh toán cho đơn vị
cung ứng dịch vụ, cũng có nghĩa là chinh phí tài chính của một người được trả
bỡi quỹ chung do nhiều người đóng góp. Điều đó cũng có nghĩa rủi ro được
chia sẻ (risk sharing). Mức độ chi trả trước, khả năng tập trung quỹ là hai yếu
tố cơ bản đảm bảo sự chia se rủi ro và bảo vệ người dân trước các rủi ro tài
chính [5;6].
Ngược lại, khi bị đau ốm, bệnh nhân tự trả toàn bộ kinh phí KCB, cũng
có nghĩa là không hề có tập trung quỹ, cũng không có chia sẻ rủi ro. Khi đơn
vị giữ quỹ thanh toán (mua) dịch vụ một cách chiến lược, đại diện cho nhóm
dân số khá lớn, cũng có nghĩa đơn vị giữ quỹ có một quyền lực nhất định để
thương lượng với bên cung ứng dịch vụ, về số lượng, chất lượng và giá cả
dịch vụ. Điều này sẽ không làm được nếu từng hộ gia đình đứng ra tự thanh
toán cho mình.
Phương pháp thực hiện 3 chức năng trên của hệ thống tài chính y tế tác
động sâu sắc đến hệ thống y tế, bởi hệ thống tài chính y tế sẽ quyết định ai
tiếp cận được dịch vụ, chất lượng dịch vụ được cung ứng như thế nào, bao
nhiêu người có thể bị rơi vào đói nghòe vì chi phí y tế và liệu chính phủ có
Tài chính cho y tế thông qua chi trả trực tiếp (từ tiền túi) của hộ gia
đình cho đơn vị cung ứng dịch vụ, khi hộ gia đình sử dụng hoặc mua hàng
hóa, dịch vụ y tế.
Tài chính cho y tế từ nguồn nước ngoài (vay và viện trợ do nhà nước
điều phối). Những nước nghòe có thể phụ thuộc nhiều vào cơ chế này. Nguồn
tài chính này thường được cấp trực tiếp cho đơn vị cung ứng để thực hiện các
chương trình y tế ưu tiên.
1.1.4 Tính công bằng của hệ thống tài chính y tế
Cách thức một quốc gia thực hiện 3 chức năng của tài chính y tế cũng
tác động đến tính công bằng của hệ thống y tế nói chung. Trong tài chính y tế,
vấn đề công bằng thường được cân nhắc từ hai góc độ: công bằng trong đóng
góp về tài chính và công bằng trong hưởng thụ từ các dịch vụ y tế.
13
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
Về mặt nguyên tắc, công bằng trong đóng góp tài chính nghĩa là đóng
góp theo khả năng chi trả. Những người có thu nhập cao thì đóng góp cao và
thu nhập thấp thì đóng góp ít. Như vậy, đóng góp cho hệ thống y tế thông qua
nộp thuế thu nhập là một hình thức đóng góp mang tính công bằng. Đóng góp
phí BHYT xã hội, theo tỷ lệ phần trăm nhất định của thu nhập của người lao
động cũng được coi là công bằng. Những người thu nhập thấp hoặc không có
thu nhập, về danh nghĩa không phải đóng, hoặc được NSNN bao cấp. Trong
khi đó, công bằng trong hưởng thụ dịch vụ y tế nghĩa là người hưởng thụ
được hưởng dịch vụ y tế theo nhu cầu trong khám, chữa bệnh của mình. Việc
hưởng thụ không liên quan đến mức độ đóng góp. Việc hưởng thụ ở đây bao
của nhà nước, hay từ quỹ BHYT xã hội, hay từ nguồn vốn ODA (do nhà nước
điều phối), thì khoản chi đó được gọi là chi công.
Chi công = Chi NSNN cho y tế (không tính chi NSNN cấp qua BHYT) + chi
quỹ BHYT xã hội + chi nguồn ODA
Còn các khoản chi do cá nhân, hộ gia đình trả trực tiếp cho nhà cung
ứng dịch vụ khi ốm đau và sử dụng dịch vụ, khi mua thuốc và các vật tư thiết
bị liên quan đến sức khỏe…là chi tư. Với khái niệm như vậy, viện phí và các
khoản đồng chi trả (khi KCB BHYT) do bệnh nhân trả trực tiếp từ tiền túi, dù
được thu ở bệnh viện công hay bệnh viện tư, đều là chi tư. Ngoài ra, chi tư
còn bao gồm các khoản chi khác do doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, từ thiện
chi trả, nhưng quy mô thường nhỏ. Chi tử BHYT tư nhân vì lợi nhuận cũng
được tính là chi tư.
Chi tư = Chi trực tiếp của hộ gia đình + Chi bởi tổ chức từ thiện, doanh
nghiệp (không tính đóng góp của doanh nghiệp cho BHYT xã hội) + chi
BHYT tư nhân
Khái niệm chi công và chi tư giúp trả lời câu hỏi: “Ai là người trả tiền cho
dịch vụ y tế”, chứ không liên quan đến “ai là người cung ứng dịch vụ y tế”.
Trên thực tế, chi công thường được dùng chủ yếu để trả cho đơn vị cung ứng
công, nhưng cũng có thể được trả tại đơn vị cung ứng tư (BHYT xã hội thanh
toán cho bệnh viện tư). Tương tự, chi tư có thể được trả tại đơn vị cung ứng
15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
công (viện phí thu tại bệnh viện công) hoặc đơn vị cung ứng tư. Trên thế giới,
hầu hết các quốc gia đều có một hệ thống cung ứng dịch vụ công tư hỗn hợp,
đồng thời quốc gia nào cũng có một hệ thống tài chính y tế dựa vào chi công
Trong những năm gần đây, Chính phủ chủ trương xã hội hóa các hoạt
động y tế nhằm huy động các nguồn lực của xã hội (trong đó có nguồn lực tài
chính) khi mà đầu tư công cho y tế chưa đủ đáp ứng nhu cầu. Với chính sách
này, đầu tư tư nhân cho y tế đang tăng lên. Tuy nhiên, vì là đầu tư tư nhân,
nên các khoản đầu tư này có sức ép là phải mang lại lợi nhuận. Việc này dẫn
đến những tác động cả tích cực và tiêu cực trong hệ thống y tế mà Chính phủ
đang yêu cầu phải đánh giá đầy đủ hơn để có những chính sách thích hợp
[5;22;26]. Trong khi thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế, Chính phủ vẫn
khẳng định sẽ tiếp tục tăng ngân sách cho y tế nhằm mục tiêu công bằng và
hiệu quả của ngành y tế.
Hình 1: Luồng tài chính y tế tại Việt Nam
Nguồn tài
chính
Tích lũy/
Tập trung
quỹ
Phân bố/
Quản lý quỹ
Mua
dịch vụ
Viện trợ
quốc tế
Nhân sách
Cá nhân/
hộ gia đình/
người lao
động
Trợ cấp BHYT cho
đối tượng chinh sách
Phí
Phí
Quỹ BHYT
xã hội
Phí
Quỹ BHYT
tư nhân
Chi tiền túi hộ gia
đình
17
Nhà thuốc
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
có năm gốc là 1994 của Việt Nam, mức tăng chi y tế bình quân đầu người chỉ
lên 2,3 lần. [11;12].
1.2.3 Cơ cấu chi y tế tại Việt Nam
Cơ cấu chi y tế của Việt Nam trong những năm qua đã có những thay
đổi đáng kể. Chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình đã giảm đi từ 67,1 %
(năm 2005) xuống còn 50,5% (năm 2009), bên cạnh đó chi từ quỹ BHYT
cũng tăng đáng kể, từ 8,75% lên 17,9% năm 2009. Chi từ ngân sách địa
phương cũng tăng khá mạnh, từ 10,1% năm 2005 lên gần 19% năm 2009. Sự
thay đổi này có thể được giải thích là kết quả của một loạt chính sách về tài
chính y tế được ban hành trong năm 2005 như Nghị định 63 về BHYT trong
đó quyền lợi của người có thẻ BHYT được mở rộng đáng kể; bỏ trần thanh
toán BHYT, bỏ đồng chi trả…[5;12;17]
Bảng. Cơ cấu chi y tế 2005 và 2009
ĐVT: %
Cơ cấu chi y tế
2005
2009
Chi tư khác
5,80
6,29
Chi tiền túi hộ gia đình
67,05
Tổng chi y tế
Nguồn: Bộ Y tế, Tài khoản y tế quốc gia 1998-2010 [12]
Việc theo dõi cơ cấu chi y tế theo thời gian có thể giúp phân tích quá
trình biến đổi của các nguồn vốn, các cơ chế tài chính, và tác động của các
19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
chinh sách y tế. Các nhà hoạch định chính sách có thể theo dõi cơ cấu chi y tế
để đưa ra hoặc kiến nghị về chính sách tài chính y tế với chính phủ và các
ngành liên quan.
1.2.4 So sánh với các nƣớc trong khu vực và trên thế giơi
Trên thế giới, khi các quốc gia giàu lên, GDP bình quân đầu người tăng
thì chính phủ cũng tăng chi cho y tế. Các nước thu nhật trung bình đến thu
nhập cao (nhóm 5 đến 10), chi công cho y tế thường chiếm 10 – 15% tổng chi
của nhà nước. So sánh về chi y tế các nước trên thế giới, 165 nước (những
nước có số liệu về GDP và chi y tế) được chia thành 10 nhóm theo thu nhập
và từ thấp đến cao. Nước có thu nhập GNI theo đầu người thấp nhất là
Liberia, 260 đô la quốc tế (PPP$), nước cao nhất là Luxemboug, 60.870
PPP$. Thu nhập GNI theo đầu người của Việt Nam là 2310 PPP$, thuộc
nhóm 3 (1580$ - 2660$). Đây là nhóm các nước có thu nhập trung bình thấp,
mức sống còn khá thấp, song cũng không nhận được nhiều hỗ trợ tài chính từ
bên ngoài như các nước thu nhập thấp thuộc nhóm 1 và 2. Chi công cho y tế ở
nhóm 1 và 2 cao hơn cũng một phần do tỷ lệ chi từ viện trợ nước ngoài
(ODA) cao [5;12;30;32].
1.3.1 Chính sách liên quan đến NSNN cho y tế
Trong quá trình đổi mới hệ thống y tế Việt Nam từ năm 1989 đến nay,
đã có nhiều chính sách nhằm huy đồng các nguồn tài chính khác nhau cho y
tế, như chính sách viện phí, BHYT, xã hội hóa y tế, tự chủ tài chính…Tuy
nhiên, Đảng và Nhà nước vẫn giữ quan điểm ưu tiên đầu tư NSNN cho y tế.
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X đã ghi rõ: “Tăng đầu tư của Nhà
nước và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cấp mạng lưới y tế cơ
sở và hệ thống y tế, có chính sách trợ giúp các đối tượng chính sách, người
nghòe, người có thu nhập thấp được tiếp cận dịch vụ y tế; phát triển hệ thống
y tế dự phòng, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người dân có khả năng
chủ động phòng bệnh và rèn luyện sức khỏe”. Nghị quyết 46/NQ-TW của Bộ
Chính trị ban hành ngày 23 /2/2005 đã chỉ rõ: “đổi mới và hoàn thiện chính
sách tài chính y tế theo hướng tăng nhanh tỷ trọng các nguồn tài chính công
21
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
PHẠM NGỌC BẰNG
(bao gồm NSNN và BHYT), giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp
từ người bệnh” [2].
Chiến lược chăm sóc và bảo vệ nhân dân giai đoạn 2001-2010 xác
định: Đầu tư nhà nước cho y tế vẫn phải giữ vai trò chủ đạo trong các nguồn
thu cho y tế. Phấn đầu tăng mức chi thường xuyên cho y tế trong tổng chi
NSNN. Ưu tiên đầu tư cho vùng nghèo, vùng núi, vùng sâu, vùng xa về hoạt
động y tế dự phòng, y học cổ truyền, CSSK ban đầy tại y tế cơ sở, KCB cho
người nghèo và các đối tượng chính sách, bảo vệ sức khỏe bà mẹ, trẻ em.
Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo
dục, y tế, văn hóa và thể dục thể tao cũng khẳng định: “Nhà nước tiếp tục tăng
cả y tế tư nhân, bô sung phương thức thanh toán chi phí KCB, thực hiện chính
sách khuyến khích BHYT tự nguyện, tổ chức và quản lý quỹ tập trung thống
nhất có sự điều tiết trong phạm vi toàn quốc và tăng cường quản lý nhà nước
về BHYT [5;16;21].
Định hướng thực hiện BHYT toàn dân là một nội dung quan trọng được
Đảng và Nhà nước ưu tiên hàng đầu. Định hướng này giúp xã định rõ mô hình
hệ thống y tế nước ta, đó là một hệ thống y tế dựa trên BHYT nhằm mục tiêu
công bằng, hiệu quả và phát triển. Nghị quyết 46-NQ/TW của Bộ Chính trị về
công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mời
chỉ rõ: “Xây dựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân vào
năm 2010”. Nghị quyết 18/QH12 cũng nêu: “đẩy nhanh tiến độ bảo hiểm y tế
toàn dân”. Kết luận số 43 còn chỉ rõ phương thức đạt mục tiêu BHYT toàn
dân là thông qua BHYT bắt buộc toàn dân. Tuy nhiên, trước tình hình thực tế
về độ bao phủ BHYT và những khó khăn trong thực hiện BHYT toàn dân,
Luật BHYT đã điều chỉnh mục tiêu BHYT toàn dân lùi lại vào năm 2014 với
lộ trình cụ thể việc mở rộng các nhóm đối tượng như sau [6;16;21]:
Năm 2009: Thực hiện BHYT đối với trẻ em dưới 6 tuổi
Năm 2010: Thực hiện BHYT đối với người cận nghèo và học sinh, sinh
viên
23