Mot so giai phap quan ly cong tac giao duc dao duc cho hoc sinh cac truong trung hoc pho thong huyen hoang hoa tinh thanh hoa - Pdf 43

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

CHU VĂN ĐOÀN

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN HOẰNG HOÁ, TỈNH THANH HOÁ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số:
60 14 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Trọng Văn

NGHỆ AN - 2012


2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả luận văn xin bày tỏ sự tri ân sâu sắc tới PGS.TS. Nguyễn Trọng Văn,
người luôn tận tình chỉ dẫn và tạo cho chúng tôi niềm hứng thú trong công việc vốn rất
nhiều khó khăn, thách thức này.
Chúng tôi cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến các giảng viên giảng dạy các học
phần cho chuyên ngành Quản lý giáo dục Trường Đại học Vinh, những người đã dành


1
1
3
3
3
3
4
4
4
5

cho học sinh các trường trung học phổ thông
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.3. Công tác quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ

5
7
15

thông
1.4. Một số đặc điểm tâm lí của học sinh trung học phổ thông và

31

những phẩm chất con người Việt Nam thế kỷ XXI có liên quan đến
đề tài nghiên cứu
Tiểu kết chương 1
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức cho

Chương 3: Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức

74

cho học sinh các trường trung học phổ thông huyện Hoằng hóa,
tỉnh Thanh hóa.
3.1. Nguyên tắc đề xuất các giải pháp
3.2. Một số giải pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trung

74
75

học phổ thông huyện Hoằng hóa, tỉnh Thanh hóa
3.2.1. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ,

75

giáo viên về công tác giáo dục đạo đức cho học sinh.
3.2.2. Kế hoạch hoá công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học

78

sinh
3.2.3. Tổ chức có hiệu quả việc triển khai thực hiện kế hoạch quản

79

lý giáo dục đạo đức cho học sinh
3.2.4. Bồi dưỡng và phân công đội ngũ giáo viên chủ nhiệm.
3.2.5. Xây dựng tập thể học sinh tự quản tốt


BẢNG CHỮ VIẾT TẮT


5

Bộ Giáo dục và Đào tạo
Chủ nghĩa xã hội
Đạo đức
Học sinh
Hoạt động
Hoạt động giáo dục
Giáo dục
Giáo dục đạo đức
Giáo viên
Giáo viên chủ nhiệm
Giáo viên bộ môn
Ngoài giờ lên lớp
Phụ huynh học sinh
Trung học phổ thông
Xã hội
Xã hội chủ nghĩa
Xã hội hóa
Tổ chức liên minh bưu chính thế giới

Bộ GD&ĐT
CNXH
ĐĐ
HS



đề giáo dục đạo đức cho học sinh hôm nay. Trong những năm gần đây, chúng ta càng
nghe nhiều tới những vụ học sinh đánh giáo viên.
Ngày 24/3/2005, cô giáo Trần Thị Thanh Vân giáo viên Trường THPT Nghi Lộc III,
Nghệ An, bị Hoàng Văn Đạt lớp 10 đánh làm sẩy thai. Ngày 26/2/2008, thầy Phạm
Trung Cường giáo viên Trường THPT Quảng Ninh (Quảng Bình) bị học sinh đánh
chấn thương vùng đầu phải nhập viện. Hay ngày 26/4/2008, Phạm Ngọc Tuấn lớp 11
THPT Lê Quý Đôn (Điện Biên) “bạt tai” cô Trương Thị Vy ngay trên lớp.
Đó chỉ là một số vụ điển hình đã được cơ quan báo chí đưa tin, nhưng vẫn còn đó rất
nhiều câu chuyện học sinh đánh giáo viên mà cơ quan truyền thông chưa kịp lên tiếng.
Hẳn chúng ta không khỏi phẫn nộ và cả xót xa khi nghe những câu chuyện đó.
Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nước ta đã mở rộng thương mại
quốc tế, thu hút nhiều nguồn lực bên ngoài để phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao đời
sống cho nhân dân, khẳng định vị thế của dân tộc trên trường quốc tế. Tuy nhiên,
chính sự biến đổi sâu sắc và toàn diện nói trên đã làm cho hệ giá trị đạo đức xã hội
thay đổi nhanh chóng và diễn biến hết sức phức tạp đặc biệt là ở đối tượng học sinh
trong các trường trung học phổ thông. Một bộ phận học sinh phai nhạt, mơ hồ về lý
tưởng; định hướng phấn đấu, rèn luyện chưa rõ ràng; không ít học sinh có những biểu
hiện đáng lo ngại về nhận thức chính trị, đạo đức, lối sống. Đa số học sinh ngại học tập
các môn lý luận chính trị, ít tham gia các hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội,
nhân đạo. Trong học tập còn đối phó, thi cử còn gian dối, tệ nạn mua bằng, bán điểm,
thi thuê, thi hộ vẫn xảy ra… Một bộ phận học sinh thích ăn chơi, đua đòi chạy theo lối
sống thực dụng, buông thả, coi trọng đồng tiền, đề cao lợi ích cá nhân… Đáng chú ý là
tình trạng đua xe trái phép, nghiện hút ma tuý, đánh cờ bạc, lô đề, uống rượu, bia tràn
lan trong học sinh (HS)… đang có xu hướng gia tăng. Thực trạng nói trên đang là mối
lo của toàn xã hội và các bậc cha mẹ trong việc giáo dục con cái đòi hỏi cần phải có
những giải pháp tích cực và hiệu quả trong công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học
sinh ở các trường trung học phổ thông.
1.2. Sau 5 năm triển khai cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo
đức Hồ Chí Minh", chúng ta đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhất là trong nhận

`

3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học phổ

thông.


8

3.2. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các
trường trung học phổ thông huyện Hoằng hóa, tỉnh Thanh hóa.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trường
THPT huyện Hoằng hóa, tỉnh Thanh hóa, nếu có các giải pháp quản lý đảm bảo tính
khoa học, tính khả thi và áp dụng được trong thực tiễn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý công tác giáo dục đạo đức cho
học sinh các trường trung học phổ thông.
5.2. Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng công tác quản lý GDĐĐ cho HS
các trường THPT trên địa bàn huyện Hoằng hóa, tỉnh Thanh hóa.
5.3. Đề xuất một số giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS các trường
THPT huyện Hoằng hóa, tỉnh Thanh hóa .
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Tập hợp, phân loại tài liệu,
nghiên cứu các tri thức khoa học có trong các văn bản của Đảng, Nhà nước, của ngành
giáo dục và đào tạo và các tài liệu khoa học liên quan.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra; khảo sát; đánh giá
thực tiễn; đàm thoại, phỏng vấn; thu thập thông tin; lấy ý kiến chuyên gia.

đạo đức phải bằng nhận thức lý tính với phương pháp nhận thức khoa học [6, 34].
Khổng Tử (551-479 TCN), nhà tư tưởng nổi tiếng của Trung Quốc, đã xây dựng
học thuyết “ Nhân - Lễ - Chính danh”, trong đó ông cho rằng “Nhân” - Lòng thương
người - là yếu tố hạt nhân, là đạo đức cơ bản nhất của con người. Đứng trên lập trường
coi trọng GDĐĐ, Khổng Tử có câu nói nổi tiếng truyền lại đến ngày nay “Tiên học lễ,
hậu học văn” [6, 21].


10

Thế kỷ XVII, Komenxky, nhà giáo dục học vĩ đại Tiệp Khắc đã có nhiều đóng
góp cho công tác GDĐĐ qua tác phẩm “Khoa sư phạm vĩ đại”, thì cho rằng cần chú
trọng phối hợp môi trường bên trong và bên ngoài để GDĐĐ cho HS [28].
Thế kỷ XX, một số nhà giáo dục nổi tiếng của Xô Viết cũng nghiên cứu về
GDĐĐ HS như: A.C. Macarenco, V.A Xukhomlinxky… Nghiên cứu của họ đã đặt nền
tảng cho việc GDĐĐ mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô.
1.1.2. Các nghiên cứu ở trong nước
Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu và giáo trình về đạo đức khá
công phu, tiêu biểu như giáo trình của tác giả Trần Hậu Kiểm (NXB Chính trị quốc
gia, 1997); Giáo dục đạo đức học (Tác giả Nguyễn Ngọc Long - chủ biên, NXB Chính
trị quốc gia, 2000); Giáo trình đạo đức học Mác - Lê Nin, (Tác giả Vũ Trọng Dung chủ
biên, 2005)…
Vấn đề GDĐĐ cũng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu: Đặc trưng của
đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức (Hoàng An, 1982); Giáo dục đạo đức trong
nhà trường (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1988); Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức
(Nguyễn Sinh Huy, 1995); Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong
điều kiện kinh tế thị trường (Thái Duy Tuyên, chủ biên, 1994); Giáo dục giá trị truyền
thống cho học sinh, sinh viên (Phạm Minh Hạc, 1997); Giáo dục hệ thống giáo giá trị
đạo đức nhân văn (Hà Nhật Thăng, 1998); Một số vấn đề về lối sống đạo đức, chuẩn
giá trị xã hội (Huỳnh Khải Vinh, 2001); Vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường (Lê Văn

huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh” năm 2008.
- Trần Thị Phương Lan với đề tài luận văn thạc sỹ khoa học giáo dục “Một số
giải pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh các trường trung học cơ sở
thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá” năm 2010.
Nhìn chung các công trình nói trên đã phân tích, đánh giá về công tác quản lý
giáo dục đạo đức cho học sinh trong nhà trường và đưa ra những giải pháp để nâng cao
hiệu quả, chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh, tuy nhiên, chưa có tác giả nào
nghiên cứu vấn đề GDĐĐ cũng như các giải pháp quản lý công tác GDĐĐ cho HS các
trường THPT huyện Hoằng hóa, tỉnh Thanh hóa. Do có những vấn đề còn để ngỏ như
trên nên chúng tôi đã chọn thực hiện đề tài "Một số giải pháp quản lý công tác giáo
dục đạo đức cho học sinh các trường Trung học phổ thông huyện Hoằng hóa, tỉnh
Thanh hóa" và cho thấy sự lựa chọn đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là có cơ sở.


12

1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Đạo đức, giáo dục và giáo dục đạo đức
1.2.1.1. Đạo đức
Để tồn tại và phát triển, con người phải hoạt động và tham gia các mối quan hệ
liên nhân cách. Trong quá trình thực hiện mối quan hệ ấy, nếu con người có cách giao
tiếp, ứng xử phù hợp với lợi ích chung của mọi người, của cộng đồng xã hội (XH) thì
con người ấy được đánh giá là có đạo đức. Ngược lại, cá nhân nào có thái độ, hành vi
không đứng đắn làm tổn hại tới lợi ích của người khác, của cộng đồng và bị XH lên
án, chê trách thì cá nhân đó bị coi là người thiếu đạo đức. Vậy đạo đức là gì?
- Theo Từ điển Tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội) thì “Đạo đức là những tiêu
chuẩn, những nguyên tắc quy định hành vi quan hệ của con người đối với nhau và đối
với xã hội. Đạo đức là những phẩm chất tốt đẹp của con người theo những tiêu chuẩn
đạo đức của một giai cấp nhất định” [46, 211].
- Theo học thuyết Mác - Lênin: “Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội có

* Chức năng điều chỉnh hành vi đạo đức: Sự điều chỉnh hành vi ĐĐ làm cho cá
nhân và XH cùng tồn tại và phát triển, đảm bảo quan hệ lợi ích cá nhân và cộng đồng.
Chức năng này thể hiện bằng hai hình thức chủ yếu. Trước hết là bản thân chủ thể ĐĐ
phải tự giác điều chỉnh hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực ĐĐXH. Thứ hai
là tập thể cần tạo ra dư luận để khen ngợi, khuyến khích, đánh giá hoặc phê phán
những biểu hiện cụ thể của hành vi ĐĐ trên cơ sở những chuẩn mực giá trị ĐĐ. Đây là
chức năng XH cơ bản, hết sức quan trọng của ĐĐ: “Mục đích điều chỉnh của đạo đức
nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển xã hội bằng việc tạo nên sự hài hoà quan hệ lợi
ích cộng đồng và cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng)” [29,41].
1.2.1.2. Giáo dục
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, giáo dục là một hình thái ý thức xã
hội, giáo dục tồn tại, vận động, phát triển theo sự tồn tại vận động và phát triển của xã
hội. Là một hiện tượng xã hội, giáo dục chịu sự chi phối và quy định bởi nhiều lĩnh
vực khác nhau của đời sống xã hội. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục và sự hoàn
thiện về chất lượng giáo dục là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của xã hội, của nền
văn minh nhân loại.
Giáo dục được hiểu theo nhiều cách tiếp cận và nhiều cấp độ khác nhau:
- Về bản chất: Giáo dục được hiểu là quá trình truyền thụ và lĩnh hội kinh
nghiệm lịch sử xã hội giữa các thế hệ.


15

- Về hoạt động: Giáo dục được hiểu là quá trình tác động của xã hội và của nhà
giáo dục đến các đối tượng giáo dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách
theo yêu cầu của xã hội.
- Về mặt phạm vi, giáo dục được hiểu ở nhiều cấp độ khác nhau:
+ Ở cấp độ rộng nhất: Giáo dục là quá trình hình thành nhân cách dưới ảnh
hưởng của tất cả các tác động (tích cực, tiêu cực, khách quan, chủ quan…). Đây cũng
chính là quá trình xã hội hoá con người.

xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân, với cộng đồng xã hội,
với lao động, với tự nhiên…
Bản chất của GDĐĐ là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể giáo dục và
yếu tố tự giáo dục của HS, giúp HS chuyển những chuẩn mực, quy tắc, nguyên tắc đạo
đức… từ bên ngoài xã hội vào bên trong thành cái của riêng mình mà mục tiêu cuối
cùng là hành vi đạo đức phù hợp với những yêu cầu của các chuẩn mực xã hội. GDĐĐ
không chỉ dừng lại ở việc truyền thụ những khái niệm, những tri thức đạo đức, mà
quan trọng hơn hết là kết quả giáo dục phải được thể hiện qua tình cảm, niềm tin, hành
động thực tế của HS.
Như vậy, GDĐĐ là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của
nhà giáo dục và yếu tố tự giáo dục của người học để trang bị cho HS tri thức - ý thức
đạo đức, niềm tin và tình cảm đạo đức và quan trọng nhất là hình thành ở người học
hành vi, thói quen đạo đức phù hợp với các chuẩn mực xã hội.
1.2.2. Quản lí, quản lí giáo dục và quản lí giáo dục đạo đức
1.2.2.1. Quản lí
Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến
khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của
con người trong các quá trình sản xuất, XH để đạt được mục đích đã định.
C. Mác đã lột tả bản chất quản lý là: “Nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những
công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của
toàn bộ cơ thể sản xuất, khác với sự vận động của các bộ phận riêng lẻ của nó. Một
người chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần người chỉ
huy”[30, 342]. Như vậy theo C. Mác: Quản lý là loại lao động sẽ điều khiển mọi quá
trình lao động phát triển XH.


17

Các nhà lý luận quốc tế như Frederich Wiliam Taylor (Mỹ), Henry Fayol
(Pháp); Max Weber (Đức)... đều khẳng định quản lý là khoa học, đồng thời là nghệ


Kế hoạch

TTQL

Kiểm tra

Tổ chức

Chỉ đạo
Biểu thị mối liên hệ và tác động trực tiếp
Biểu thị mối liên hệ ngược hoặc thông tin phản hồi trong quá
trình quản lý.
1.2.2.2. Quản lí giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận trong quản lý nhà nước XHCN Việt Nam. Vì
vậy quản lý giáo dục mặc dù có những đặc điểm riêng biệt, song cũng chịu sự chi phối
bởi mục tiêu quản lý nhà nước XHCN.
* Về nội dung khái niệm quản lý giáo dục có nhiều cách hiểu khác nhau:
Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp các lực
lượng XH nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH.
Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ
giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Tuy nhiên, trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ
trẻ. Cho nên, quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân,
các trường trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt
động điều hành, phối hợp các lực lượng XH nhằm thúc đẩy mạnh công tác đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu phát triển XH” [1, 4]. Theo tác giả Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo


19



20

Như vậy, nghĩa chung nhất của giải pháp là cách làm, thực hiện một công việc
nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra.
1.2.3.2. Giải pháp quản lí công tác giáo dục đạo đức
Giải pháp quản lý công tác GDĐĐ là cách làm, cách hành động cụ thể để nâng
cao hiệu quả GDĐĐ cho học sinh.
1.3. Công tác quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh trung
học phổ thông
1.3.1. Mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục đạo
đức cho học sinh trung học phổ thông
1.3.1.1. Mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
* Kiến thức:
- Biết được biểu hiện và ý nghĩa của một số giá trị đạo đức cơ bản, phù hợp với
lứa tuổi.
- Biết được nội dung cơ bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
- Có những hiểu biết sơ bộ về tổ chức bộ máy nhà nước CHXHCN Vịêt Nam về
trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm thực hiện các quyền của công dân.
- Hiểu những yêu cầu về đạo đức và ý thức tuân thủ pháp lụât trong đời sống
hàng ngày.
* Kỹ năng
- Biết sống và ứng xử theo các giá trị đạo đức đã học.
- Biết ứng xử giao tiếp một cách có văn hoá.
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân phù hợp với lứa tuổi.
* Thái độ
- Yêu quê hương, đất nước Việt Nam, biết tự hào, có ý thức giữ gìn, phát huy
các truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Tôn trọng đất nước, con người và các nền văn

mực và các giá trị ĐĐ xã hội chủ nghĩa. Biến các giá trị đó thành ý thức tình cảm hành
vi, thói quen và cách ứng xử trong đời sống hàng ngày.
+ Giúp học sinh phát triển nhu cầu đạo đức cá nhân, hình thành và phát triển ý
thức ĐĐ, rèn luyện ý chí, hành vi, thói quen và cách ứng xử ĐĐ. Phát triển các giá trị
ĐĐ cá nhân theo những định hướng giá trị mang tính đặc thù dân tộc và thời đại.


22

Nhiệm vụ của quá trình GDĐĐ này không những định hướng cho các hoạt
động GDĐĐ mà còn định hướng cho hoạt động dạy học nói chung, dạy môn giáo dục
công dân nói riêng.
1.3.1.3. Nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ thông
Nội dung GDĐĐ cho học sinh THPT bao gồm những chuẩn mực sau:
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện nhận thức chính trị, tư tưởng, có lý tưởng
xã hội chủ nghĩa, yêu quê hương, đất nước, tự cường, tự hào dân tộc, tin tưởng vào
Đảng và Nhà nước.
- Nhóm chuẩn mực hướng vào sự tự hoàn thiện bản thân như: tự trọng, tự tin, tự
lập, giản dị, tiết kiệm, trung thành, siêng năng, hướng thiện, biết kiềm chế, biết hối
hận.
- Nhóm chuẩn mực đạo đức thể hiện quan hệ với công việc đó là: Trách nhiệm
cao, có lương tâm, tôn trọng pháp luật, lẽ phải, dũng cảm, liêm khiết.
- Nhóm chuẩn mực liên quan đến xây dựng môi trường sống (môi trường tự
nhiên, môi trường văn hoá, xã hội) như: xây dựng hạnh phúc gia đình, giữ gìn bảo vệ
tài nguyên, xây dựng xã hội dân chủ, bình đẳng...; đồng thời có ý thức chống lại những
hành vi gây tác hại đến con người, môi trường sống, bảo vệ hoà bình, bảo vệ phát huy
truyền thống di sản văn hoá của dân tộc và nhân loại.
Ngày nay, trong nội dung GDĐĐ cho HS THPT có thêm một số chuẩn mực
mới như tính tích cực xã hội, quan tâm đến thời sự, sống có mục đích, có tinh thần hợp
tác với bạn bè, với người khác…

nhìn chung có thể chia làm 2 loại:
+ GDĐĐ thông qua các môn học, đặc biệt là môn Giáo dục công dân nhằm
giúp các em có nhận thức đúng đắn về một số giá trị đạo đức cơ bản, về nội dung cơ
bản của một số quyền và nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, về
tổ chức bộ máy nhà nước XHCN Việt Nam, về trách nhiệm của Nhà nước trong việc
bảo đảm thực hiện các quyền của công dân.
+ GDĐĐ thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: giúp củng cố, mở
rộng và khơi sâu các hiểu biết về chuẩn mực đạo đức, hình thành những kinh nghiệm
đạo đức, rèn luyện kỹ xảo và thói quen đạo đức thông qua nhiều hình thức sinh hoạt đa
dạng: như hái hoa dân chủ; hội diễn văn nghệ; thi làm báo tường; thi kể chuyện; trò
chơi …


24

1.3.2. Mục tiêu, nội dung quản lí công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
trung học phổ thông
1.3.2.1. Mục tiêu quản lí công tác giáo dục đạo đức cho học sinh trung học phổ
thông
Mục tiêu của quản lý công tác GDĐĐ cho HS là làm cho quá trình GDĐĐ vận
hành đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng GDĐĐ. Mục tiêu quản lý công tác
GDĐĐ bao gồm:
* Về nhận thức: Giúp cho mọi người có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng
của hoạt động quản lý GDĐĐ, nắm vững quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phát triển con người toàn diện hay nói cách khác: người
quản lý phải có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục để mọi người… nhận thức đúng
đắn về vai trò và tầm quan trọng của đạo đức và GDĐĐ cho thế hệ trẻ nói chung và
học sinh THPT nói riêng.
* Về thái độ: Giúp cho mọi người biết ủng hộ những việc làm đúng, đấu tranh
với những việc làm trái pháp luật và trái với truyền thống lễ giáo, đạo đức dân tộc Việt

* Giáo viên chủ nhiệm.
* Đại diện Hội cha mẹ học sinh.
- Triển khai chỉ đạo thực hiện kế hoạch đã đề ra, thường xuyên kiểm tra, đánh
giá, khen thưởng, trách phạt kịp thời nhằm động viên các lực lượng tham gia quản lý
và tổ chức GDĐĐ
* Quản lý nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
Lãnh đạo nhà trường phải xác định rõ nội dung GDĐĐ cho học sinh làm cơ sở
cho các bộ phận xác định được nội dung công tác GDĐĐ của bộ phận mình.
Ngoài việc xây dựng nội dung GDĐĐ thống nhất trong nhà trường, Hiệu
trưởng thông qua các Phó Hiệu trưởng, các tổ trưởng xây dựng chương trình GDĐĐ
của nhà trường bao gồm: Chương trình GDĐĐ thông qua hoạt động giảng dạy, thông
qua hoạt động quản lý HS, thông qua HĐGD NGLL.. Trên cơ sở đó Hiệu trưởng phải
yêu cầu các tổ bộ môn lập chương trình GDĐĐ, nêu rõ hình thức và biện pháp đạo
đức, thể hiện rõ sự phân công cho từng cá nhân đối với từng nội dung của chương
trình.
* Quản lý hình thức, phương tiện trong giáo dục đạo đức



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status