DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
CN – TTCN
Công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp
CPTG
Chi phí trung gian
GTNC
Giá trị ngày công
GTSX
Giá trị sản xuất
HQĐV
Hiệu quả đồng vốn
HĐND
Hội đồng nhân dân
KHKT
Khoa học kỹ thuật
Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
2
DANH MỤC BẢNG
3
LỜI MỞ ĐẦU
1
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là sản phẩm của tự nhiên mà tạo hóa đã ban tặng cho con người, trải
qua hàng nghìn năm với những biến động của thiên nhiên, của lịch sử xã hội loài
người, đất đã trở thành tài nguyên vô cùng quý giá. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc
biệt, là nơi tạo ra của cải vật chất, lương thực thực phẩm phục vụ cho cuộc sống của
con người ngoài ra còn là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn
phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc
phòng, là tài sản quan trọng của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của
con người và vi sinh vật trên trái đất.
Trong nông nghiệp, đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thay thế. Để giải
quyết nhu cầu lương thực của toàn thế giới là một nhiệm vụ khó khăn của nền nông
nghiệp hiện tại và tương lai. Vì vậy, tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp
lý có hiệu quả theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn
nông nghiệp, thiết lập các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp.
Khai thác tiềm năng đất đai sao cho đạt hiệu quả cao nhất là việc làm hết sức
quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản xuất nông nghiệp cũng
như sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Cần phải đánh giá thực trạng hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế, từ
đó làm cơ sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp , thiết lập các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Huyện Yên Mỹ là một huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Hưng Yên với tổng diện
tích tự nhiên theo số liệu thống kê đất đai năm 2015 là 9241,31 ha, chiếm 9,93 %
tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Hưng Yên, diện tích đất nông nghiệp của huyện
năm 2015 là 6037,68 ha, chiếm 65,33 % so với tổng diện tích tự nhiên của huyện.
Là một huyện thuần nông, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong sự
phát triển kinh tế xã hội của huyện. Trong những năm gần đây, kinh tế nông nghiệp,
nông thôn của Yên Mỹ tuy có nhiều bước phát triển mới xong nhìn chung vẫn còn
một số bất cập, năng suất lao động và hiệu quả kinh tế chưa cao. Thêm nữa cùng
với sức ép của quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và sự gia tăng dân số thì mục
5
tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết cho sự phát triển
nông nghiệp bền vững.
Từ thực tế cũng như nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của vấn đề đồng
thời dưới sự phân công của khoa Quản lý đất đai cùng sự quan tâm của cô Võ Diệu
Linh, tôi tiến hành nghiên cứu đè tài : Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp trên địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên".
2.Mục đích, yêu cầu
2.1 Mục đích
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội.
và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thường
xuyên và cơ bản.
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm về đất.
Khái niệm đầu tiên của Nhà bác học người Nga Docutraiep (1846-1903) người đặt
nền móng đầu tiên cho khoa học đất cho rằng: “Đất là một vật thể tự nhiên cấu tạo
độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động của 5 yếu tố hình thành đất đó là: đá
mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian”. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập
đến khả năng sử dụng đất và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi
trường xung quanh. Do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước
của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của cong người để hoàn chỉnh khái niệm
về đất nêu trên. Ngoài ra, còn một số học giả khác cũng có những khái niệm về đất
như sau: “Đất là lớp mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm của cây”
(Nhà nông học người Anh V.R William), “Đất được xem như một thể sống, nó luôn
vận động, biến đổi và phát triển” [11].
Những năm gần đây trên những tạp chí quốc tế đã xuất hiện một cụm từ mới
“land husbandry” và được hiểu là chúng ta phải nuôi dưỡng đất. Đất là một vật thể
sống cũng tuân thủ theo những quy luật sống, phát sinh, phát triển, thoái hoá và già
cỗi. Tùy thuộc vào thái độ ứng xử của con người đối với đất mà đất có thể trở nên
phì nhiêu hơn, cho năng suất cây trồng cao hơn hay ngược lại.
7
Trong đánh giá đất theo FAO, đất đai được nhìn nhận là một yếu tố sinh thái
(FAO, 1976) có thể hiểu rộng ra rằng: đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học
và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng
sử dụng đất, các thuộc tính đó bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình, địa mạo thổ
nhưỡng, thực vật, thảm thực vật tự nhiên, cỏ dại trên đồng ruộng, động vật tự nhiên
và những biến đổi của đất do hoạt động của con người [5].
Trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất, đất đai được nhìn nhận là một nhân
nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất nông nghiệp người ta nói đất sử
dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp
đất đai được sử dụng vào mục đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó,
đất đai được sử dụng chủ yếu cho hoạt động sản xuất nông nghiệp mới được coi là
đất nông nghiệp, nếu không sẽ là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục
đích nào là chính)
Tuy nhiên để sử dụng đầy đủ hợp lý ruộng đất, trên thực tế người ta coi đất đai
có thể tham gia vào hoạt đọng sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu tư lớn
nào cả. Như vậy có thể nói: đất nông nghiệp (ký hiệu NNP) là đất sử dụng vào mục
đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy
sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm: đất
trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; đất trồng
cây lâu năm; đất rừng sản xuất; Đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi
trồng thủy sản; đất làm muối; đất nông nghiệp khác [10].
1.1.2. Sử dụng đất và những nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng đất
1.1.2.1. Sử dụng đất là gì
Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên khác và môi trường. Căn cứ vào
quy luật phát triển kinh tế xã hội cùng với yêu cầu không ngừng ổn định và bền
vững về mặt sinh thái, quyết định phương hướng chung và mục tiêu sử dụng đất
hợp lý nhất là tài nguyên đất đai, phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới
hiệu ích sinh thái, kinh tế, xã hội cao nhất. Vì vậy, sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt
động kinh tế của nhân loại. Trong mỗi phương thức sản xuất nhất định, việc sử dụng
đất theo yêu cầu của sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất
9
đai. Với vai trò là nhân tố sản xuất, các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được
thể hiện ở các khía cạnh sau:
- Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử
chính là các yếu tố khí hậu. Chính vì thế, khí hậu là một trong những yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến sinh trưởng, năng suất và sản lượng cây trồng, ảnh hưởng đến
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Việt Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về vĩ độ
địa lý và địa hình nên khí hậu có khuynh hướng khác biệt nhau khá rõ nét theo từng
vùng. Miền bắc có nhiệt độ trung bình 22,2 - 23,5 0C, lượng mưa trung bình từ 1.500
- 2.400 mm, tổng số giờ nắng từ 1.650 - 1.750 giờ/năm. Trong khi đó, ở miền nam
khí hậu mang tính chất xích đạo, nhiệt độ trung bình 22,6 - 27,5 0C, lượng mưa trung
bình 1.400 - 2.400 mm, nắng trên 2.000 giờ/năm.
Khí hậu là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến việc phân bố các loại cây
trồng, cũng như thời vụ cây trồng trong sản xuất nông nghiệp. Nếu như ở trung du
và miền núi phía Bắc có thể trồng mận, hồng, đào, chuối, đậu côve, súp lơ xanh... ở
đồng bằng sông Hồng có thể trồng các loại rau vụ đông có nguồn gốc ôn đới... thì ở
đồng bằng sông Cửu Long có thể trồng cây đặc sản như sầu riêng, măng cụt... hay
miền Đông Nam bộ có thể trồng chôm chôm, trái bơ, và Tây Nguyên trồng cây
công nghiệp lâu năm cao su, cà phê, điều là những cây nhiệt đới điển hình.
Yếu tố khí hậu nhiều khi ảnh hưởng rõ nét đến hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp với các mức độ khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ, nhiệt
độ thấp vào vụ đông và thời kỳ đầu vụ xuân kèm theo ẩm ướt, mưa phùn, thiếu ánh
sáng làm hạn chế sinh trưởng và phát triển của cây trồng ưa nắng, ưa nhiệt nhưng
lại phù hợp cho cây trồng ưa lạnh có nguồn gốc ôn đới. Trời âm u thiếu ánh sáng
cũng là điều kiện cho sâu bệnh phát triển phá hại mùa màng.
•
Yếu tố đất trồng
Cùng với khí hậu, đất tạo nên môi trường sống của cây trồng. Đất trồng với
các đặc tính như loại đất, thành phần cơ giới, chế độ nước, độ phì, có vai trò quan
trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây trồng, ảnh hưởng đến
Yếu tố con người
Con người là nhân tố tác động trực tiếp tới đất và hưởng lợi từ đất. Khi dân
số còn thấp, trình độ và nhu cầu thấp, việc khai thác quỹ đất nông nghiệp còn ở mức
hạn chế, hiệu quả không cao nhưng sự bền vững trong sử dụng đất nông nghiệp
được đảm bảo. Ngược lại, ngày nay khi dân số tăng nhanh kéo theo sự gia tăng các
nhu cầu thì tài nguyên đất nông nghiệp bị khai thác nhiều, triệt để hơn nhằm đạt
năng suất và hiệu quả cao hơn. Vì vậy, quy luật sinh thái và tự nhiên bị xâm phạm,
tính bền vững tài nguyên đất kém hơn . Việc đảm bảo cân bằng giữa sử dụng và bảo
vệ đất trở thành vấn đề cấp thiết.
Đối với các hoạt động kinh tế nói chung, sản xuất nông nghiệp nói riêng, dân
số vừa là thị trường của sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, vừa là nguồn cung về lao
12
động cho sản xuất. Các hoạt động kinh tế sẽ không thể phát triển nếu không có thị
trường tiêu thụ các sản phẩm do chúng tạo ra. Đặc biệt, đối với một nền sản xuất
nông nghiệp hàng hoá thì điều này lại càng trở nên quan trọng.
Chất lượng nguồn lao động cũng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động
sản xuất nông nghiệp. Nếu người nông dân có kinh nghiệm, kỹ thuật, có ý thức
trong sản xuất thì việc sử dụng đất nông nghiệp sẽ đạt hiệu quả cao.
•
Yếu tố kinh tế
Đối với mỗi quốc gia, mức độ phát triển của nền kinh tế quốc dân có ảnh
hưởng lớn đến các hoạt động sản xuất nói chung và sử dụng đất nông nghiệp nói
riêng và ngược lại. Nếu sử dụng đất có hiệu quả sẽ góp phần thúc đẩy nền kinh tế
phát triển. Khi kinh tế phát triển là tiền đề cho quá trình sử dụng đất đạt được hiệu
quả cao hơn, thông qua việc đầu tư, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ cao, nâng
cao năng suất và chất lượng sản phẩm cây trồng.
đổi và bổ sung những chủ trương, chính sách về đất đai nhằm mục đích thúc đẩy sự
phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn. Luật đất đai sửa đổi (chính thức có hiệu
lực vào ngày 1/7/2013) đã thể chế hoá và nới rộng quyền của người sử dụng đất.
Đây là một chính sách khuyến khích người nông dân đầu tư vào sản xuất dài hạn,
thay đổi cơ cấu cây trồng nhằm phát triển sản xuất hàng hoá một cách có hiệu quả.
Mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng pháp luật công nhận quyền sử dụng lâu
dài đối với đất. Người sử dụng đất không chỉ được quyền sử dụng lâu dài mà còn
được quyền thừa kế những đầu tư trên đất. Điều đó đã trở thành động lực quan
trọng trong phát triển nông nghiệp. Nó làm cho người nông dân yên tâm đầu tư trên
đất, sử dụng đất nông nghiệp một cách chủ động và hiệu quả, phát huy được lợi thế
so sánh của từng vùng, từng miền. Thực tế cho thấy, chính sách về đất đai thông
thoáng sẽ là cơ sở để hình thành các phương thức sản xuất mới như thâm canh, tăng
vụ, nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác, đặc biệt là sử dụng để sản xuất cây
trồng có giá trị hàng hoá cao. Các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông nghiệp
cũng là cơ sở để phát triển hệ thống cây trồng, vật nuôi và khai thác đất một cách
đầy đủ và hợp lý, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để đầu tư thâm canh và tiến hành
tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp.
c. Nhóm yếu tố các biện pháp kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là tác động của con người vào đất đai, cây trồng
vật nuôi, nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình
thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Đây là những vấn đề thể hiện sự hiểu
14
biết về đối tượng sản xuất, về thời tiết, về điều kiện môi trường và thể hiện những
dự báo thông minh của người sản xuất. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn
chủng loại và cách sử dụng các đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh
vật nhằm đạt được các mục tiêu đề ra là cơ sở để phát triển sản xuất nông nghiệp
phát triển của con người, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất.
C.Mác đã nhấn mạnh lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ.
Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là
thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Trong sản
xuất nông nghiệp, lâm nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không
thể thay thế với những đặc điểm:
- Đất đai được coi là tư liệu sản xuất chủ yếu trong sản xuất nông lâm nghiệp
bởi vì nó vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất.
Đất đai là đối tượng bởi lẽ nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác
động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
- Đất đai là loại tư liệu sản xuất không thể thay thế vì đất đai là sản phẩm của
tự nhiên, nếu biết sử dụng hợp lý đúng cách sức sản xuất của đất đai ngày càng tăng
lên. Điều này đòi hỏi trong quá trình sử sụng đất phải đứng trên quan điểm đúng
đắn, hoạt động có ý nghĩa của con người.
- Đất đai là tài nguyên bị hạn chế về số lượng vì vậy cần phải tính toán kỹ để
khai thác có hiệu quả.
- Đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều giữa các vùng miền.
Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, thời tiết, khí hậu,
nước...) điều kiện kinh tế-xã hội (dân số, lao động, giao thông, thị trường...) và có
các chất lượng đất khác nhau. Do vậy việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc
xác định cơ cấu cây trồng vật nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế
cao trên cơ sở nắm chắc điều kiện của từng vùng lãnh thổ.
- Đất đai được coi là một loại tài sản, người chủ sử dụng đất có quyền nhất
định do pháp luật của mỗi nước quy định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích tụ và
chuyển hướng sử dụng đất từ đó phát huy được hiệu quả nếu biết sử dụng đầy đủ và
hợp lý.
16
quan trọng với mỗi quốc gia và vùng miền.
17
5
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các
sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị
thu hẹp do chuyển sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp ở nước
ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an
ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới
xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân
nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội , tận dụng được tối đa lợi thế so sánh
về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những
nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài
nguyên đất đai. Do đó đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ
và hợp lý”.
*Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững:
Theo FAO, Nông nghiệp bền vững bao gồm quản lý hiệu quả tài nguyên cho
nông nghiệp (đất đai, lao động...) để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của cong người,
đồng thời giữ gìn và cải thiện tài nguyên thiên nhiên , môi trường và bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên. Hệ thống nông nghiệp bền vững là hệ thống có hiệu quả kinh
tế, đáp ứng nhu cầu xã hội về an ninh lương thực, đồng thời giữ gìn và cải thiện tài
nguyên thiên nhiên và chất lượng của môi trường sống cho đời sau.
Hệ thống nông nghiệp bền vững là phải đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao về
ăn và mặc thích hợp cho hiệu quả kinh tế, môi trường và xã hội gắn với việc tăng
phúc lợi trên đầu người. Đáp ứng nhu cầu là một phần quan trọng, vì một phần sản
lượng nông nghiệp cần thiết phải được tăng trưởng trong nnhuwngx thập kỷ tới.
nông nghiệp theo quan điểm nông nghiệp bề vững.
Nông nghiệp bền vững là tiền đề và điều kiện cho định cư lâu dài. Một trong
những cơ sở quan trọng bậc nhất của nông nghiệp bền vững là thiết lập được các hệ
thống sử dụng đất hợp lý.
Phát triển nông nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện tại, vừa đảm
bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai. Một quan niệm khác cho rằng: Phát triển nông
nghiệp bền vững là quản lý và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm
bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cả cho hiện tại và mai sau. Để
19
phát triển nông nghiệp bền vững ở nước tâ cần nắm vững mục tiêu về tác dụng lâu
bền của từng mô hình, để duy trì và phát triển đa dạng sinh học.
Việc quản lý và sử dụng đất bền vững bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính
sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế-xã hội với các quan tâm về
môi trường để đồng thời:
- Duy trì nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất)
- Giảm rủi ro sản xuất (an toàn)
- Bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hóa đất, nước (bảo bệ)
- Có hiệu quả lâu dài 9 (bền vững)
- Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận).
1.2 Những vấn đề cơ bản về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1 Phân loại hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp tổ chức
sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc phục các
khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể còn gắn
sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn sản xuất
trong nước với thị trường quốc tế.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây
ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội”.
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan hệ này
là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số, nên dạng tổng quát của hệ thống
chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H=K-C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó:
+ H: Hiệu quả
21
+ K: Kết quả
+ C: Chi phí
+ 1, 0 là chỉ số thời gian (năm)
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 ha đất nông nghiệp
- Giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
- Chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử
dụng trong quá trình sản xuất.
- Giá trị gia tăng ( GTGT)
Giá trị gia tăng được tính theo công thức: GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả đồng vốn (H): H = GTGT/CPSX
+ Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG
GTGT/CPTG): Đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng
các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
sinh học biểu hiện qua thành phần loài.
Trong thực tế, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo
chiều hướng khác nhau. Cây trồng phát triển tốt khi phù hợp với đặc tính, tính chất
của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác động của các hoạt động sản
xuất, phương thức quản lý của con người, hệ thống cây trồng sẽ tạo nên những ảnh
hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được phân ra theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả
hoá học, hiệu quả vật lý và hiệu quả sinh học môi trường.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ sử dụng các chất hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng
phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất đảm bảo cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây
trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá
chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra.
23
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt
được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Theo Đỗ Nguyên Hải, (1999) chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong
quản lý sử dụng đất bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn.
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững.
+ Đánh giá quản lý đất đai.
+ Đánh giá hệ thống cây trồng.
+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và bảo
vệ cây trồng.
mục tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như: tăng năng suất cây trồng
vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhun cầu nông
sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu về bảo
vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.
+ Sử dụng đất phải đảm bảo cực tiểu hoá chi phí các yếu tố đầu vào, theo
nguyên tắc tiết kiệm khi cần sản xuất ra một lượng nông sản nhất định, hoặc thực
hiện cực đại hoá lượng nông sản khi có mọt lượng nhất định đất nông nghiệp và các
yếu tố đầu vào khác.
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có đặc thù riêng, trên 1 đơn vị
đất nông nghiệp nhất định có thể sản xuất sẽ đạt được kết quả cao nhất với chi phí
bỏ ra ít nhất và hạn chế ảnh hưởng môi trường. Đó là phản ánh kết quả quá trình
đầu tư sử dụng các nguồn lực thông qua đất, cây trồng, thực hiện quá trình sinh học
để tạo ra những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường xã hội với hiệu quả cao.
+ Tiêu chuẩn đảm bảo hợp tác trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, trong cung
cấp tư liệu sản xuất, xử lý chất thải có hiệu quả.
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những
người sống bằng nông nghiệp. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan
điểm sử dụng bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
25