Nghiên cứu đặc điểm phân bố và mức độ kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh mới nổi tại bệnh viện quân y 103 - Pdf 43

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Các bệnh nhiễm trùng luôn là vấn đề khó giải quyết của ngành y tế toàn
cầu ở mọi giai đoạn lịch sử. Một số vi sinh vật xuất hiện rất lâu trong lịch sử
và hiện tại vẫn không mất đi khả năng gây bệnh của nó. Một số khác mới xuất
hiện đã gây nên hàng triệu cái chết. Bên cạnh đó cũng có những vi sinh vật
trước kia không gây bệnh bây giờ lại trở nên gây bệnh, nó phát triển từ từ,
từng bước thay đổi mà con người không dễ nhận ra sự phát triển nguy hiểm
đó. Khoảng 20 năm trở lại đây, người ta nhắc nhiều đến một số vi khuẩn gây
NKBV như S. aureus; P. aeruginosa, Acinetobacter, một số Enterobacter.
Trong những vi khuẩn này S. aureus và P. aeruginosa là tác nhân gây bệnh
quan trọng đã được biết đến từ lâu và bây giờ vẫn là mối lo ngại lớn do khả
năng gây NKBV với sự kháng thuốc cao, các vi khuẩn còn lại trước kia ít thấy
phân lập được trong bệnh phẩm nhưng gần đây nổi lên như một mối đe dọa
với tất cả các bệnh viện về khả năng kháng thuốc của nó. Gần đây, một số
phòng xét nghiệm vi sinh đã công bố về sự xuất hiện ngày càng tăng của các
vi khuẩn gây bệnh mới nổi trong các bệnh phẩm của bệnh nhân như
Burkholderia, Achromonas, Aeromonas và Stenotrophomonas…[6, 25].
Trên thực tế, sự xuất hiện của các vi khuẩn gây bệnh mới nổi này chưa
được ngành y tế quan tâm đúng mức và đa số các bác sĩ lâm sàng chưa ý thức
được mức độ nguy hiểm của các vi khuẩn này và sự kháng thuốc của chúng.
Và ở một chừng mực nào đó chính các bác sĩ lâm sàng đã làm tăng tỷ lệ
nhiễm bệnh do các vi khuẩn này và sự kháng thuốc của nó. Đối với một số tác
nhân gây NKBV như Acinetobacter và Klebsiella đã được quan tâm nghiên
cứu trong những năm gần đây, tuy nhiên tại Việt Nam thì mới thấy một số
bệnh viện chú trọng đến vấn đề này.
Bệnh viện Quân Y 103, là một trong những bệnh viện lớn, với lưu
lượng bệnh nhân đông, trong những năm trở lại đây bắt đầu thấy nổi lên một



ngành y tế, gây ra những hậu quả nghiêm trọng về sức khoẻ và kinh tế cho
người bệnh, làm gia tăng tình trạng kháng thuốc kháng sinh trong bệnh viện,
tăng sản sinh các chủng vi khuẩn kháng thuốc, tăng chi phí điều trị.
Nguyên nhân chủ yếu gây NKBV là S. aureus, Enterococcus, họ vi
khuẩn đường ruột (E. coli, Klebsiella, E. cloacae), P. aeruginosa và A.
baumannii. Trước đây NKBV do S.aureus đứng hàng đầu nhưng hiện nay là
các vi khuẩn Gram âm [13]. Khoảng những năm 1990 đến 1996, ba chủng vi
khuẩn Gram dương là S. aureus, Staphylococcus có coagulase âm,
Enterococcus (34%) và bốn chủng vi khuẩn Gram âm Escherichia coli,
P.aeruginosa, Enterobacter spp và Klebsiella pneumoniae (32%) là căn
nguyên gây NKBV phổ biến nhất [60]. Những năm gần đây, sự xuất hiện của
một số vi khuẩn hiếm gặp gây NKBV như Burkholderia cepacia,
Stenotrophomonas và Achromobacter và sự kháng thuốc của nó đã được ghi
nhận tại châu Mỹ, châu Âu và châu Á [18, 21, 25]. Tại Việt Nam cũng có
những báo cáo đầu tiên về các vi khuẩn này [6]. Như vậy, các tác nhân gây
NKBV đã càng ngày càng đa dạng và phức tạp, đặc biệt là sự xuất hiện các vi
khuẩn mà trước kia được coi là không gây bệnh hoặc ít gây bệnh. Để góp


4
thêm vào bức tranh toàn cảnh về các vi khuẩn gây NKBV tại Việt Nam,
chúng tôi xin đề cập đến một số các vi khuẩn gây bệnh mới nổi tại bệnh viện
Quân y 103.
1.1. Các vi khuẩn gây bệnh mới nổi
Vi khuẩn gây bệnh mới nổi: là các vi khuẩn mà trước đây ít gặp trong
các bệnh phẩm lâm sàng hoặc gây bệnh với tần xuất thấp nhưng gần đây có sự
gia tăng liên tục về tần xuất phân lập.
Trong nghiên cứu của chúng tôi đề cập đến những vi khuẩn
Acinetobacter, Klebsiella, Burkholderia, Stenotrophomonas, Achromobacter
và Aeromonas là những vi khuẩn mà những năm 2012 trở về trước tại bệnh

Một số đặc điểm sinh học và khả năng gây bệnh của chủng vi khuẩn
này:
- Hình thể và tính chất bắt màu: Acinetobacter spp là các vi khuẩn
được tìm thấy phổ biến trong đất, nước và môi trường. Chúng là các cầu trực
khuẩn, bắt màu Gram âm, không di động, thường đứng ở dạng đôi hoặc chuỗi
dài ngắn khác nhau [16].
- Tính chất nuôi cấy: Acinetobacter là vi khuẩn hiếu khí tuyệt đối và
mọc dễ dàng trên các môi trường nuôi cấy thông thường ở nhiệt độ từ 20 đến
30oC. Đối với hầu hết các chủng, nhiệt độ tối ưu là 330- 35oC. Một số loài có
thể phát triển được ở nhiệt độ 41oC và 44oC và đây là một đặc điểm rất đặc
biệt. Vi khuẩn mọc dễ dàng trên môi trường thạch máu cừu hay Tryptic soy ở
nhiệt độ 37oC. Khuẩn lạc nhẵn, đôi khi hơi nhày, màu hơi xám trắng. Khuẩn
lạc của nhóm A. calcoaceticus và A. baumannii có đường kính từ 1,5-3 mm
sau khi nuôi cấy qua đêm. Khuẩn lạc của hầu hết các Acinetobacter khác nhỏ
và hơi trong hơn [16].
- Tính chất sinh vật hóa học: Các tính chất để xác định Acinetobacter là
cầu trực khuẩn Gram âm, sinh catalase, không sinh oxydase, indole âm,
nitrate âm. Các đặc điểm như vi khuẩn có hoặc không sinh acid từ D-glucose,
D-ribose, D-xylose và L-arabinose (sử dụng carbon theo hình thức oxy hóa)


6
đã được sử dụng trong xác định sớm các chủng trước đây gọi là biến chủng
anitratus hoặc biến chủng lwoffii. Các tính chất này đã được sử dụng trong bộ
kit thương mại 20 test, API 20NE của hãng Bio-Merieux, Pháp [16].
- Sức đề kháng: Acinetobacter spp có mặt ở nhiều nơi trong tự nhiên
chúng có khả năng sống sót trong nhiều điều kiện khác nhau (khô ráo và ẩm
ướt, trong môi trường bệnh viện, trong thực phẩm…). Một số chủng có thể
tồn tại hàng năm trong môi trường bệnh viện. Tuy nhiên những chủng phân
lập được ở những nơi khô ráo chịu đựng điều kiện thiếu nước tốt hơn các

của viêm phổi do Acinetobacter từ 30-75%, cao nhất ở bệnh nhân thở máy.
Nhiễm khuẩn huyết do Acinetobacter đứng thứ hai sau viêm phổi và tiên
lượng phụ thuộc nhiều vào bệnh nền của bệnh nhân. Có một số trường hợp
bệnh nhân bị viêm màng não, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng mô mềm, viêm
màng bụng, nhiễm trùng vết thương sau phẫu thuật. Các loài Acinetobacter
còn có vai trò quan trọng trong các nhiễm trùng ở bệnh nhân bỏng [16].
Acinetobacter với các đặc điểm sinh học và độc lực nêu trên đã gây ra
nhiều bệnh cảnh lâm sàng khác nhau. Trước đây, bệnh do loài vi khuẩn này
gây ra tại các bệnh viện rải rác với số lượng không nhiều do đó không thu hút
được sự quan tâm của các nhà lâm sàng. Tuy nhiên, gần đây một số báo cáo
cho thấy có các vụ dịch bùng phát loài vi khuẩn này trong một số trung tâm y
tế, bệnh viện. Điều đáng lo ngại nhất là các vụ dịch này đều liên quan đến các
chủng kháng thuốc. Năm 2002, Brazil công bố một ổ dịch A. baumannii gây
nhiễm trùng huyết tại một đơn vị điều trị tích cực cho trẻ sơ sinh. Trước thời
điểm nghiên cứu, không có trường hợp nhiễm trùng do A. baumannii được
ghi nhận tại đây, nhưng từ tháng 5/2001 đến 3/2002 đã bùng phát 2 chủng A.
baumannii kháng thuốc ở 11 trẻ sơ sinh và 3 trong số đó đã chết [59]. Tại Hàn
Quốc, trước tháng 10/2007 số lượng Acinetobacter phân lập được là dưới 2
trường hợp/ tháng nhưng trong khoảng thời gian từ tháng 10/2007 đến 7/2008
có tổng cộng 204 mẫu bệnh phẩm từ 57 bệnh nhân phân lập được chủng vi
khuẩn kháng thuốc này với tỷ lệ tử vong lên đến 9,9% [26]. Tại Italy công bố


8
sự bùng phát Acinetobacter kháng thuốc vào tháng 6/2012 [32]. Như vậy, khả
năng gây bệnh cùng với tính đa kháng kháng sinh của Acinetobacter ngày
càng có vai trò quan trọng trong lâm sàng.
1.1.2. Burkholderia
Burkholderia là một chi thuộc họ Pseudomonadaceae, chi này được
nhà vi khuẩn học người Nhật, Yabuuchi, đề nghị chuyển bảy loài trong phân

56

61

65

45

Cũng tại thời điểm 1994, một vụ dịch lớn về Burkholderia gây NKBV
đã được công bố với 70 trường hợp tại một trung tâm điều trị tích cực Mỹ


9
[48]. Một trung tâm điều trị bệnh nhân CF của Đan Mạch đã chỉ ra cuối
những năm 1970, bệnh nhân đầu tiên nhiễm B. cepacia đã được xác định. Sau
đó có thêm vài trường hợp đã được ghi nhận cho đến năm 1990. Sau năm
1990, tỷ lệ mắc B. cepacia tăng do việc sử dụng rộng rãi kháng sinh để điều
trị P. aeruginosa. Từ năm 1993, tốc độ mắc là khá ổn định, khoảng 3 trường
hợp mỗi năm [47]. Nghiên cứu tại một bệnh viện thuộc trường đại học Thổ
Nhĩ Kỳ xác định được 39 trường hợp nhiễm Burkholderia từ 2003 đến 2007
[33]. Một bệnh viện ở Phnom Penh, Campuchia đã báo cáo về sự bùng phát
Burkholderia ở 8 bệnh nhân trong thời gian 1,5 tháng, năm 2013 [30]. Tại
Việt Nam, các nghiên cứu về vi khuẩn này là chưa nhiều, một báo cáo về sự
bùng phát loài vi khuẩn này tại bệnh viện Nhân dân Gia Định đã được ghi
nhận [6]. Như vậy, tỷ lệ mắc qua các nghiên cứu là không phải quá cao nhưng
cũng thấy được vi khuẩn này bắt đầu nổi lên với vai trò ngày càng quan trọng
trong lâm sàng.
Một số đặc điểm sinh học và khả năng gây bệnh của Burkholderia:
- Hình thể và tính chất bắt màu: Chi Burkholderia bao gồm các trực
khuẩn Gram âm, khi nhuộm bằng xanh Methylen hay Wayson vi khuẩn bắt

trò trung gian truyền bệnh do B. cepacia vẫn chưa rõ ràng. Và B.mallei là loại
ký sinh bắt buộc trên động vật [9].
- Khả năng gây bệnh: Trong chi Burkholderia thì vai trò gây bệnh trong
y học quan trọng nhất là B. pseudomallei hay còn gọi là trực khuẩn Whitmore,
có khả năng gây bệnh melioidosis. B. pseudomallei xâm nhập vào cơ thể qua
các vết thương hở trên da khi tiếp xúc với đất có chứa vi khuẩn, nhưng vi
khuẩn cũng có khả năng lây qua đường tiêu hóa và hô hấp do đó nó có khả
năng gây nhiễm khuẩn bệnh viện. Hiện nay B. cepacia được xem là một trong
những nguyên nhân gây nhiều vụ dịch nhiễm khuẩn bệnh viện và các vụ dịch
này đều được ghi nhận là có liên quan đến việc sử dụng thuốc kháng sinh, các
dịch tiêm truyền, ống thông rửa và các thiết bị theo dõi áp lực. Đặc biệt B.
cepacia có khả năng gây hội chứng cepacia trên các bệnh nhân bị bệnh xơ


11
nang (CF). Burkholderia trước kia chỉ được biết đến với vai trò gây bệnh
melioidosis tại các vùng Đông Nam Á, nhưng ngày nay B. cepacia bắt đầu
được quan tâm nhiều hơn với khả năng gây nhiễm khuẩn bệnh viện và kháng
lại nhiều loại kháng sinh [9].
1.1.3. Klebsiella
Chi Klebsiella thuộc bộ Klebsiellae, là thành viên của họ vi khuẩn
đường ruột Enterobacteriaceae do nhà vi sinh học người Đức - Edwin Klebs
tìm ra năm 1980. Chi Klebsiella gồm các loài: K. pneumoniae, K. oxytoca,
K. oaenae, K. panticola, K. onithicrocytica, K. rhinosclersmatis, K. terrigena,
K. pneumoniae là loài quan trọng thường gặp trong nhiễm khuẩn bệnh viện.
Klebsiella chủ yếu gây bệnh cơ hội ở cộng đồng hoặc trong bệnh viện – là
một trong những căn nguyên gây NKBV thường gặp. Nhiễm khuẩn do
Klebsiella spp trong cộng đồng thường liên quan tới những người miễn dịch
kém, gặp trong nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính, nhiễm khuẩn tiết niệu, nhiễm
khuẩn huyết… [5].

- Tính chất sinh vật hóa học: Klebsiella lên men nhiều loại đường,
thường có sinh hơi, oxidase(-), catalase (+), citrate (+), VP và indole có thể
(+) hoặc (-), ornithin decacboxylase (-), arginine decacboxylase (-), lysine
decacboxylase (+), urease (+), có thể làm lỏng gelatin, H2S (-) [5].
- Sức đề kháng: giống như các vi khuẩn đường ruột khác, chúng dễ bị
các hoá chất khử trùng diệt nhưng có khả năng tồn tại lâu ở ngoại cảnh (nước,
đất).
- Độc lực của vi khuẩn: Yếu tố độc lực chính của Klebsiella là nội độc
tố LPS, nó có thể được giải phóng riêng rẽ hoặc dạng phức hợp với
polysaccharide vỏ. Vỏ của vi khuẩn có tác dụng chống lại thực bào do có khả
năng ức chế sự opsonin hóa bởi các kháng thể đặc hiệu và bổ thể. Klebsiella
pneumoniae còn có khả năng sinh ra hai loại độc tố ruột (chịu nhiệt và không


13
chịu nhiệt) và bacteriocin có tác dụng ức chế một số vi khuẩn khác và cảm
ứng quá trình chết theo chương trình của các tế bào chủ [5].
- Dịch tễ học: Klebsiella có trong hệ vi khuẩn bình thường ở ruột người
trưởng thành, với số lượng nhỏ (dưới 102 vi khuẩn/1g phân), có thể gặp ở
đường hô hấp trên một số người. Klebsiella cũng là thành viên của hệ vi
khuẩn bình thường ở nhiều loài động vật và phân bố rộng rãi ngoài môi
trường. Nhờ có lớp vỏ dày nên Klebsiella có thể sóng trên da lâu hơn các vi
khuẩn đường ruột khác. Vi khuẩn có thể xâm nhập vào cơ thể bằng nhiều
đường khác nhau như qua dụng cụ phẫu thuật, ống dẫn lưu, ống thông tiểu,
qua thức ăn. Tay nhiễm khuẩn là phương tiện quan trọng trong lây truyền
Klebsiella [5].
- Khả năng gây bệnh: Klebsiella spp có thể gây tổn thương ở hầu hết
các cơ quan của cơ thể : viêm xoang ,viêm họng , viêm màng não, viêm phúc
mạc,... đáng chú ý là trẻ em có thể bị viêm ruột do loài vi khuẩn này. Nó là
căn nguyên quan trọng gây nhiễm khuẩn hô hấp, nhiễm khuẩn tiết niệu,

- Stenotrophomonas
Stenotrophomonas maltophilia lần đầu tiên được phân lập vào năm
1943 được xem như vi khuẩn Bookeri và sau đó được đặt tên là Pseudomonas
maltophilia. Những phân tích về rARN sau này đã xác định nó thuộc về chi
Xanthomonas. Chi này gồm các vi khuẩn sinh sắc tố vàng hoặc xanh và có
khả năng di động bằng một lông duy nhất ở một cực [22].
Stenotrophomonas là một trực khuẩn Gram âm, hiếu khí tuyệt đối.
Chúng là các vi khuẩn có catalase dương, oxydase chủ yếu là âm tính (khoảng
20% dương tính) [23]. Vi khuẩn thuộc chi này mọc tốt trên các môi trường
nuôi cấy thông thường, phát triển thích hợp ở nhiệt độ 350C, không mọc ở
nhiệt độ 40C và 410C [22].
Stenotrophomonas không phải là một tác nhân gây bệnh có độc lực cao
nhưng nó đã nổi lên như một tác nhân gây NKBV quan trọng với tỷ lệ tử
vong dao động 14 - 69% ở những bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết [22]. Do đó,


15
hiện nay Stenotrophomonas được coi là một tác nhân gây NKBV mới nổi.
Trong một giám sát được thực hiện ở khu vực châu Á- Thái Bình Dương,
châu Âu, Châu Mỹ Latin, Canada và Hoa Kỳ năm 1997-1999 thì
Stenotrophonas là vi khuẩn phân lập được thường xuyên đứng hàng thứ ba
trong các vi khuẩn Gram âm không lên men đường sau Pseudomonas
aeruginosa và Acinetobacter[40]. Stenotrophomonas thường gây bệnh trên
các bệnh nhân mắc các bệnh nhiễm trùng như: nhiễm trùng đường hô hấp,
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, nhiễm trùng đường mật, nhiễm trùng đường
tiết niệu, viêm màng não… Đặc biệt, nó là tác nhân gây bệnh quan trọng trên
các bệnh nhân ung thư nhất là người bị ung thư phổi tắc nghẽn [22].
- Achromobacter
Achromobacter xylosoxidans được phân lập bởi Yabuuchi và Ohyama
năm 1971 từ bệnh phẩm mủ tai của một bệnh nhân viêm tai giữa mạn tính.

không. Nhiễm trùng đường tiêu hóa điển hình xuất hiện sau khi ăn thực phẩm
hoặc uống nước bị nhiễm khuẩn, trường hợp nặng có biểu hiện giống lỵ trực
khuẩn. Aeromonas còn gây một số bệnh nhiễm trùng ngoài ruột nguy hiểm ở
người như: viêm màng não, bệnh phổi, nhiễm trùng huyết và nhiễm trùng vết
thương đặc biệt ở những bệnh nhân suy giảm miễn dịch [8, 19].
1.2. Sự kháng kháng sinh của vi khuẩn
Việc phát minh ra kháng sinh ở thế kỷ 20 đã đóng một vai trò quan
trọng trong việc khống chế các bệnh nhiễm trùng. Cùng với việc cải thiện
điều kiện vệ sinh, nhà ở, dinh dưỡng và chương trình tiêm chủng mở rộng đã
góp phần quan trọng làm giảm tỷ lệ tử vong của các bệnh nhiễm trùng và tuổi
thọ của con người đã được nâng cao. Cho đến nay nhiều thế hệ kháng sinh
khác nhau đã được nghiên cứu và chế tạo thành công đáp ứng kịp thời cho
công tác điều trị. Tuy nhiên hiện nay do sự gia tăng tỷ lệ các vi khuẩn kháng
kháng sinh trong bệnh viện và cộng đồng là một vấn đề quan trọng hàng đầu


17
trên thế giới cần được nghiên cứu và tìm ra các giải pháp phòng chống một
cách hiệu quả.
Trong tự nhiên phần lớn các vi khuẩn đều sở hữu riêng các gen kháng
kháng sinh. Điều này được quan sát thấy trên một số chủng Staphylococcus
đã đề kháng với penicillin ngay sau khi được đưa vào sử dụng năm 1946.
Dưới áp lực chọn lọc tự nhiên và sự đấu tranh sinh tồn đã giúp các loài vi
khuẩn có khả năng chống lại tác dụng của kháng sinh, do vậy sự đề kháng
kháng sinh của vi khuẩn thường xuất hiện rất nhanh ngay sau khi kháng sinh
được đưa vào sử dụng, ví dụ streptomycin được đưa vào sử dụng năm 1943
đến năm 1959 vi khuẩn đã lại kháng kháng sinh này. Tương tự các chủng
Shigella dysenteriae phân lập tại vụ dịch lỵ ở Nhật Bản năm 1953 đã kháng
đa kháng sinh bao gồm: chloramphenicol, tetracyclin, streptomycin và
sulfonamide. Hiện nay hầu hết các vi khuẩn gây bệnh đã kháng lại một hoặc

ngăn không cho kháng sinh xâm nhập vào bên trong tế bào [11, 20].
+ Kháng thuốc thu được:
Có rất nhiều cơ chế đã được vi khuẩn phát triển để kháng lại kháng sinh.
Các đề kháng thu được này liên quan đến sự thay đổi nhiễm sắc thể của vi
khuẩn đó hoặc do được truyền các gen kháng kháng sinh nằm trên các
plasmid và class I intergron cho vi khuẩn cùng và khác loài thông qua hình
thức biến nạp và tiếp hợp [11].
1.2.1.2. Cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn
Có rất nhiều cơ chế tham gia vào tình trạng kháng kháng sinh của vi
khuẩn bao gồm:
- Tạo ra enzym làm biến đổi hoặc phá hủy phân tử kháng sinh:
Enzym được tạo ra làm biến đổi hoặc phá hủy cấu trúc phân tử của
kháng sinh. Ví dụ với các enzym beta-lactamase có khả năng phá hủy
penicillin được báo cáo trước khi được đưa vào sử dụng vào đầu những năm
1940. Sau đó hàng loạt các enzym beta-lactamase có khả năng ức chế hoặc
phân hủy các kháng sinh mạnh như cephalosporin và carbapenem được phát


19
hiện. Hiện nay đã xác định được hơn 890 loại enzym kháng kháng sinh của vi
khuẩn, nhiều hơn số lượng các loại kháng sinh đã được sản xuất và phần lớn
các gen mã hóa các enzym này nằm trên các plasmid có thể truyền dễ dàng
trong quần thể vi khuẩn cùng và khác loài [11,49].
- Làm giảm tính thấm của màng nguyên tương:
Làm giảm mức độ thấm của kháng sinh qua thành tế bào vi khuẩn trong
trường hợp kháng tetracycline hoặc làm mất hệ thống vận chuyển qua màng
trong trường hợp kháng kháng sinh nhóm aminoglycosid [49]. Việc thâm
nhập của các kháng sinh nhóm beta-lactam được thực hiện qua các kênh vận
chuyển (porin), vi khuẩn biến đổi làm mất các kênh vận chuyển và làm hạn
chế sự tác động của nhóm kháng sinh này [49]. Cơ chế bơm đẩy (efflux

1.2.2.1. Đặc điểm kháng kháng sinh của Acinetobacter
Acinetobacter spp đề kháng với nhiều loại kháng sinh khác nhau. Kể từ
năm 1975 các chủng Acinetobacter spp ngày càng kháng lại nhiều kháng sinh.
Trong những báo cáo giám sát gần đây nhất, các chủng phân lập được trên
lâm sàng đã kháng nhiều loại kháng sinh như aminoglycosid, cephalosporin
thế hệ 3, fluoroquinolone, penicillin phổ rộng và các monobactam. Trong một
nghiên cứu tiến hành trên 100 khoa Hồi sức cấp cứu ở 5 nước châu Âu, tỷ lệ
kháng với ciprofloxacin, gentamicin, piperacillin và ceftazidime là hơn 50%
[16]. Ở các nước khác nhau thì kiểu cách đề kháng khác nhau tùy thuộc vào
các loài và sự khác biệt về sử dụng kháng sinh. Carbapenem là kháng sinh có
hiệu lực mạnh nhất trong một số báo cáo mới đây cũng cho thấy ngày càng có
nhiều chủng kháng lại với kháng sinh nhóm này, đặc biệt là imipenem và
meropenem. Trong một số vụ dịch, chỉ có sulbactam hoặc colistin là còn tác
dụng với A. baumannii. Các loài Acinetobacter khác A. baumannii như A.
lwoffii, A. johnsonii và A. junii thường ít liên quan đến NKBV và thường
nhạy cảm hơn với kháng sinh. Tuy nhiên, cũng có những bằng chứng cho
thấy một số chủng đã kháng lại nhiều loại kháng sinh. Henwood và cộng sự
năm 2002, đã tiến hành khảo sát ở Anh và phát hiện hơn 75% chủng
Acinetobacter kháng cefotaxime, ceftazidime và hơn 30% số chủng kháng lại
ciprofloxacin, gentamicin, piperacillin và piperacillin/tazobactam [38]. Kết
quả nghiên cứu 66 chủng A. baumannii kháng carbapenem gây NKBV ở khoa


21
điều trị tích cực tại một bệnh viện ở Brazil từ 2004 đến 2007 cho thấy, A.
baumannii đã kháng lại các kháng sinh TZP, CAZ, FEP, IPM, MEM, CN,
TOB, CIP và LEV; A. baumannii còn nhạy cảm với CT, TIC và AN [34].
Ở Việt Nam, những năm gần đây vấn đề kháng thuốc của
Acinetobacter tại một số cơ sở y tế lớn đã được tiến hành và chỉ ra rằng mức
độ kháng thuốc của chủng vi khuẩn này càng ngày càng tăng. Giám sát tại 10

sinh

β-lactamase

(carbapenemase, AmpC- β lactamase và các β-lactamase phổ rộng), thay thế
các kênh ở vách (protein màng ngoài gọi là porin), thay đổi ở các PBP
(Penicillin-binding protein), giảm hình thành các protein màng ngoài gây khó
khăn cho kháng sinh vào trong tế bào vi khuẩn (carbapenem). Acinetobacter
kháng quinolone thông qua cơ chế đột biến gen gyrA và parC. Tăng hoạt


22
động của hệ thống bơm ngược: AdeAbc các bơm đẩy. Acinetobacter kháng
lại các kháng sinh nhóm aminoglycoside bằng cách tạo các enzyme làm biến
đổi aminoglycoside. Acinetobacter còn chứa integron, transposion và các yếu
tố gen trên NST hoặc plasmid mang bộ gen có nhiều gen đa kháng kháng sinh
( ví dụ: bộ gen mã hóa sinh β-lactamase phổ rộng và metallo β-lactamase)
[35, 55].
1.2.2.2. Đặc điểm kháng kháng sinh của Burkholderia
B. cepacia có khả năng đề kháng nội sinh mạnh với nhiều loại thuốc
kháng sinh, nó kháng lại với các loại kháng sinh nhạy cảm với P.aeruginosa.
Hầu hết các chủng đều kháng với kháng sinh nhóm aminoglycoside,
polymycin, ticarcillin và azlocillin, trong khi có độ nhạy cảm khác nhau với
các kháng sinh như aztreonam, ciprofloxacin, tetracyclines và carbapenems
[9]. Cơ chế kháng thuốc của Burkholderia bao gồm các gen kháng thuốc, sự
tăng hoạt động của các bơm ngược đã được ghi nhận [56]. Tuy nhiên các
nghiên cứu về cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn này còn rất hạn chế.
Một số nghiên cứu về tính kháng thuốc của Burkholderia trên thế giới
như: tại một bệnh viện Thổ Nhĩ Kỳ đã cho thấy tỷ lệ kháng thuốc của vi
khuẩn này tương đối cao: tỷ lệ kháng kháng sinh nhóm cephalosporin và

quan tâm, đặc biệt là Klebsiella spp sinh ESBL và kháng carbapenem . Cụ thể
là có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Một loạt các công trình
nghiên cứu về các gen kháng thuốc của vi khuẩn này cũng được đưa ra. Tỷ lệ
kháng kháng sinh khác nhau trong các nghiên cứu: một trung tâm phẫu thuật
trong bốn năm đã ghi nhận có 280 ca nhiễm Klebsiella spp, trong đó kháng
cephalosporin thế hệ ba 61%, gentamicin 64% và fluoroquinolones 98%. 31%
kháng với trimethoprim-sulfamethoxazole và 99% còn nhạy cảm với colistin
[42]. Tại Nam Phi từ 2010 đến 2012 có 68,3% mẫu phân lập (2774) đều
ESBL dương, cho thấy sức đề kháng cao với cefotaxime, ceftazidime và
cefepime; 46,5% của tất cả các chủng kháng với ciprofloxacin và 33,1%


24
kháng piperacillin-tazobactam tuy nhiên, hầu hết các chủng (95,5%) là nhạy
cảm với các carbapenems thử nghiệm [50].
Ở Việt Nam, tỉ lệ kháng kháng sinh của các chủng Klebsiella rất khác
nhau giữa các bệnh viện tuy nhiên, nhìn chung, Klebsiella giảm nhạy cảm với
một số loại kháng sinh nhất định như cephalosporin thế hệ 3, (ceftazidime),
cotrimoxazole, ciprofloxacin và gentamicin. Một số kháng sinh vẫn còn hiệu
lực bao gồm carbapenem và β-lactam phối hợp với chất ức chế men βlactamase. Tỉ lệ kháng của Klebsiella với Imipenem thấp hơn 10% [2]. Theo
nghiên cứu tại khối sơ sinh Bệnh viện Nhi Đồng 1 về Klebsiella gây nhiễm
khuẩn huyết cho thấy vi khuẩn này đáp ứng kém với kháng sinh nhóm β –
lactam như: kháng ampicillin (98,1%), cefotaxim (76,5%) và kháng
gentamycin (83,5%). Kháng sinh còn nhạy là: amikacin (51,3%),
ciprofloxacin (68,8%), imipenem (98,9%)% và 100% meropenem [12]. Tại
BV Pasteur TP Hồ Chí Minh các chủng K. peumoniae phân lập được đã
kháng hầu hết với ampicillin (94,29%), SXT (79,31%), CN (62,86%), CAZ
(51,43%). Tỷ lệ kháng imipenem rất thấp 2,86% [1].
1.2.2.4. Đặc điểm kháng kháng sinh của Stenotrophomonas, Achromobacter
và Aeromonas




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status